Góp phần cung cấp giống có năng suất cao cho một số loài cây trồng rừng chủ lực
Hà Huy Thịnh
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
1. Rừng trồng và công tác giống trong sản xuất lâm nghiệp.
Chuyển từ khai thác rừng tự nhiên sang kinh doanh rừng trồng là xu hướng phát
triển tất yếu của sản xuất lâm nghiệp ở tất cả các nước, bao gồm cả những nước
đang phát triển của vùng nhiệt đới, của các nước trong khu vực và của Việt nam.
Theo ước tính của FAO, diện tích rừng trồng ở các nước nhiệt đới vào năm 1950
mới chỉ vào khoảng 1 triệu ha, vào đầu những năm 80 là 11,5 triệu ha, nhưng đến
những năm đầu của thập kỉ 90 thì diện tích rừng trồng ở các nước nhiệt đới đã là
44 triệu ha và có tốc độ tăng trưởng rất nhanh về diện tích.
Bảng 1. Tỷ trọng về diện tích và sản lượng gỗ của rừng trồng
tại một số nước (FAO 1995)
Nuớc
Diện tích rừng (triệu ha)
Tỷ trọng của rừng trồng
Rừng tự nhiên
Rừng trồng Về diện tích
(%)
Về lượng gỗ(%)Nuớc
Diện tích rừng (triệu ha)
Tỷ trọng của rừng trồng
khoảng 60% tăng thu về năng suất của rừng trồng là do nhân tố giống quyết định.
Song do cây rừng có đời sống dài ngày, Một sai lầm hay thành công trong chọn
giống cây rừng phải sau 5-7 năm, thậm chí sau hàng chục năm mới thấy. Vì thế,
công tác giống thường phải đi trước các chương trình trồng rừng một bước. Mặt
khác, muốn đáp ứng được nhu cầu về giống có chất lượng cao cho trồng rừng,
chúng ta cần phải xác định được cơ cấu các loài cây trồng rừng chủ lực để lập kế
hoạch nghiên cứu và sản xuất giống.
2. Lựa chọn loài cây chủ lực nào cho trồng rừng ở Việt Nam?
Các loài cây trồng như cao su, cà phê, chè, dừa và cọ dừa là những ví dụ điển hình
về các loài cây trồng chủ lực được đầu tư nghiên cứu hết sức đồng bộ từ khâu
chọn tạo giống, gây trồng, chế biến, thị trường ; chúng đã và đang mang lại hiệu
quả kinh tế cao cho các nước nhiệt đới đang phát triển.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, các giống Bạch đàn lai ở Bra xin, Công gô; Thông
radiata ở Uc và New Zealand có thể được xem là những mẫu mực về sự kết hợp
giữa công tác giống với trồng rừng, chế biến và tiêu thụ. Năng suất rừng trồng của
các loài này có thể đạt từ 20 – 40 m3/ha/năm, vượt gấp 10 – 20 lần so với tăng
trưởng bình quân hàng năm của các rừng tự nhiên.
Tại các nước có nền lâm nghiệp phát triển, số lượng các loài cây trồng rừng chính
thường rất ít, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư nghiên cứu một cách đồng bộ
từ khâu cải thiện giống, lâm sinh đến khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Tại
một số nước trong khu vực và một số nhiệt đới khác, nơi mà tổ thành các loài cây
rừng cũng phong phú và đa dạng như ở nước ta, cũng chỉ có một số ít các loài cây
được sử dụng để trồng rừng trên diện rộng.
Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Nên lựa chọn những loài cây nào làm cây trồng
rừng chủ lực? Giải quyết vấn đề giống có chất lượng cao cho trồng rừng bằng
cách nào?
Theo thống kê của FAO (1993), nhóm các loài cây trồng rừng chủ lực tại các nước
ở vùng nhiệt đới là Bạch đàn, Thông, Keo và Teak, riêng ở các nước nhiệt đới của
vùng châu á-Thái bình dương thì nhóm các loài cây trồng chủ lực theo thứ từ ưu
tiên là các loài Bạch đàn, Keo, Teak và Thông (bảng 2).
Châu á-TBD 5,20 1,20 3,15 2,03 20,62 32,2
Tổng cộng
10,06 4,59 3,40 2,19 23,59 43,8
Tỷ lệ (%)
23% 10,5% 7,7% 5% 53,8% 100%
Căn cứ vào các điều kiện tự nhiên (đặc biệt là đất đai và khí hậu), kinh tế-xã hội
và nhu cầu của thị trường, các loài cây trồng rừng chủ lực ở Việt Nam cần phải
đáp ứng được các tiêu chuẩn sau đây:
· Mọc nhanh, có năng suất cao với chu kì kinh doanh ngắn
· Thích ứng với các điều kiện môi trường của Việt Nam và có thể gây trồng trên
diện rộng
· Phù hợp với nhu cầu của thị trường (gỗ nguyên liệu làm giấy, MDF, trụ mỏ )
· Dễ gây trồng và ít bị sâu bệnh.
Dựa vào các tiêu chí nêu trên và kinh nghiệm của một số nước nhiệt đới khác, các
loài cây trồng rừng chủ lực của nước ta trong tương lai có thể sẽ bao gồm nhóm
các loài cây theo thứ tự ưu tiên sau đây:
1. Các loài Keo bao gồm Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm và các giống lai
khác loài giữa các loài trên.
2. Bạch đàn bao gồm Bạch đàn urô, Bạch đàn trắng caman, Bạch đàn trắng têrê,
Bạch đàn pellita và các giống bạch đàn lai
3. Các loài Tràm gỗ (M. leucadendra) và Tràm gió (M. cajuputi)
4. Một số loài Thông: Thông caribê, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa và Thông ba
lá.
5. Một số loài Tre – Trúc.
Trong số đó, các loài Keo, Bạch đàn và Tràm là những cây lá rộng, mọc nhanh, có
chu kì kinh doanh ngắn và được đầu tư nghiên cứu tương đối toàn diện từ khâu
chọn tạo giống, nhân giống đến gây trồng Sản phẩm của các loài này cũng rất dễ
tiêu thụ nên cần phải được quan tâm phát triển trong những năm tới.
3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống đối với các loài cây trồng rừng chủ
4. Các giống mới đã được công nhận của một số loài cây trồng rừng kinh tế
chủ lực.
Nghiên cứu cải thiện giống cây rừng là một quá trình thường xuyên liên tục, bao
gồm rất nhiều bước và trải qua nhiều thế hệ và thông qua đó, năng suất và chất
lượng di truyền của giống ngày càng được nâng cao. Song do yêu cầu của thực
tiễn trồng rừng nên bên cạnh việc tiếp tục tiến hành các nghiên cứu chọn tạo giống
theo định hướng chiến lược đã được vạch sẵn, một trong những nhiệm vụ chính
của các tổ chức nghiên cứu chọn tạo giống là phải chuyển giao kịp thời các giống
mới có triển vọng, có năng suất và chất lượng cao cho sản xuất sau từng mỗi một
giai đoạn.
Từ các kết quả nghiên cứu về khảo nghiệm loài và xuất xứ, khảo nghiệm hậu thế
và khảo nghiệm dòng vô tính… đồng thời với việc xây dựng các mô hình rừng
rừng có năng suất tại các vùng sinh thái khác nhau, cho đến nay đã có hơn 40
giống của một số loài Keo, Bạch đàn, Thông và Tràm đã được Hội đồng Khoa học
của Bộ NN&PTNT công nhận là giống tiến bộ kĩ thuật, trong đó có 3 giống Keo
lai được công nhận là giống quốc gia để gây trồng trên diện rộng.
Mặc dù còn nhiều vấn đề còn cần phải giải quyết, phải tiếp tục nghiên cứu và khảo
nghiệm cho một số vùng sinh thái khác, song hiện tại, các giống mới này cũng đã
và đang được nhiều cơ sở sản xuất lâm nghiệp trong cả nước sử dụng làm vật liệu
trồng rừng, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng ở nước ta.
5. Một số tồn tại.
Do nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau nên bên cạnh những kết quả tích cực
nêu trên, công tác nghiên cứu, sản xuất và cung ứng giống có chất lượng cao cho
trồng rừng kinh tế còn một số mặt tồn tại cần phải được khắc phục. Cụ thể là:
· Tỷ lệ giống mới có năng suất cao còn chiếm tỉ lệ rất thấp trong trồng rừng.
· Một số giống mới rất có triển vọng chưa được chuyển giao một cách trọn gói và
kịp thời cho các cơ sở sản xuất cây giống.
truyền của các giống sử dụng trong trồng rừng.
Tài liệu tham khảo.
FAO, 1993: FAO Forestry Statistics Today for Tomorrow: 1961-1991, 47p.
FAO,1995: Forest Resouces Assessment 1990: Tropical Forest Plantation
Resources. FAO Forestry Technical Paper 128. 81p.
Lê Đình Khả và các cộng tác viên: Chọn tạo giống và nhân giống cho một số loài
cây trồng rừng chủ yếu (Báo cáo tổng kết đề tài KHCN 08.04), Hà nội 2001, 174
trang.
Nambiar, E.K.S. and Brown A.G. 1997. Management of Soil, Nutrients and Water
in Tropical Plantation Forests. ACIAR Monograph No. 43. 571 p.
Summary: Shifting from exploitation of natural forests to forest management
plantation as is the necessitated in forestry trend of all countries, including
Vietnam.
The most intensive research conducted in Vietnam in the passing years has been
focused on
species such as eucalypts, acacias, pines and melalueca are paid attention to by
production units for planting in large areas.
As a result of tree improvement research, more than 40 genetically improved
cultivars of the above mentioned species have been package-transferred to a large
number of production units and this significantly contributed to enhancing forest
plantation productivity.In order to improve forest plantation productivity, in our
country it is recommended to set up some more nurseries equipped with advanced
technology such as cutting propagation and plant tissue culture facilities,
particularly for regions having large reforestation areas together with
strengthening researches silviculture and tree breeding.