Nghiên cứu khoa học " NHÂN GIỐNG XOAN TA BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM VÀ GHÉP CÂY MẦM " - Pdf 14

NHÂN GIỐNG XOAN TA BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
VÀ GHÉP CÂY MẦM

Đoàn Thị Mai, Lê Sơn, Nguyễn Thị Mỹ Hương,
Lương Thị Hoan và các cộng tác viên
Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng
Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xoan ta (Melia azedarach Linn) là loài cây bản địa, mọc nhanh đã được biết đến và gây trồng ở nước ta
theo kinh nghiệm dân gian từ lâu. Xoan ta có gỗ màu nâu nhạt, mềm nhẹ, ít mối mọt, vì vậy gỗ Xoan đã
được dùng nhiều trong xây dựng. Trước nhu cầu lớn về gỗ, cùng với đó gỗ rừng tự nhiên ngày càng khan
hiếm thì gỗ Xoan trở nên có giá trị được người dân trồng nhiều và tập trung. Chính vì vậy, Xoan ta đã được
xác định là cây trồng rừng sản xuất chủ yếu của 6 trên 9 vùng sinh thái lâm nghiệp Việt Nam (Bộ Nông
nghiệp &PTNT, 2005).
Đến nay các nghiên cứu về Xoan ta chưa nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu về chọn giống và nhân giống.
Xoan ta mới chỉ được trồng chủ yếu là từ hạt của các cây sẵn có ở địa phương nên năng suất và phẩm chất
gỗ Xoan còn rất hạn chế.
Đối với nhiều loài cây trồng rừng giá trị cao hiện nay phương pháp nhân giống sinh dưỡng bằng giâm
hom đã được coi là phương pháp nhân giống hiệu quả cao và được áp dụng phổ biến với nhiều loại cây và
nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta giâm hom đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi với nhiều loại cây
như keo, bạch đàn, thông
Đứng trước giá trị của cây Xoan ta cùng với nhu cầu về gỗ thì vấn đề nghiên cứu mở rộng nhân giống,
gây trồng loài Xoan ta là rất cấp thiết, các nghiên cứu về chọn giống và nhân giống sinh dưỡng cho Xoan ta
đã bước đầu được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng. Sau 2 năm thực hiện các thí
nghiệm về nhân giống cho đối tượng này bằng phương pháp ghép và giâm hom đã cho những kết quả
bước đầu.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Vật liệu và phương pháp ghép
- Gốc ghép: là cây mầm mọc từ hạt 10- 60 ngày tuổi được cắt ở độ cao 2- 15cm (kể từ mặt bầu)
- Chồi ghép: là chồi cây mô ở giai đoạn invitrô 2- 3 tuần tuổi, dài 3-5cm và chồi non của cây hom 2- 4

10 9,4 2,5 35,0 5,4
10
15 4,4 1,7 31,1 1,7
2 11,6 1,8 38,8 4,0
5 13,8 3,9 45,5 1,7
10 18,3 5,0 45,0 10,0
20
15 12,2 2,7 36,1 5,7
2 8,8 1,7 81,6 3,5
5 13,3 2,1 86,6 5,5
10 18,0 1,8 95,0 1,8
30
15 8,3 4,0 85,0 4,6
2 7,78 3,4 78,3 3,5
5 10,0 2,9 81,6 3,5
10 13,3 4,2 87,2 2,5
40
15 6,6 2,1 80,5 2,5
2 1,6 1,8 80,0 5,1
5 4,4 1,7 77,7 2,7
10 6,1 1,3 83,3 2,9
50
15 3,3 2,9 82,2 4,5
2 0,5 1,3 52,2 19,6
5 0,5 1,3 42,7 19,0
10 1,6 1,8 45,5 1,7
60
15 6,8 4,7 44,8 2,3
Gốc ghép 30 - 40 ngày tuổi với chồi ghép lấy từ cây mô tỷ lệ sống chỉ đạt 6,6%- 18,0%, mặt khác số liệu
cũng cho thấy chồi ghép lấy từ cây hom tỷ lệ sống cây ghép tăng lên rõ rệt trên 78,3%. Vào độ tuổi này thì

Kết quả thí nghiệm cho thấy, tuổi của chồi ghép có cùng độ tuổi nhưng có chiều dài chồi ghép khác nhau
có tỷ lệ sống khác nhau, ngược lại trong cùng chiều dài chồi nhưng tuổi chồi khác nhau thì tỷ lệ sống cây
ghép khác nhau không rõ rệt. Số liệu ở biểu 2 cho thấy chồi ghép dài 3cm ở cả 3 độ tuổi đều cho tỷ lệ sống
thấp nhất 77,3% - 78,4%, chiều cao 7cm tỷ lệ này tăng lên 84,3% - 87,8% và khi chiều dài chồi là 10cm tỷ lệ
sống đạt giá trị cao nhất 88,6% - 96,6%. Khi chiều dài chồi tăng 15cm tỷ lệ sống cây ghép lại bắt đầu giảm xuống.
2. Kết quả nhân giống Xoan ta bằng phương pháp giâm hom
2.1. Ảnh hưởng của loại và nồng độ chất kích thích đến kết quả giâm hom Xoan ta
Bảng 3. Ảnh hưởng của nồng độ IBA, IAA, NAA đến tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom ra rễ
Tỷ lệ hom sống
(%)
Tỷ lệ hom ra rễ
(%)
Số rễ trên hom
(cái)
Chiều dài rễ
(cm)
Loại chất KTST

Nồng
độ
Tb Sd TB Sd TB Sd TB Sd
ĐC 0
11,11 2,22 9,63 1,28 2,25 0,22 3,25 0,09
0,25% 51,11 6,67 37,78 5,88 3,36 0,25 3,48 0,3
0,50% 45,19 10,02 39,26 10,5 2,85 0,27 3,06 0,21
0,75% 63,70 10,02 57,78 9,69 3,11 0,1 3,36 0,16
1,00% 39,26 7,14 30,37 3,39 2,61 0,14 2,74 0,13
1,25% 34,07 5,59 22,22 4,44 2,33 0,09 2,55 0,21
IBA
1,50% 43,70 10,2 18,52 3,39 1,98 0,08 2,45 0,4

bình đạt 3,18cm.
3. Kết quả nhân giống Xoan ta bằng phương pháp giâm hom
3.1. Ảnh hưởng của loại giá thể đến kết quả thí nghiệm giâm hom Xoan ta
Thí nghiệm được tiến hành với 5 loại giá thể khác nhau: (1) Cát sông, (2) 50% cát + 50% đất tầng mầu,
(3) 20% cát + 50% đất + 30% than chấu, (4) 70% đất + 30% hỗn hợp ruột bầu và (5) 100% đất mầu.
Hom sử dụng trong thí nghiệm là hom Xoan ta 30 ngày tuổi và loại chất kích thích sinh trưởng được sử
dụng là IBA 0,75%. Sau 30 ngày tiến hành điều tra thu thập kết quả. Các loại giá thể thí nghiệm đều được xử
lý nấm bệnh BenlatC nồng độ 0,3% và tưới phun ẩm trong môi trường như nhau.
Bảng 4. Ảnh hưởng của loại giá thể đến tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom ra rễ
Tỷ lệ hom sống Tỷ lệ hom ra rễ Số rễ trên hom Chiều dài rễ
Loại giá thể
% Sd % Sd
TB
(cm)

Sd TB (cm)

Sd
(1) 55,56 2,22 39,26 3,39 3,27 0,13 3,33 0,2
(2) 62,22 6,67 52,59 8,98 3,22 0,05 3,24 0,09
(3) 62,96 8,98 52,59 7,14 3,22 0,19 3,21 0,07
(4) 74,07 5,13 57,04 8,98 3,33 0,1 3,21 0,04
(5) 58,52 3,39 39,26 4,63 3,16 0,15 3,12 0,07

Kết quả thí nghiệm cho thấy ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom
ra rễ là khác nhau, ở công thức (4) loại giá thể gồm 70% đất + 30% hỗn hợp ruột bầu cho tỷ lệ hom sống và
tỷ lệ hom ra rễ cao nhất đạt (74,07 và 57,04).
4. So sánh hiệu quả giữa hai phương pháp nhân giống
Kết quả thí nghiệm nhân giống sinh dưỡng bằng phương pháp ghép cây mầm và giâm hom cho thấy, cả
2 phương pháp này có thể áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất cho Xoan ta vì không đòi hỏi kỹ thuật cao

Tuổi thích hợp nhất đối với chồi lấy hom Xoan ta là 30 ngày tuổi. Nồng độ chất kích thích sinh trưởng tốt
nhất cho giâm hom Xoan ta là IBA = 0,75%. Loại giá thể thích hợp cho giâm hom Xoan ta là: 70%đất + 30%
hỗn hợp ruột bầu. Phương pháp nhân giống thích hợp nhất cho Xoan ta là ghép nêm cho cây mầm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trương Tất Đơ, 2005. Đề tài: “Nghiên cứu thăm dò một số đặc điểm sinh trưởng và khả năng gây
trồng Xoan ta ở vùng Tây Nguyên”.
2. Lê Mộng Chân, 1992. Thực vật rừng và thực vật đặc sản rừng. Trường Đại học Lâm nghiệp,
3. Đoàn Thị Mai, 2001. Tài liệu chuyển giao kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng.
4. Trần Hợp, Hoàng Quảng Hà, 1997. 100 loài cây bản địa. NXB Nông Nghiệp.
5. Dương Mộng Hùng, Nguyễn Hữu Huy, Lê Đình Khả, 1992. Giáo trình Giống cây rừng. Trường Đại học
Lâm nghiệp.
6. Lê Đình Khả. Cơ sở sinh học của việc nhân giống bằng hom. Thông tin khoa học kỹ thuật lâm nghiệp
số 1/1986, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
7. Miller, 1990. Meliaceae. Juornal of the Arnoid arboretum. Vol 71, [455 - 471].
8. M.W. Moncur, B.V. Gunn, 1990. Seed development and germinationresponses of Melia azdarach var.
australiasiaca. Tropical Tree Seed Research. Acicar project No. [28].
9. Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003. Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính. NXB Nông nghiệp, 2003
10. Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạnh, 1993. Chất điều hoà sinh trưởng đối với cây trồng, NXB
Nông nghiệp.
11. Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi. Phân tích thống kê trong Lâm nghiệp. NXB Nông
nghiệp.
12. Sơn Tùng, 1981. Mấy biện pháp kỹ thuật để trồng được những cây Xoan có thân dài và thẳng. Tạp
chí Lâm nghiệp số 3 năm 1981, trang 20 - 21.
13. Bộ NN & PTNT. Hội thảo khoa học ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô và giâm hom trong Lâm nghiệp.
Thành phố HCM năm 1997.
14. Công ty giống và phục vụ trồng rừng, 1995. Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm 1 số loài cây rừng.
NXB Nông nghiệp.
15. Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 1981. Cây gỗ rừng Việt Nam. NXB Nông nghiệp.
16. Vụ khoa học công nghệ - Bộ LN, 1994. Kỹ thuật trồng một số loài cây rừng. NXB Nông nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status