BIỂN VÀ LỤC ĐỊA doc - Pdf 14

Báo cáo giữa kì môn Khoa học Trái đất
Tìm hiểu về biển và lục địa
Sinh viên: Hoàng Sơn Bách
MSSV: 09093747
Chương I: Biển
Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn
chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên như biển Caspi, biển
Chết. Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có
đường thông tự nhiên ra biển cả như biển Galilee ở Israel là một hồ nước ngọt nhỏ không có
đường thông tự nhiên ra đại dương hay biển Hồ ở Campuchia. Thuật ngữ này được sử dụng
trong đời sống thông thường như một từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu biển nhiệt
đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước biển là chỉ một cách rõ nét tới các vùng nước của đại
dương nói chung.
Thành phần
Nước biển chứa các chất muối, khí ( oxi, nito, cacbon ) và chất hữu cơ có nguồn gốc từ động
vật, thực vật
Trung bình mỗi kg nước biển chứa 35 g muối khoáng trong đó 77,8% là muối natri clorua tức
muối ăn được
Độ muối
Độ muối trung bình của nước biển toàn thế giới là 3,5 %
Biển Đỏ độ muối là 4,3 %
Dọc Xích đạo độ muối là 3,45 %
Vùng chí tuyến độ muối 3,68 %
Gần hai cực độ muối là 3,4 %
Biển Ban-tich độ muối là 0,35 %
Nhiệt độ
Nhiệt độ nước biển thay đổi . Có nhiều nguyên nhân :
• Khi càng xuống sâu xuống đáy biển nhiệt độ giảm, càng sâu càng lạnh
• Tùy theo mùa trong năm, mùa hè nhiệt độ cao, mùa đông biển lạnh
• Từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao ( từ Xích đạo về cực )
• Ảnh hưởng các dòng biển nóng và lạnh

• Biển
Ceram
• Biển
Coral
• Biển
Đông
• Biển
Flores
• Biển
Halmah
• Biển
Nhật
Bản
• Biển
nội địa
Seto
• Biển
Okhotsk
• Biển
Philippi
nes
• Biển
Tasman
• Biển
Visayas
• Đông Hải
• Hoàng
Hải
• Vịnh
Alaska

• Vịnh Thái
Lan
Đại Tây Dương
• Biển Adriatic
• Biển Aegea
• Biển Azov
• Biển Alboran
• Biển Argentine
• Biển Baltic
• Biển Bắc
• Biển Bothnia
• Biển Caribe
• Biển Celtic
• Biển
Crete
• Biển
Đen
• Biển
Hebride
s
• Biển
Ionia
• Biển
Ireland
• Biển
Labrado
r
• Biển
Ligure
• Biển

Fundy
• Vịnh
Guinea
• Vịnh
Mexico
• Vịnh
Phần
Lan
• Vịnh
Sidra
• Vịnh
Saint
Lawrenc
a
• Biển
Mirtoon
• Vịnh
Biscay
• Vịnh
Bothnia
e
• Vịnh
Venezue
la
Ấn Độ Dương
• Biển Andaman
• Biển Ả Rập
• Biển Đỏ
• Biển
Timor

Laptev
• Biển
Lincoln
• Biển
Pechora
• Biển
Trắng
• Eo biển
Kara
• Vịnh
Amunds
en
• Vịnh
Baffin
• Vịnh
Hudson
• Vịnh
James
Nam Đại Dương
• Biển Amundsen
• Biển Bellingshausen
• Biển Davis
• Vịnh
Đại Úc
• Biển
Mawson
• Biển
Ross
• Biển
Scotia

cũng có thể phân chia tiếp bởi đường xích đạo thành các phần Bắc và Nam. Các khu vực nhỏ
hơn của đại dương được gọi là các biển, vịnh hay một số các tên gọi khác. Cũng tồn tại một số
khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và không nối với Đại dương thế giới, như biển Aral, Great
Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng có thể coi như là các 'biển', nhưng thực ra chúng là các
hồ nước mặn. Có 5 đại dương trên thế giới, trong đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất,
thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương
còn nhỏ và nông nhất là Bắc Băng Dương.
Nước đại dương luôn luôn chuyển động do tác động của thuỷ triều, gây ra bởi lực hấp dẫn của
Mặt Trăng và Mặt Trời đối với Trái Đất, sóng và hải lưu do tác dụng của gió. Các dòng bù trừ
phát sinh do sự thiếu hụt của nước. Chẳng hạn nước của Địa Trung Hải bị bốc hơi rất mạnh, ít
sông suối đổ vào, do đó nước có độ mặn cao và có tỉ trọng lớn. Nước ở dưới sâu chảy từ Địa
Trung Hải ra Đại Tây Dương tạo ra sự thiếu hụt, vì thế một hải lưu bề mặt lại chảy từ Đại Tây
Dương vào Địa Trung Hải để bù vào chỗ thiếu hụt đó.
Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đại dương có ảnh hưởng lớn tới sinh quyển. Sự
bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được,
nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất. Sự
sống trong lòng đại dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi có sự di chuyển
của động, thực vật lên trên đất liền. Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển (yếu tố vô
sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển. Các sinh vật như tảo, rong, rêu
sinh sống trong khu vực giáp giới thủy triều (nơi đất liền gặp biển) sẽ cố định chúng vào đá vì
thế chúng không bị rửa trôi bởi thủy triều. Đại dương cũng là nơi sinh sống của nhiều loài và có
thể phân chia thành vài đới (vùng, tầng) như vùng biển khơi, vùng đáy, vùng chiếu sáng, vùng
thiếu sáng v.v.
[6]
Về mặt địa chất, đại dương là nơi mà lớp vỏ đại dương được nước che phủ. Lớp vỏ đại dương
dày trung bình khoảng 4,5 km, bao gồm một lớp trầm tích mỏng che phủ trên lớp bazan núi lửa
mỏng đã đông cứng. Lớp bazan này che phủ lớp peridotit thuộc mặt ngoài của lớp phủ Trái Đất
tại những nơi không có châu lục nào. Xét theo quan điểm này thì ngày nay có 3 “đại dương”: Đại
dương thế giới, biển Caspi và biển Đen, trong đó 2 “đại dương” sau được hình thành do va chạm
của mảng Cimmeria với Laurasia. Địa Trung Hải có thể coi là một “đại dương” gần như riêng

sáng này. Nó có thể là do phát quang sinh học.
Thám hiểm
Bản đồ các đặc trưng chính dưới đáy biển. (1995, NOAA)
Đi lại trên bề mặt đại dương bằng tàu thuyền đã diễn ra từ thời tiền sử, nhưng chỉ ngày nay thì
việc đi lại ngầm dưới mặt nước biển một cách rộng khắp mới có thể trở thành hiện thực.
Điểm sâu nhất trong đại dương nằm ở phía nam rãnh Mariana trong Thái Bình Dương, gần quần
đảo Bắc Mariana. Nó có độ sâu tối đa là 10.923 m (35.838 ft). Nó được khảo sát chi tiết lần đầu
tiên năm 1951 bởi tàu "Challenger II" của hải quân Anh và điểm sâu nhất này được đặt tên theo
tên tàu này là "Challenger Deep". Năm 1960, tàu thăm dò biển sâu Trieste đã xuống thành công
tới đáy của rãnh, được điều khiển bởi một thủy thủ đoàn gồm 2 người.
Phần lớn đáy các đại dương vẫn chưa được thám hiểm và lập bản đồ. Hình ảnh toàn cầu của
nhiều đặc trưng ngầm lớn hơn 10 km (6 dặm) được tạo ra năm 1995 dựa trên các méo mó hấp
dẫn của bề mặt biển cận kề.
Các khu vực/tầng
Các bộ phận chính của đại dương
Đại dương được chia ra thành nhiều khu vực hay tầng, phụ thuộc vào các điều kiện vật lý và sinh
học của các khu vực này. Vùng biển khơi bao gồm mọi khu vực chứa nước của biển cả (không
bao gồm phần đáy biển) và nó có thể phân chia tiếp thành các khu vực con theo độ sâu và độ
chiếu sáng. Vùng chiếu sáng che phủ đại dương từ bề mặt tới độ sâu 200 m. Đây là khu vực
trong đó sự quang hợp diễn ra phổ biến nhất và vì thế chứa sự đa dạng sinh học lớn nhất trong
lòng đại dương. Do thực vật chỉ có thể sinh tồn với quá trình quang hợp nên bất kỳ sự sống nào
tìm thấy dưới độ sâu này hoặc phải dựa trên các vật chất trôi nổi chìm xuống từ phía trên (xem
tuyết biển) hoặc tìm các nguồn chủ lực khác; điều này thường xuất hiện dưới dạng miệng phun
thủy nhiệt trong khu vực gọi là vùng thiếu sáng (tất cả các độ sâu nằm dưới mức 200 m). Phần
biển khơi của vùng chiếu sáng được gọi là vùng biển khơi mặt (epipelagic). Phần biển khơi của
vùng thiếu sáng có thể chia tiếp thành các vùng nối tiếp nhau theo chiều thẳng đứng. Vùng biển
khơi trung (mesopelagic) là tầng trên cùng, với ranh giới thấp nhất tại lớp dị nhiệt là 12 °C, trong
đó tại khu vực nhiệt đới nói chung nó nằm ở độ sâu giữa 700 với 1.000 m. Dưới tầng này là vùng
biển khơi sâu (bathypelagic) nằm giữa 10 °C và 4 °C, hay độ sâu giữa khoảng 700-1.000 m với
2.000-4.000 m. Nằm dọc theo phần trên của vùng bình nguyên sâu thẳm là vùng biển khơi sâu

• Đại dương Khanty , đại dương nằm giữa Baltica và Siberia.
• Mirovia , đại dương bao quanh siêu lục địa Rodinia.
• Đại dương Paleo-Tethys , đại dương nằm giữa Gondwana và địa hình Hunic.
• Đại dương Proto-Tethys ,
• Đại dương Pan-Africa , đại dương bao quanh siêu lục địa Pannotia.
• Superocean , đại dương bao quanh siêu lục địa toàn cầu.
• Đại dương Ural , đại dương nằm giữa Siberia và Baltica.
Chương II: Lục địa
Lục địa là một mảng đất liền nằm trên bề mặt lớp vỏ của Trái Đất, bị nước bao quanh. Lục địa chiếm
tổng diện tích khoảng hơn 148,647 triệu km² hay khoảng 29% diện tích bề mặt Trái Đất (510.065.600
km²). Trong địa chính trị, lục địa nói chung hay được chia ra làm 6 châu lục, xếp theo thứ tự từ lớn tới
nhỏ về diện tích như sau: châu Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Nam Cực, châu Âu và châu Đại Dương.

Phân biệt
Tuy nhiên, hiện nay có một sự lộn xộn trong cách hiểu và dùng từ giữa lục địa và đại lục hay
giữa lục địa với châu lục. Đại lục và lục địa đều là các khái niệm của địa lý tự nhiên, đại lục là
mảng đất liền lớn trong khi lục địa là mảng đất liền nhưng không chỉ rõ là có quy mô về diện tích
lớn hay nhỏ. Ví dụ, các đảo như Greenland với diện tích khoảng 2.166.086 km² hay Madagascar
với diện tích khoảng 587.040 km² là các lục địa khi xét về mặt địa lý tự nhiên, nhưng không thể
coi là đại lục. Châu lục là khái niệm của địa chính trị và nó mang ý nghĩa chính trị, lịch sử nhiều
hơn. Một châu lục là tổ hợp lớn về đất đai, trên đó có nhiều quốc gia với các phần diện tích thuộc
cả đại lục lẫn các đảo xung quanh (nếu có).
Đặc trưng địa chất
Đặc trưng của lục địa là có cấu trúc vỏ lục địa (quyển sial) với bề dày 20 - 70 km và có giới hạn
dưới là ranh giới Moho. Lớp vỏ lục địa chủ yếu chứa các loại đá nhẹ như granit với tỷ trọng
trung bình khoảng 2,7-2,8 g/cm³. Kiến tạo mảng là tiến trình địa chất chính trong việc gây ra
chuyển động, va chạm và phân chia của các khối lục địa.
Châu lục
Châu lục hay châu là một khái niệm của địa chính trị. Nó là tổ hợp lớn về đất đai, trên đó có
nhiều quốc gia với các phần diện tích thuộc cả đại lục lẫn các đảo xung quanh (nếu có).

Châu
Phi
Đại lục Á Âu Châu Úc
5 châu lục
Châu Mỹ
Châu
Phi
Châu
Âu
Châu
Á
Châu Đại
Dương
Diện tích và dân số
Tên Diện tích (km²)
Dân số ước tính
2002
Phần trăm dân số
trên tổng dân số
thế giới
Đại lục Phi-Á Âu 84.360.000 5.400.000.000 86%
Đại lục Á-Âu 53.990.000 4.510.000.000 72%
Châu Á 43.810.000 3.800.000.000 60%
Châu Mỹ 42.330.000 886.000.000 14%
Châu Phi 30.370.000 890.000.000 14%
Bắc Mỹ 24.490.000 515.000.000 8%
Nam Mỹ 17.840.000 371.000.000 6%
Châu Nam Cực 13.720.000 1.000 0,00002%
Châu Âu 10.180.000 710.000.000 11%
Châu Đại Dương 9.010.000 33.552.994 0,6%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status