Đề tài: "Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta" - Pdf 14

Đề tài: "Mối quan hệ
giữa cái riêng và cái
chung và vận dụng trong
quá trình xây dựng kinh
tế thị trường ở nước ta"
1

Lời nói đầu
Bớc lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai
cuộc chiến tranh giữ nớc khốc liệt, nền kinh tế nớc ta vốn đã lạc hậu lại càng
thêm kiệt quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì
trệ đó, nớc ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
khiến cho đất nớc lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong
khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trờng mà CNTB đã đạt đợc những
thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất
lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trờng, quản lý xã hội đạt đợc những thành quả
về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con ngời nhạy cảm, tinh tế, với
khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển. Trớc tình hình đó, trong
Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển
sang xây dựng kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN, kích thích sản xuất,
phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn
minh.
Mới chập chững bớc vào nền kinh tế thị trờng đầy gian khó, phức tạp, nền
kinh tế Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ
sở cân nhắc, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam.

đó, nh là cuộc cách mạng tháng Tám của Việt nam chẳng hạn. Một con ngời
nào đó: Huệ, Trang, cũng là cái riêng. Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm
sự vật gia nhập vào một nhóm các sự vật rộng hơn, phổ biến hơn. Sự tồn tại cá
biệt đó của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộc tính
không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác. Tính chất này đợc diễn đạt bằng
khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
những thuộc tính, những mặt chỉ có ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở
những sự vật khác. Ví dụ chiều cao, cân nặng, vóc dáng của một ngời là cái
đơn nhất. Nó cho biết những đặc điểm của chỉ riêng ngời đó, không lặp lại ở
một ngời nào khác. Cần phân biệt cái riêng với cái đơn nhất.
Mặt khác, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau, chứng
tỏ giữa chúng có một số đặc điểm chung nào đó. Những đặc điểm chung đó đợc
triết học khái quát thành khái niệm cái chung.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định ,mà còn đợc lặp lại
trong nhiều sự vật hiện tợng hay quá trình riêng lẻ khác, những mối liên hệ
giống nhau, hay lặp lại ở nhiều cái riêng.
Cái chung thờng chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại. Ví dụ nh
qui luật cung- cầu, qui luật giá trị thặng d là những đặc điểm chung mà mọi nền
kinh tế thị trờng bắt buộc phải tuân theo.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.3

1.2
.
Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:


trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói đợc một cách chính xác quan hệ
bao trùm giữa cái chung và cái riêng. Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình
thành nên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là một thực thể
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.4

sống động. Trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn
nhất. Nhờ thế, giữa những cái riêng vừa có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua
lại với nhau, chuyển hóa lẫn nhau. Sự " va chạm" giữa những cái riêng vừa làm
cho các sự vật xích lại gần nhau bởi cái chung, vừa làm cho sự vật tách xa nhau
bởi cái đơn nhất. Cũng nhờ sự tơng tác này giữa những cái riêng mà cái chung
có thể đợc phát hiện. Về điểm này, Lênin nói: " Cái riêng chỉ có thể tồn tại
trong mối liên hệ dẫn tới cái chung". Ví dụ, nguyên tử của mọi nguyên tố đều
khác nhau, đều là cái " riêng", chúng có trọng lợng nguyên tử của mình, có hoá
trị của mình, có điện tích hạt nhân của mình, có cấu tạo vỏ nguyên tử của mình
Nhng tất cả những nguyên tử đều có cái chung: trong mọi nguyên tử đều có hạt
nhân, vỏ điện tử, đều có những hạt nguyên tố; hạt nhân của mọi nguyên tử đều
có thể bị phá vỡ. Chính nhờ có những đặc tính chung cho mọi nguyên tử mà
khoa học mới có khả năng biến nguyên tử của một nguyên tố này thành nguyên
tử của một nguyên tố khác. Nguyên tử, cũng nh bất cứ hiện tợng nào khác
trong thế giới khách quan, là sự thống nhất của cái khác nhau và cái giống nhau,
cái đơn nhất và cái phổ biến.
Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cái
đơn nhất và ngợc lại. Ví dụ: trớc Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trờng, khoán
sản phẩm chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhng từ sau Đại
hội Đảng VI thì kinh tế thị trờng lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập
trung bao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số ngành nh an ninh

một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trờng của Việt nam một cách
thích hợp, cố gắng theo kịp tốc độ tăng trởng của các nớc phát triển trên thế
giới, tăng cờng cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.6

Chơng 2:
Cái chung và cái riêng nhìn dới vấn đề
Kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới
Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nớc ta đang hoà
nhập với nền kinh tế thị trờng thế giới, sự giao lu về hàng hoá, dịch vụ và đầu
t trực tiếp của nớc ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nớc ta gần gũi
hơn với nền kinh tế thị trờng thế giới. Tơng quan giá cả của các loại hàng hoá
trong nớc gần gũi hơn với tơng quan giá cả hàng hoá quốc tế. Thị trờng trong
nớc gắn liền với thị trơng thế giới . Nền Kinh tế Việt Nam là một bộ phận của
nền kinh tế thế giới. Chính điều này tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh của nền
kinh tế thế giới
Xu hớng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của
mỗi nớc không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, sự cạnh tranh
giữa các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất, không còn là dân số đông, vũ khí
nhiều, quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách, của
các quốc gia là tạo đợc nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình, là tốc
độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân đợc cải thiện, thất nghiệp thấp.
Tiềm lực kinh tế đã trở thành thớc đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân
tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm
quyền.
Nh vậy với t cách là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thì việc tiếp thu

chỉnh giá cả". Ta cũng có thể định nghĩa thị trờng là nơi diễn ra hoạt động mua
bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu.
Kinh tế thị trờng là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng
suất, chất lợng và hiệu quả cao; d thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ đợc
mở rộng và coi nh hàng hoá thị trờng; năng động, luôn luôn đổi
mới mặt hàng, công nghệ và thị trờng. Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ
chế thị trờng, với những đặc trng cơ bản nh: phát triển kinh tế hàng hoá, mở
rộng thị trờng, tự do kinh doanh, tự do thơng mại, tự định giá cả, đa dạng hoá
sở hữu, phân phối do quan hệ cung- cầu
3.1.2. Chuyển sang kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan
Xét về hoàn cảnh lịch sử, xuất phát điểm của nền kinh tế nớc ta là kinh tế
phong kiến. Ngoài ra nớc ta vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh giữ nớc
khốc liệt, mà ở đó, cơ sở vật chất vốn đã ít ỏi còn bị tàn phá nặng nề.
Sau chiến tranh, ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hoá tập
trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về TLSX. Trong thời gian đầu sau
chiến tranh, với sự nỗ lực của nhân dân ta, cùng sự giúp đỡ của các nớc trong hệ
thống XHCN mà mô hình kế hoạch hoá đã phát huy đợc tính u việt của nó. Từ
một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kế hoạch hoá nhà nớc đã tập
trung vào tay mình một lợng vật chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.8

để ổn định và phát triển kinh tế. Nền kinh tế kế hoạch hoá trong thời kỳ này tỏ ra
phù hợp, đã huy động ở mức cao nhất sức ngời sức của cho tiền tuyến.
Sau ngày giải phóng miền Nam, trên bức tranh về nền kinh tế nớc ta tồn
tại một lúc cả ba gam màu: kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế kế hoạch hoá tập trung
và kinh tế hàng hoá. Do sự không hài hoà giữa các nền kinh tế và sự chủ quan

For evaluation only.9

Đảng ta xác định việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta là một tất yếu khách quan
và trên thực tế đang diễn ra việc đó, tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý
luận cũng nh trong thực tế.
Ta đã chính thức chấp nhận kinh tế thị trờng một cách cơ bản, cùng
những u điểm của nó một cách tổng thể, lâu dài mà không còn đơn thuần phủ
nhận nh trớc nữa (rằng kinh tế thị trờng chỉ là đặc trng riêng có của CNTB;
nớc ta không đi theo CNTB thị cũng không thể áp dụng kinh tế thị trờng trong
phát triển kinh tế). Đảng ta còn chỉ rõ rằng nền kinh tế thị trờng có sự phù hợp
với thực tế nớc ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và với xu thế của thời đại:
Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể
nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ cha muốn nói đến tích luỹ vốn để
mở rộng sản xuất. Thực tế những năm cuối của thập kỷ tám mơi đã chỉ rõ
thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng ta đã liên tục chúng ta đã liên tục
đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhng hiệu quả của nền sản
xuất xã hội đạt mức rất thấp. Sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu tiêu
dùng của xã hội, tích luỹ hầu nh không có, đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn
vay của nớc ngoài.
Do đặc trng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác
dụng thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tác dụng
phát triển kinh tế theo chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nớc ta tồn tại
quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc
đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tợng tiêu cực làm
giảm năng suất, chất lợng và hiệu quả sản xuất.

trờng thế giới:
Trớc hết, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng, nên nó tuân theo
mọi quy luật của kinh tế thị trờng: quy luật cung- cầu, quy luật giá trị thặng d,
quy luật lu thông tiền tệ
Các loại thị trờng, các mối quan hệ thị trờng đợc phát triển phong phú,
đa dạng, thể hiện trình độ cao trong việc phân công lao động thành nhiều ngành
nghề. Sự khác biệt về sở hữu tài sản đã đợc chấp nhận (không còn chỉ chấp
nhận hình thức sở hữu nhà nớc, tập thể nh trớc) và lợi nhuận trở thành động
lực phát triển. Theo đó, đã hình thành một lớp ngời mới năng động hơn, bám
sát thị trờng hơn và "biết làm kinh tế hơn". ở nớc ta hiện nay cũng hình thành
và tồn tại cả những khuyết tật của kinh tế thị trờng: tâm lý quá coi trọng đồng
tiền, chạy theo lợi nhuận, sự phân cực giàu nghèo quá mức, kinh tế phát triển
mất cân đối. Kinh tế thị trờng nớc ta cũng có sự quản lý của nhà nớc để
khống chế, giảm bớt những khuyết tật đó cùng những tác hại của nó. Nhng tuy
nhiên, những khuyết tật đó vẫn còn tồn tại âm ỉ trong xã hội và trong suy nghĩ
của một số ngời.
Nền kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay cũng tuân theo xu hớng chung phát
triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nớc không thể tách rời sự
phát triển và hoà nhập quốc tế, tiến tới hoà nhập thành một thị trờng chung trên
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.11

toàn thế giới. Tơng quan giá cả của các loại hàng hoá trong nớc cũng ngày
càng gần gũi hơn với tơng quan giá cả hàng hoá quốc tế.
3.2.2. Những nét đặc thù của nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN ở Việt nam:
Nếu trong CNTB hiện đại, kinh tế thị trờng đặt dới sự quản lý của nhà
12

Trong quá trình phát triển, kinh tế nhà nớc đợc chọn lọc, sắp xếp lại, khẳng
định hợp lý phạm vi cần nắm giữ, nắm lấy những mạch máu chủ yếu làm đội
quân chủ lực trong xây dựng và điều tiết kinh tế, làm nòng cốt hớng dẫn cac
thành phần kinh tế khác hoạt động đúng hớng.
Quan hệ phân phối trong kinh tế thị trờng TBCN là nhà t bản nắm giữ phân
lớn sản phẩm.Ta chủ trơng phân phối theo lao động, theo vốn trên cơ sỏ khuyến
khích mọi ngời tự do sản xuất kinh doanh công khai hợp pháp, đồng thời thực
hiện chính sách công bằng xã hội. Ta chủ trơng chống bóc lột, bất công, chăm
lo sự nghiệp y tế, giáo dục, đấu tranh cho một nền đạo đức mới, một lối sống
lành mạnh. Chỉ có kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội mới thể hiện
đợc bản chất của chế độ mới. Tuy nhiên, để có động lực cho sự phát triển phải
khuyến khích tích tụ, tích luỹ, sáng kiến cá nhân, chấp nhận phân hoá do lao
động sáng tạo (nhng kiên quyết xoá bỏ phân hoá do bất công).
Xuất phát điểm của nền kinh tế nớc ta là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, trong
đó nông nghiệp chiếm vai trò chủ chốt (chiếm 75% dân số) nhng lại tồn tại
phơng thức sản xuất với trình độ thấp "con trâu đi trớc cái cày theo sau".
Ngoài ra, nớc ta mới chỉ bớc vào xây dựng kinh tế thị trờng trong vài năm
gần đây nên cha có nhiều kinh nghiệm quản lý. Kết quả là hiện nay, trình độ
phát triển kinh tế nớc ta còn thấp, mang tính tự túc là chủ yếu, cơ sở vật chất
yếu kém, thu nhập thấp 400 USD/ ngời, trình độ quản lý kinh tế còn non yếu,
khả năng cạnh tranh kém. Do vậy mà ta cần có thời gian làm quen, học hỏi kinh
nghiệm của nớc ngoài trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quản lý và phát triển
kinh tế.
Không chỉ có xuất phát điểm thấp mà còn phải trải qua hai cuộc chiến tranh
khốc liệt, kéo dài. Do hai cuộc chiến tranh đó mà cơ sở hạ tầng vốn đã thấp lại
còn bị tàn phá nặng nề. Ta không đủ khả năng về vốn, kỹ thuật để có thể bớc

"kẻ gác cổng trung thành cho sở hữu t nhân" mà đã trở thành một lực lợng
quan trọng trong việc điều tiết xã hội, khống chế khuyết tật xã hội.
Trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập với kinh tế thị trờng thế giới, ta
luôn chú ý tới việc đảm bảo độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị và đảm bảo độc
lập, tự do cho dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc.
3.2.3. Những thắng lợi bớc đầu mà kinh tế thị trờng mang lại:
Xét về lĩnh vực con ngời, ngời Việt nam hiện nay đã thể hiện sự năng động,
tinh tế, nhạy cảm( đặc biệt là với thị trờng) hơn hẳn so với những năm tám
mơi.
Xét về lĩnh vực kinh tế, nhờ chuyển sang xây dựng kinh tế thị trờng theo
một đờng lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng( con ngời, tự
nhiên, xã hội, điều kiện lịch sử ) củaViệt nam mà nền kinh tế cũng nh đời
sống của ngời dân đợc cải thiện đáng kể:
So với năm 1993, tổng sản phẩm trong nớc năm 1994 tăng 8,5%, trong đó
sản xuất công nghiệp tăng 13%, sản xuất nông nghiệp tăng 4%, kim ngạch
xuất khẩu tăng 20,8%; lạm phát đợc kiềm chế. Bớc đầu thu hút đợc vốn
đầu t nớc ngoài với số vốn đăng ký 10 tỷ USD. Nền kinh tế đã bắt đầu có
tích luỹ nội bộ. Xuất khẩu và nhập khẩu đã lấy lại thế cân bằng, dần dần
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.14

biết phát huy và tận dụng đợc lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc
tế.
Sản xuất nông nghiệp phát triển từ chỗ thiếu lơng thực triền miên đến nay
ta đã đứng thứ hai trong số những nớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Theo số liệu thu thập đợc, ớc tính chỉ số GNP của Việt nam đã tăng đáng
kể sau vài năm đổi mới:
15

lợng. Điều này đòi hỏi ta phải đào tạo đợc "lớp ngời mới", quen thuộc với
khoa học kỹ thuật, không cảm thấy lạ lẫm với những máy móc hiện đại, đòi hỏi
ngời lao động phải có trình độ cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, ta phải đẩy mạnh
phát triển khoa học, giáo dục đào tạo, cũng nh có những chính sách phát hiện,
nuôi dỡng và giữ gìn nhân tài, tránh hiện tợng chảy máu chất xám.
Nớc ta có vị trí vô cùng thuận lợi, đồng thời lại có nhiều danh lam thắng
cảnh đẹp đợc thế giới công nhận. Do đó, điều kiện để phát triển giao thông vận
tải và du lịch là rất lớn. Nhiều nớc nói rằng họ "thèm" đợc có điều kiện nh
Việt nam về vị trí địa lý, và nếu có đợc thì họ sẽ thu về một doanh thu khổng lồ
từ ngành du lịch. Nhng hiện nay việc phát triển du lịch ở nớc ta còn rất hạn
chế, cha tơng xứng với tiềm năng. Điều đó đặt ra một yêu cầu nữa cho công
cuộc phát triển kinh tế ở nớc ta: phải đẩy mạnh phát triển du lịch sao cho tơng
xứng với tiềm năng của mình, tích cực thu ngoại tệ từ ngành du lịch để phát triển
chính bản thân ngành cùng nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế.
Ngời Việt nam đợc đánh giá là khéo léo. Ta có nhiều làng nghề thủ công
mỹ nghệ nổi tiếng nh làng tranh Đông Hồ chẳng hạn. Nhiều nớc tỏ ra a
chuộng hàng thủ công của ta, muốn đặt hàng cùng ta nhng do hàng rào thuế
quan, phong cách quản lý gây khó khăn, cùng với việc "ngại" áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất truyền thống, khiến cho lợng hàng sản xuất ra ít, không
đủ trang trải cho những lệ phí phải chịu do thuế quan nên ta đã mất nhiều hợp
đồng. Để đẩy mạnh sự phát triển của các làng nghề thủ công nh Đảng ta đã dự
kiến đòi hỏi một sự đổi mới toàn diện trong cách làm việc của những thợ giỏi,
tăng hàm lợng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, không chỉ đơn thuần làm bằng
tay nh trớc; đồng thời phải làm giảm sự rối rắm trong hàng rào thuế quan, gây
cản trở cho sự đầu t của nớc ngoài vào Việ nam.
Nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần kinh tế, về

For evaluation only.17

Kết luận
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tợng, một
quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những
mặt, những mối liên hệ giống nhau, hay lặp lại ở nhiều cái riêng. Cái chung
thờng chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại.
Giữa cái riêng và cái chung luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng để thể hiện sự tồn tại
của minh; còn cái riêng tồn tại trong mối liên hệ dẫn đến cái chung.
Với vai trò là một cái riêng, nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở
Việt nam cũng tuân theo những quy luật chung mang tính bản chất của kinh tế
thị trờng, đồng thời cũng chứa đựng những đặc điểm, bản sắc đặc trng, vốn có,
riêng của Việt nam.
Chủ trơng lãnh đạo của Đảng đã thể hiện sự sáng suốt trong nhận thức
nhng trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều thiếu sót khiến cho kinh tế thị
trờng nớc ta cha vận dụng đợc hết các lợi ích, cũng nh khắc phục hoàn
toàn những nhợc điểm của kinh tế thị trờng nói chung, và cha thể hiện đợc
thành một nền kinh tế thị trờng hiện đại mang bản sắc của Việt nam. Trong việc
quản lý vẫn còn nhiều phiền hà, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong
việc làm ăn. Vì thế mà nhiều doanh nghiệp nớc ngoài không muốn đầu t vào
Việt nam cho dù nhận thấy một thị trờng rộng mở, có nhiều tiềm năng để phát
triển.


Tạp chí phát triển kinh tế số 68/ 1996

Tạp chí thơng mại số 5/ 1996

Đỗ Đức Thịnh
Nhà nớc trong kinh tế thị trờng các nớc đang
phát triển ở châu á

Tín
h chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc trong
nền kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay

Phan Quang Tuệ
Một số học thuyết kinh tế tiền tệ của các nhà kinh
tế thị trờng

Vũ Huy Từ
Doanh nghiệp nhà nớc trong cơ chế thị trờng ở
Việt nam Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.19Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status