MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GMPLS
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GMPLS
.1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GMPLS……………………….
…….8
1.2 Xu hướng phát triển của công nghệ truyền tải quang ……………… ………9
1.2.1. Sự phát triển của cấu trúc mạng ……………………………… …… 9
1.2.2 Xu hướng phát triển công nghệ truyền tải quang…… …… … …….14
1.22 Tổng quan về công nghệ GMPLS…………………………………….
……… 19
1.33 Quá trình phát triển từ MPLS lên
GMPLS………………………………….20
1.44 Kết luận…………………………………………………………….……….21
CHƯƠNG 2. CÔNG NGHỆ GMPLS
2.1 Các đặc tính kỹ thuật của GMPLS …………………………….……………….
…… 22
2.1.1 Tính chuyển hướng đa dạng…………… ………………… ………23
2.1.2 Tính năng chuyển tiếp đa dạng……………………………….….… 25
2.1.3 Cấu hình……………… …………………………………….…… 25
2.1.4 Tính mở rộng (Scalability)…………………………………… …… 26
2.1.5 Độ tin cậy (Reliability)………………… ……………………….…29
2.2 Báo hiệu trong mạng GMPLS……………………………………………….30
2.2.1 Giới thiệu chung……… ……………………………………… … 30
2.2.2 Các khuôn dạng liên quan đến nhãn……… ………………… ……33
2.2.3 Nhãn tổng quát…………………………………………… ……….34
2.2.4 Nhãn chuyển mạch chùm bước sóng……………………………… 34
2.2.5 LSP hai chiều…………………………………………………… ….34
2.2.6 Thông báo lỗi nhãn……………………………………………… …36
2.2.7 Điều khiển nhãn tường minh (Explicit Label Control)…………… …36
2.2.8 Thông tin bảo vệ (Protection Information)……………………… … 36
VNPT………………… 51
Error: Reference source not found Error: Reference source not
found………… …Error: Reference source not found
Error: Reference source not found Error: Reference source not found……
……………Error: Reference source not found
Error: Reference source not found Error: Reference source not found .89
3.4 Kết luận chương………………………………………………………… …68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Thuật ngữ viết tắt
Viết tắt Chú giải tiếng Anh Chú giải tiếng Việt
AAL ATM Adaptation Layer Lớp thích ứng ATM
ARP Addresss Resolution Protocol Giao thức phân giải địa chỉ
ASP Automatic Protection Switching Chuyển mạch bảo vệ tự động
ATM Asynchronous Transfer Mode Phương thức truyền tải không
đồng bộ
BGP Border Gateway Protocol Giao thức định tuyến cổng miền
BTT Bidirectional Traffic Trunk Trung kế lưu lượng hai chiều
CR Cell Router Bộ định tuyến tế bào
CSR Cell Switching Router Thiết bị định tuyến chuyển mạch
tế bào
DLCI
Data Link Connection Identifier
Nhận dạng kết nối lớp liên kết
dữ liệu
DVMRP Distance Vector Multicast
Routing Protocol
Giao thức định tuyến multicast
theo vec tơ khoảng cách
EGP Edge Gateway Protocol Giao thức định tuyến cổng biên
FDDI Fiber Distributed Data Interface Giao tiếp dữ liệu cáp quang phân
vụ
MTBF Mean Time Between Failure Thời gian trung bình giữa hai lỗi
liên tiếp
NGN Next Generation Network Mạng thế hệ sau
OSPF Open Shortest Path First Giao thức định tuyến đường
ngắn nhất
PML Path Merging LSR LSR hợp nhất
PP Protected Path Tuyến được bảo vệ
PSL Path Switching LSR LSR chuyển mạch đường
QoS Quality of Service Chất lượng dịch vụ
RPR Resilient Packet Ring Vòng gói khôi phục nhanh
RSVP Resource Reservation Protocol Giao thức giành trước tài nguyên
TAT Theoretical Arrival Time Thời gian đến lý thuyết
TCP Transmission Control Protocol Giao thức điều khiển truyền dẫn
TDP Tag Distribution Protocol Giao thức phân phối thẻ
TE Traffic Engineering Kỹ thuật lưu lượng
TIB Tag Information Base Cở sở thông tin thẻ
TDP Tag Distribution Protocol Giao thức phân bổ thẻ
TLV Type-Length-Value Giá trị-chiều-dài kiểu
TSR Tag Switching Router Router chuyển mạch thẻ
UDP User Data Protocol Giao thức dữ liệu người dùng
UPC Usage Parameter Control Điều khiển tham số sử dụng
VCI Vitual Chennel Identifier Nhận dạng kênh ảo
VPI Vitual Path Identifier Nhận dạng đường ảo
WAN Wide Area Network Mạng diện rộng
TTL Time To Live Thời gian sống
GMPLS Generalized Multi-Protocol
Label Switching
Chuyển mạch nhãn đa giao thức
tổng quát
Đối với nước ta, các công ty viễn thông trong nước, đặc biệt là Tập đoàn Bưu
chính viễn thông Việt Nam (VNPT), đang triển khai mạng NGN. Về vấn đề lựa chọn
công nghệ cho mạng lõi và mạng vùng của mạng NGN của các công ty ở nước ta cần
được nghiên cứu lựa chọn và triển khai.
Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu về công nghệ GMPLS cũng như đưa ra những
đề xuất giải pháp áp dụng triển khai công nghệ này trên mạng NGN của Việt Nam là
cần thiết.
Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp là “Nghiên cứu
công nghệ GMPLS và ứng dụng cho mạng truyền tải NGN của VNPT”. Được đặt
ra cho luận văn chính là để giải quyết yêu cầu trên.
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu tìm hiểu về công nghệ GMPLS cũng như
đưa ra những đề xuất giải pháp áp dụng triển khai công nghệ này cho mạng truyền tải
NGN của VNPT cần thiết.
Do còn rất nhiều hạn chế về trình độ và thời gian nên đề tài này không tránh
khỏi các sai sót.Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và góp ý của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Viễn Thông 1 đã tạo mọi điều
kiện tốt nhất cho em trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp.Trong đó đặc biệt là thầy
Hoàng Văn Võ đã tận tình chỉ bảo,hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em về mọi mặt để
em hoàn thành đồ án này.
Hà Nội, tháng 10/2012
Sinh Viên: Ngô Ngọc Thanh
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GMPLS
1.1. Xu hướng phát triển của các dịch vụ viễn thông
• Sự bùng nổ của các dịch vụ trên Internet
Trong hiện tại và tương lai, nhu cầu sử dụng các dịch vụ Internet sẽ rất cao. Các
trang web chứa âm thanh, hình ảnh là phổ biến. Người dùng sẽ được cung cấp các sản
phẩm truyền thông đa phương tiện như giáo dục từ xa, hội nghị truyền hình, các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ tài chính, bảo hiểm.
• Sự tích hợp dịch vụ
Giá thành là một yếu tố khá quan trọng trong xu hướng sử dụng dịch vụ. Giá của
các dịch vụ giảm xuống trên phạm vi toàn thế giới khi mở rộng thị trường viễn thông.
Tuy nhiên các dịch vụ mới (ví dụ SMS) đang nổi lên sẽ chiếm lấy những phần doanh
thu giảm xuống này. Dịch vụ SMS có tỉ lệ giá thành trên mỗi bit cao nhất so với bất cứ
loại dịch vụ nào khác cho khách hàng. Đây cũng là dịch vụ có yêu cầu về QoS thấp
nhất (không tương tác, không theo thời gian thực, tốc độ bít tối thiểu, không đảm bảo
tốc độ và chỉ ở mức truyền dữ liệu nỗ lực tối đa). Một ví dụ nữa cho hiệu quả của dịch
vụ mới là VoIP. Doanh thu và lưu lượng tăng nhanh của VoIP đồng thời giá thành của
dịch vụ giảm 75% so với các dịch vụ truyền thống. Qua những phân tích trên có thể
thấy xu hướng sử dụng dịch vụ theo hướng tăng tính giải trí, tăng tính di động, tăng
khả năng thích nghi giữa các mạng, tăng tính bảo mật, tăng tích tương tác nhóm, giảm
chi phí…
1.2. Xu hướng phát triển của công nghệ truyền tải quang
1.2.1. Sự phát triển của cấu trúc mạng
Theo quan niệm phát triển gần đây, người ta mong muốn tích hợp mạng truy
nhập với mạng lõi và mạng Vùng, cụ thể là hỗ trợ điều khiển kết nối từ đầu đến cuối,
và chính nó là một đặc tính của “văn hoá Internet”. Như vậy cũng có thay đổi trong
việc phân bố các chức năng giữa các mạng truy nhập và mạng lõi/vùng. Việc chuyển
đổi sang mạng thông tin trên cơ sở gói và việc bó hẹp vai trò của chuyển mạch và tổng
đài truyền thống cũng hỗ trợ việc xoá nhoà ranh giới giữa mạng truy nhập và mạng
lõi.
Về mặt công nghệ, tính đa dạng sẽ là đối tượng được quan tâm. Công nghệ được
phát triển cho mạng truy nhập và mạng lõi dần chuyển đổi từ phần truy nhập của mạng
và ngược lại. Một ví dụ là mạng chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS được dùng để
hỗ trợ cho thiết kế lưu lượng và QoS cho mạng lõi tuy nhiên lại xuất hiện ngày càng
nhiều trong các mô hình thiết kế mạng truy nhập tương lai của các chuyên gia.
Điều này rất được mong đợi và được xem như sự tăng tốc khi mà công nghệ và
quá trình phát triển tạo thành một công nghiệp hoá và một lượng sản phẩm lớn nhất.
Có hai ví dụ nữa (ở biên mạng truy nhập), thứ nhất là Ethernet ban đầu được thiết kế
sử dụng cho mạng LAN tuy nhiên hiện nay IEEE đã đề xuất sử dụng làm công nghệ
Hình 1.1. Loại bỏ ngăn giao thức trung gian
Khi đó các bộ xen rẽ quang linh hoạt sẽ trở nên là một bộ phận cần thiết cho
mạng WDM. Khi có thêm các bước sóng được triển khai trên mạng tải dẫn đến tăng
nhu cầu về quản lý dung lượng. Cũng như các bộ đấu chéo số đặt vấn đề quản lý dung
lượng trong lớp điện thì các bộ đấu chéo quang (OXC) đặt vấn đề quản lý dung lượng
lớp quang.
Kiến trúc OTN bao gồm phần lõi, vùng và truy nhập tốc độ cao. Lúc đầu nhu
cầu quản lý băng tần lớp quang chủ yếu ở môi trường mạng lõi, tuy nhiên khi số lượng
khách hàng và máy chủ trong mạng truy nhập tăng lên và trở thành nút cổ chai cho
truyền tải dữ liệu, khả năng kết nối logic dựa trên mạng “mesh” trong mạng lõi sẽ hỗ
trợ thông qua topo vật lý, gồm có các OADM trên cơ sở SPRing và OXC dựa trên
kiến trúc phục hồi “mesh”. Khi nhu cầu băng tần cho mạng vùng và truy nhập tăng lên
các bộ OADM cũng sẽ được sử dụng.
Điều này cho thấy rằng mạng lõi và mạng vùng sẽ phát triển chỉ trên nền công
nghệ IP và WDM. Kiến trúc của mạng thế hệ mới sẽ mang những ưu điểm của lớp
mạng IP tich hợp trực tiếp lên trên lớp truyền tải WDM. Sự kết hợp của IP trên WDM
có thể đi theo nhiều hướng khác nhau bằng cách triển khai đơn giản hoá các ngăn giao
thức mạng như gói trên SDH, Gigabit Ethernet.
Nguyên tắc cơ bản cho việc tích hợp kiến trúc IP/WDM là WDM được coi như
công nghệ đường trục và IP liên kết với thiết bị WDM ở biên của mạng lõi. Hạ tầng
quang sẽ dần được chuyển đổi xuất phát từ công nghệ ATM/SDH. Các topo khác nhau
của thiết bị WDM có thể truyển khai ở khu vực mạng trục và mạng vùng. Các nhà
khai thác mạng hiện tại có thể cũng triển khai mạng như vậy trong trường hợp họ tích
hợp mạng ATM và SDH hiện tại với thiết bị DWDM bằng cách sử dụng mạng đường
trục WDM để tải lưu lượng ATM và SDH.
Phần mạng đường trục: gồm các PoP IP lõi liên kết với nhau qua mạng đường
trục WDM. Kích cỡ topo mạng đường trục WDM phụ thuộc vào khoảng cách giữa các
PoP IP. Đối với các mạng mesh và các vòng ring liên kết từ các hệ thống WDM điểm
điểm có khoảng cách lớn và suy hao đáng kể sẽ phổ biến hơn trong khi với những
khoảng cách nhỏ hơn và cấu trúc tương tự có thể áp dụng vào phần mạng vùng.
mạng quang thụ động gigabit (GPON) sẽ trở nên phổ biến.
Các nhà khai thác mạng có thể giới hạn các khách hàng của họ chỉ với một vài
Mbit/s tuy nhiên các đường truyền là hàng gigabit và đến một lúc nào đó khả năng
cung cấp các dịch vụ truy nhập Gigabit sẽ thành hiện thực. Trong khi chờ đợi, công
nghệ và các giao thức sẽ được chia sẻ trên đường truyền hiện tại cho hàng ngàn các
khách hàng khác nhau mà vẫn đáp ứng tốt. Đó là một bước đơn giản trong quá trình
tiến tới các trung kế Ethernet trên các bước sóng riêng biệt, tất cả được ghép kênh trên
một đôi sợi quang sử dụng công nghệ DWDM. Đây là phương pháp mà các đường
truyền Gigabit điểm điểm có thể đạt được kênh 10-40Gbit/s với băng tần tổng hợp có
lẽ khoảng 400Gbit/s. Tất nhiên loại mạng như thế này yêu cầu về chuyển mạch quang
rất lớn ở mỗi đầu sợi quang.
Băng tần các dịch vụ truy nhập Gigabit (GEPON/GPON) có lẽ chỉ bị giới hạn
bởi băng tần sợi quang (khoảng 25Tbit/s cho loại sợi hiện nay) và vẫn thoải mái trong
trong khả năng của laser và điện tử hiện nay. Tuy nhiên bằng ngoại suy với xu hướng
này chúng ta có thể tới mức đó trong khoảng 5-10 năm nữa.
Mô hình mạng Vùng của các ISP trong tương lai được chỉ ra ở hình 1.2.
Trong trường hợp các bộ định tuyến cung cấp giao diện làm việc ở bước sóng
15xx nm để truyền dẫn, sẽ không cần các bộ chuyển tiếp trong các bộ OADM. Trường
hợp thông thường khi các bộ định tuyến làm việc ở giao diện quang 1310 nm và cần
chuyển đổi bước sóng thành 15xx nm bằg cac bộ chuyển đổi hai chiều. Các bộ chuyển
tiếp chuyển tín hiệu quang thành tín hiệu điện rồi lại chuyển lại thành tín hiệu quang.
Hình 1.2. Mạng Vùng của các ISP trong tương lai
Mạng diện rộng thường có một phần mạng quang WDM loại mesh. Tốc độ
truyền dẫn lớn hơn 10 Gbit/s mỗi bước sóng được cung cấp truy nhập tới băng tần
Terabit giữa các mạng vùng. Dải công suất đủ cho khoảng cách tới 1000 km mà không
cần trạm lặp với chất lượng đảm bảo. Các bộ khuếch đại quang được triển khai để tăng
toàn bộ tín hiệu quang được ghép kênh hoặc tái tạo tách rời từng kênh quang.
b) Sự phát triển của mạng truy nhập quang
Nhu cầp truy nhập băng rộng của khách hàng tăng rất nhanh. Mạng nội dung sẽ
a) SONET/SDH-NG
SONET/SDH-NG là công nghệ phát triển trên nền SONET/SDH truyền thống.
SONET/SDH-NG giữ lại một số đặc tính của SONET/SDH truyền thống và loại bỏ
những đặc tính không cần thiết. Mục đích cơ bản của SONET/SDH-NG là cải tiến
công nghệ SONET/SDH với mục đích vẫn cung cấp các dịch vụ TDM như đối với
SONET/SDH truyền thống trong khi vẫn xử lý truyền tải một cách hiệu quả đối với
các dịch vụ truyền dữ liệu trên cùng một hệ thống truyền tải.
Về cơ bản, SONET/SDH-NG cung cấp các năng lực chính như chuyển mạch bảo
vệ và ring phục hồi, quản lý luồng, giám sát chất lượng, bảo dưỡng từ xa và các chức
năng giám sát khác. Đồng thời chức năng quản lý gói cũng được cải thiện đáng kể với
độ mịn lớn hơn của SONET truyền thống rất nhiều.
SONET/SDH-NG sử dụng các cơ chế ghép kênh mới để kết hợp các dịch vụ
khách hàng đa giao thức thành các container SONET/SDH ghép ảo hoặc chuẩn. Công
nghệ này có thể được sử dụng để thiết lập các MSPP TDM/gói lai hoặc cung cấp định
khung luồng bít cho một cấu trúc mạng gói. Điểm hấp dẫn nhất của SONET/SDH-NG
là nó được xây dựng dựa trên một công nghệ có sẵn và phát huy những ưu điểm của
SONET/SDH.
b) Ethernet/Gigabit Ethernet
Ethernet là một công nghệ đã được áp dụng phổ biến cho mạng cục bộ LAN
(Local Area Network). Trong tất cả các công nghệ được sử dụng trong các mạng
MAN hiện nay thì Ethernet là một chủ đề được chú ý nhiều nhất do có những lợi thế
như đơn giản về chức năng thực hiện và chi phí xây dựng thấp. Hơn nữa, việc sử dụng
Ethernet sẽ mở ra những cơ hội cho các dịch vụ đa phương tiện, do đó tạo nên những
luồng lợi nhuận mới cho các nhà khai thác mạng.
Công nghệ Ethernet được ứng dụng xây dựng mạng với 2 mục đích:
- Cung cấp các giao diện cho các loại hình dịch vụ phổ thông, có khả năng cung
cấp nhiều loại hình dịch vụ thoại và số liệu.
- Ethernet được xem như một cơ chế truyền tải cơ sở, có khả năng truyền tải lưu
lượng trên nhiều tiện ích truyền dẫn khác nhau.
Gigabit Ethernet là bước phát triển tiếp theo của công nghệ Ethernet, Ngoài đặc
MPLS được thiết kế cho các dịch vụ trong các mạng gói, nhưng một phiên bản
mới là GMPLS thì lại được phát triển cho các mạng toàn quang, bao gồm các kết nối
SONET/SDH, WDM và truyền trực tiếp trên sợi quang. GMPLS có khả năng cấu hình
các luồng lưu lượng dạng gói và cả các dạng lưu lượng khác.
GMPLS đã mở ra khả năng đạt được sự hợp nhất các môi trường mạng số liệu
truyền thống và quang. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều khó khăn khi triển khai GMPLS
trên các mạng đã lắp đặt.
d) Công nghệ IP
Sự phát triển của công nghệ IP gắn liền với sự phát triển của mạng Internet. Rất
nhiều vấn đề nảy sinh trong mạng Internet cần được giải quyết. Sức mạnh của Internet
có thể thuyết phục được chính phủ hầu hết các nước, các công ty lớn nên những dự án
liên quan đến Internet được đầu tư thoả đáng. Ngoài ra, bản thân những nhà nghiên
cứu đều sử dụng Internet trong công việc hàng ngày. Đó là những nhân tố thúc đẩy
Internet phát triển, hoàn thiện dịch vụ, mở rộng các tính năng mới…
Do những hạn chế của Ipv4 nên người ta đã đưa ra Ipv6. Giao thức IPv6 giữ lại
nhiều đặc điểm làm nên thành công của Ipv4: hỗ trợ phi kết nối, khả năng phân đoạn,
định tuyến nguồn
Đặc điểm cơ bản của IPv6 có thể tóm tắt như sau:
• Không gian địa chỉ lớn hơn.
• Phân cấp địa chỉ được mở rộng.
• Định dạng header đơn giản
• Hỗ trợ việc tự động cấu hình và đánh số lại.
• Tăng thêm các tuỳ chọn. T.
e) WDM
Công nghệ truyền dẫn quang ghép kênh theo bước sóng WDM là một công nghệ
truyền tải quang cho phép truyền đồng thời nhiều tín hiệu quang thông qua các bước
sóng khác nhau trên một sợi quang. Điều này cho phép tăng năng lực truyền tải thông
tin của sợi quang lên hàng chục tới hàng trăm lần (công nghệ này hiện tại đã cho phép
xây dựng các hệ thống WDM có thể truyền tải đồng thời 160 bước sóng quang, mỗi
bước sóng có thể truyền thông tin với tốc độ 80Gbít/s). Hiện nay công nghệ WDM
pháp thích hợp để thực hiện định khung và wrapping quang. Hay nói cách khác là họ
“gói” các tín hiệu khác theo cơ chế định khung-sử dụng các wrapper số cung cấp các
chức năng giám sát và quản lý và ghép kênh bậc cao. Mục đích của việc định khung
quang trong các hệ thống WDM là để sản xuất ra một thiết bị nhận diện bước sóng,
thiết bị này có thể cung cấp truyền tải cho tất cả các giao thức lớp thấp hơn khác, bao
gồm cả SONET.
1.2. Tổng quan về công nghệ GMPLS
Công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS (Generalized
Multiprotocol Labed Switching là bước phát triển theo của công nghệ chuyển mạch
nhãn đa giao thức MPLS (Multiprotocol Labed Switching). GMPLS thực chất là sự
mở rộng chức năng điều khiển của mạng MPLS, nó cho phép kiến tạo mặt phẳng điểu
khiển quản lý thống nhất không chỉ ở lớp mạng mà còn thực hiện đối với các lớp ứng
dụng, truyền dẫn và lớp vật lý. Việc kiến tạo một mặt phẳng điều khiển thống nhất đối
với các lớp mạng hứa hẹn khả năng tạo ra một mạng đơn giản về điều hành và quản lý,
cho phép cung cấp các kết nối từ đầu cuối tới đầu, quản lý tài nguyên mạng một cách
hoàn toàn tự động và cung cấp các mức chất lượng dịch vụ (QoS) khác nhau các ứng
dụng trên mạng.
Xu hướng phát triển mạnh mẽ việc xây dựng các hệ thống truyền tải quang trong
cơ sở hạ tầng mạng viễn thông quốc tế nói chung, của quốc gia và các nhà cung cấp
dịch vụ mạng nói riêng đã phần nào đáp ứng nhu cầu rất lớn về băng thông truyền tải
cho các ứng dụng mới trên mạng, chẳng hạn như ứng dụng mạng lưu trữ, thuê băng
thông, cập nhật dữ liệu trực truyến trong cơ sở hạ tầng mạng truyền tải đa dịch vụ.
Hiện nay người ta cho rằng để đáp ứng được nhu cầu băng thông cho các ứng dụng
dịch vụ thì mạng truyền tải chủ yếu sẽ là các hệ thống truyền dẫn trên sợi quang với
các thiết bị ghép tách luồng ADM, thiết bị ghép bước sóng quang WDM, thiết bị đấu
chéo luồng quang OXC Sự đa dạng và phức tạp trong quản lý các phần tử mạng tại
các phân lớp mạng khác nhau là nhân tố cơ bản thuc đẩy việc nghiên cứu cải tiến bộ
giao thức MPLS thành GMPLS không ngoài mục đích thống nhất quản lý giữa các
thực thể mạng không chỉ ở phương thức chuyển mạch gói mà MPLS đã thực hiện mà
còn cả trong lĩnh vực chuyển mạch thời gian, không gian. GMPLS còn mở rộng chức
người sử dụng bắt đầu từ điểm nguồn của có thể được truyền tải qua nhiều phạm vi
mạng. Ví dụ, lưu lượng theo nhiều loại hình truy nhập khác nhau của nhiều người sử
dụng được tập trung tích hợp tại một nút mạng truy nhập hoặc nút mạng biên và sau
đó được truyền tải vào nút mạng đô thị theo công nghệ SDH hoặc công nghệ
ATM Các luồng lưu lượng từ mạng đô thị này này lại được tập trung tích hợp một
lần nữa để đưa tới mạng đường trục bằng bước sóng mang lưu lượng, trên hướng
truyền ngược lại cũng thực hiện với phương thức tương tự. Như vậy việc thực hiện
truyền tải lưu lượng như đã nói ở trên qua rất nhiều các phương tiện truyền tải khác
nhau, sử dụng các công nghệ khác nhau,. Do vậy nếu như thống nhất được về mặt
điều khiển, quản lý, xử lý lưu lượng thì sẽ là một ưu điểm tuyệt đối trong việc truyền
tải lưu lượng và quản lý sử dụng tài nguyên hiệu quả, cung ứng dịch vụ mạng nhanh
chóng. Đồng thời, đó là những mục tiêu thực hiện mà GMPLS hướng tới.
1.4. Kết luận
Hiện nay xu hứng phát triển của các dịch vụ viễn thông ngày càng lớn với những
yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao như khả năng tích hợp được nhiều dịch vụ, khả năng di
động cũng như chuyễn vùng được mở rộng chất lượng dịch vụ ngày càng cao, giá
thành rẻ, nên đòi hỏi nhà cung cấp khai thác dịch vụ viễn thông phải đáp ứng được
nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Để ngày càng đáp ứng được những nhu cầu trên các nhà khai thác mạng viễn
thông phải xây dựng cho mình một mạng truyền tải có khả năng đáp ứng được mọi
nhu cầu hiện tại cũng như tương lai của khách hàng và đó chính là mạng truyền tải
quang trong đó phải xây dựng một cấu trúc mạng phù hợp kèm theo các công nghệ
truyền tải.
Khi mạng truyền tải đủ khả năng đáp ứng các công nghệ truyền tải ngày càng
cao thì khả năng chuyển mạch của mạng cũng ngày càng được nâng lên để đáp ứng và
chính điều đó chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quan GMPLS ra đời.
CHƯƠNG 2. CÔNG NGHỆ GMPLS
Công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS là bước phát triển
theo của công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS. GMPLS thực chất là sự
mở rộng chức năng điều khiển của mạng MPLS, nó cho phép kiến tạo mặt phẳng điểu
đường lên đối với đường xuống của LSR. GMPLS thực hiện bằng cách cho phép
đường lên của LSR đề xuất trước giá trị của nhãn cho một LSP và giá trị nhãn này có
thể được thay thế bằng giá trị nhãn gửi trả lại từ đường xuống của LSR.
b. Kiến tạo các LSP trong mạng GMPLS
Thực hiện kiến tạo một LSP trong mạng GMPLS cũng tương tự như trong mạng
MPLS. Hình 2.1 thể hiện quá trình một mạng chuyển mạch gói (PSC) kết nối qua ống
STM-4 đến DSC của phần tử mạng TDM.
Hình 2.1. Thiết lập một LSP qua môi trường mạng không đồng nhất bằng GMPLS
Để thiết lập LSPpc giữa LSR1 và LSR2, các LSP trung gian trong mạng cần
được kiến tạo theo kiểu đường hầm qua các LSP ở phân lớp dưới. Ví dụ, trong hình vẽ
trên thể hiện cấu trúc đường hầm LSPT1 cho các LSP1, LSP2 và LSP3 nếu như tổng
lưu lượng yêu cầu bởi các LSP này có thể được phục vụ bởi LSPT1.
Quá trình thiết lập này được khởi đầu bởi bản tin chứa PATH/Label gửi tới đầu
kết cuối từ đường xuống, nó chứa đựng thông tin về cấu hình LSP. Cụ thể ở đây là
DSCi sẽ gửi bản tin tới OXC1 và kết thúc bản tin tại DSCe. Khi OXC1 nhận được bản
tin nó sẽ tạo một LSP giữa nó và OXC2. Chỉ khi LSP này được tạo lập thì các LSP
giữa DSCi và DSC2 mới được tạo lập.
Gói tin yêu cầu PATH/Label chứa đựng thông tin yêu cầu nhãn tổng quát trong
đó mô tả dạng của LSP (nghĩa là mô tả tới phân lớp nào quản lý LSP) và loại hình tải
tin (ví dụ như DS-x, VT ). Các tham số cụ thế khác như loại báo hiệu, bảo vệ, hướng
của LSP và các nhãn đề xuất đều được chỉ thị trong bản tin này. Trên đường xuống
của mỗi nút mạng sẽ gửi các bản tin hướng ngược lại RESV/Label Mapping có nhãn
tổng quát chứa một vài nhãn tổng quát khác.
Khi LSR khởi đầu thu được nhãn tổng quát nó thực hiện kiến tạo một LSP qua
từng chặng của mạng bằng bản tin RSVP/PATH. Tuần tự thực hiện của quá trình nói
trên xảy ra như sau:
- LSP được tạo lập giữa OXC1 và OXC2 (LSPl) có dung lượng truyền tải STM-
64 làm đường hầm cho các TDM LSP khác, LSP được tạo lập giữa DSCi và DSCe
- LSP được tạo lập giữa DS–1 và DS–2 (các LSP bên trong hai mạng TDM
được tạo lập trước khi tạo lập LSP này).