KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƢƠNG
I. Ý nghĩa chung của môn học
Xã hội càng văn minh, phát triển bao nhiêu thì đòi hỏi đầu tiên là do cách
thức suy nghĩ, ứng xử, hành động của con người. Sự cần thiết phải giữ cho chế
độ xã hội luôn ở trong vòng trật tự, bình an và hạnh phúc luôn là khát vọng tranh
đấu của con người và nhân loại nói chung. Để đạt được mục đích cao cả đó,
ngoài việc xây dựng được các quy tắc, chuẩn mực xử sự của con người một cách
rõ ràng thì điều quan trọng nhất là làm sao để cho mỗi thành viên trong xã hội
phải hiểu hết ý nghĩa, có tình cảm và nhận thức được những giá trị của việc hành
xử theo đúng các quy tắc xã hội trong những hoàn cảnh lịch sử xác định.
Môn học pháp luật đại cương được đưa vào giảng dạy trong các trường đại
học và trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam mang một ý nghĩa chính trị-pháp lý
sâu sắc. Nó góp phần bước đầu nâng cao nhận thức của các sinh viên không
chuyên ngành luật học nhận thức được những vấn đề cơ bản về Nhà nước và
Pháp luật. Có được cái nhìn tổng quan chung trên cơ sở hiểu được những giá trị
xã hội của các vấn đề về Nhà nước và Pháp luật. Từ hệ thống tri thức sinh viên
đã thu nhận được, sẽ hình thành ý thức pháp luật và niềm tin của sinh viên với tư
cách là công dân, giúp cho việc hành xử đi vào các chuẩn mực xã hội phù hợp
với phong cách văn minh trong thời đại hội nhập quốc tế ngay nay. Và đặc biệt,
cao hơn nữa chính là sự vận dụng các giá trị xã hội của Nhà nước và pháp luật
vào đời sống thực tiễn phục vụ cho những nhu cầu, lợi ích của cá nhân, cộng
đồng.
Về tên gọi và nội dung chương trình: đối với sinh viên chuyên ngành luật,
các sinh viên được học môn này với tên gọi “Lý luận chung về nhà nước và
pháp luật” và hai môn bổ trợ khác là “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”,
“Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam” với một thời lượng khoảng 200 tiết.
Đối với sinh viên không chuyên ngành luật, môn học được lấy tên là “Pháp luật
đại cương” và chỉ nghiên cứu những vấn đề chung cơ bản nhất mà thôi. Thật ra,
dù với tên gọi “Lý luận chung về nhà nước và pháp luật” hay “Pháp luật đại
cương” thì đối tượng nghiên cứu của chúng đều là như nhau cả. Đều nghiên cứu
cận, lý giải, xây dựng mô hình và đưa ra các kiến giải ứng dụng về Nhà nước và
pháp luật phù hợp với thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
và toàn cầu hóa.
Với phương pháp và cách thức tiếp cận này, đòi hỏi việc nghiên cứu pháp
luật phải tuân thủ các nguyên tắc khoa học sau đây:
- Xuất phát từ đời sống vật chất và tinh thần của đời sống xã hội, coi đó là
nền tảng cơ sở và là nguồn gốc làm phát sinh vấn đề Nhà nước và pháp luật
3
- Đặt vấn đề nghiên cứu trong sự vận động biện chứng trong mối quan hệ
chặt chẽ, hữu cơ với đời sống kinh tế xã hội trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể
của quốc gia, dân tộc để thấy được cơ sở và nguyên nhân phát sinh, tồn tại, biến
đổi cũng như tính chất và quy luật đặc thù của hiện tượng Nhà nước và pháp
luật.
- Kế thừa các học thuyết, tư tưởng, tri thức chung về Nhà nước và pháp luật
theo suốt chiều dài lịch sử của nhân loại. Trong bối cảnh đất nước ta đã hội nhập
quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta cần hướng tới việc
vừa chủ động nghiên cứu, tiếp nhận thành quả tri thức của nhân loại, vừa phát
huy truyền thống quý báu và các thành quả của khoa học pháp lý nước nhà cũng
như các kinh trong việc tổ chức mô hình Nhà nước và pháp luật Việt Nam từ
xưa đến nay.
- Tránh hiện tượng giáo điều, rập khuôn, máy móc
- Kết hợp hài hòa các phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp,
so sánh và trừu tượng khoa học để làm rõ được bản chất cácvấn đề về Nhà nước
và pháp luật.
IV. Mối tƣơng quan giữa Pháp luật đại cƣơng và các khoa học xã hội
khác
1. Quan hệ với Triết học
Triết học đóng vai trò là khoa học lý luận soi đường chung cho các khoa
học khác. Pháp luật đại cương lấy phép biện chứng duy vật làm phương pháp
- Nguồn gốc Pháp luật
- Bản chất Pháp luật, chức năng và hình thức Pháp luật
- Đặc điểm của Pháp luật
- Các kiểu pháp luật trong lịch sử
4. Quy phạm pháp luật và Văn bản quy phạm pháp luật
5. Quan hệ pháp luật
- Khái niệm, đặc điểm
- Chủ thể, quyền và nghĩa vụ pháp lý
- Phân loại quan hệ pháp luật
6. Thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật
7. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
8. Hệ thống pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam
5
CHƢƠNG 1
NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, HÌNH THỨC
CỦA NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP LUẬT
1.1. Nguồn gốc, bản chất, chức năng, hình thức nhà nƣớc
1.1.1. Nguồn gốc nhà nƣớc
Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt được lập ra để thự hiện chức
năng quản lý đời sống xã hội. Tổ chức đó rất đa dạng về loại hình, bản chất và
phức tạp về tổ chức. Sự ra đời và tồn tại của nhà nước gắn liền với nhiều biến cố
xã hội và có mối quan hệ chặt chẽ với lợi ích của các giai cấp và tầng lớp trong
xã hội. Có rất nhiều quan điểm, tư tưởng và học thuyết giải thích về nguồn gốc
ra đời của nhà nước. Tựu trung, có thể xếp thành hai nhóm quan điểm, tư tưởng
sau đây:
tôn giáo, những người này là sứ giả của thần linh giao trách nhiệm trong coi xã
hội và đời sống con người. Vì vậy nhà nước là tổ chức do các giáo sĩ có sứ mạng
lãnh đạo xã hội, dẫn dắt mọi người theo ý muốn của đấng tối cao.
Tất cả các quan điểm trên đây do hạn chế về mặt lịch sử hoặc quan điểm
giai cấp cho nên kiến giải về nguồn gốc ra đời của nhà nước trong sự tách rời
khỏi đời sống vật chất của xã hội, hoặc gán ghép cho các ý chí chủ quan của con
người hoặc tuyệt đối hóa ý chí thần linh…,cho nên đã có những giải thích không
đúng về nguồn gốc ra đời cũng như bản chất của Nhà nước.
* Quan điểm đúng về nguồn gốc Nhà nƣớc
Thể hiện sinh động ở hệ tư tưởng Mác –Lênin về nguồn gốc nhà nước. Dựa
trên thành quả nghiên cứu khoa học của nhân loại, tiếp thu có chọn lọc các hạt
nhân hợp lý của các học thuyết tư tưởng trước đó, các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác đã xây dựng học thuyết cách mạng, giải thích một cách lôgic, biện
chứng, khoa học và đầy tính thuyết phục về nguồn gốc ra đời của nhà nước. Tư
tưởng đó tập trung cô đọng nhất trong các tác phẩm của Ph.Ăngghen và
V.Lênin(Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước; Nhà
nước và cách mạng)
Xã hội loài người đã qua một thời kỳ lịch sử không có Nhà nước, đó là thời
kỳ công xã nguyên thủy. Là thời kỳ mà con người sống quần cư thành từng bầy
đàn, ăn chung, làm chung, ở chung. Sinh hoạt cộng đồng được điều chỉnh bằng ý
thức tự giác, bằng các chuẩn mực đạo đức, nghi thức tôn giáo.
Đơn vị xã hội của từng nhóm người gọi là thị tộc, bộ lạc. Các tổ chức thị
tộc, bộ lạc vận hành theo chế độ tự quản, sức mạnh của tổ chức thị tộc chính là
quyền lực chung không tách rời khỏi xã hội.
Công việc tổ chức quản lý, giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống
được giao cho một Hội đồng thị tộc được lập ra gồm những người đàn ông, đàn
bà lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm, uy tín.
7
Sở dĩ thời kỳ công xã nguyên thủy không có nhà nước và con người cũng
chức thị tộc, đẩy loài người đến chỗ phân hóa giai cấp và bất bình đẳng xã hội,
tạo ra những xung đột xã hội về mặt lợi ích giữa kẻ giàu và người nghèo, đó là
biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp. Để giải quyết mâu thuẩn này, giữ cho xã
hội được trong vòng yên ổn, một tổ chức đặc biệt tất yếu ra đời. Tổ chức đặc
8
biệt ấy là Nhà nước, do giai cấp nắm quyền lực kinh tế (nhờ vào tích lũy và
chiếm đoạt được) thiết lập nên.
Thực tiễn lịch sử cho thấy nhà nước đã xuất hiện dưới ba hình thức cơ bản
sau:
- Nhà nƣớc Aten: ra đời trực tiếp từ mẫu thuẫn giai cấp đối kháng phát sinh
trong lòng xã hội thị tộc, không có sự tác động nào từ bên ngoài.
- Nhà nƣớc La Mã: xuất hiện bởi cuộc đấu tranh giữa những người thường
dân chống lại giới quý tộc của các thị tộc La Mã chiến thắng của những người
thường dân đã phá vỡ tổ chức thị tộc, thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước
dựa trên sự phân chia lãnh thổ và sự khác biệt về tài sản.
- Nhà nƣớc Giecmanh: được thành lập trên cơ sở người Giecmanh xâm
chiếm các vùng đất rộng lớn của đế chế La Mã cổ đại, chịu ảnh hưởng của nền
văn minh Hy - La (Hy Lạp và La Mã). Nhà nước ra đời là do nhu cầu phải thiết
lập nền thống trị của người Giecmanh trên đất La Mã. Khi nhà nước được thiết
lập thì trong xã hội Giecmanh vẫn còn là chế độ thị tộc.
Đặc thù riêng của phương Đông(ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp và
bảo vệ lãnh thổ): ở Phương Đông, nhà nước hầu như không phải xuất hiện từ
nhu cầu bức thiết của xung đột lợi ích giai cấp dẫn đến phải điều hòa cuộc đấu
tranh giai cấp, mà lại xuất hiện dựa trên yêu cầu cấp thiết của công việc trị thủy,
chống ngoại xâm vì lợi ích chung. Các nhà nước cổ đại ở Ai Cập, Trung Quốc,
Ấn Độ, Lưỡng Hà là những nhà nước đầu tiên ở phương Đông ra đời theo cách
này.
* Sự xuất hiện nhà nƣớc ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, Nhà nước xuất hiện vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ 2
12- Hoài Hoan(Nghệ An)
13- Cửu Đức(Hà Tĩnh)
14- Việt Thường(Quảng Bình)
15- Bình Văn(chưa rõ nơi nào)
* Hoạt động thực hiện chức năng nhà nƣớc
- Về đối nội:
- Chủ yếu chăm lo phát triển sản xuất, tập trung chủ yếu vào các ngành chăn
nuôi và trồng trọt.
- Thương mại chưa được chú trọng.
Hùng Vương đặc biệt quan tâm chăm lo trị thủy nông nghiệp để phát triển
nghề trồng lúa nước. Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy tinh là một minh chứng về
10
việc Hùng Vương tập hợp lực lượng toàn dân chống lũ lụt, trị thủy, bảo vệ mùa
màng và tính mạng muôn dân.
- Đối ngoại: phòng thủy xâm lăng. Truyền thuyết Thánh Gióng ghi lại cuộc
kháng chiến chống giặc Ân(thế lực ngoại bang giáp giới với Văn Lang) của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Hùng Vương thứ sáu.
* Pháp luật của Nhà nƣớc Văn Lang:
Pháp luật thực chất là các ý chỉ của nhà vua(Hùng Vương), chủ yếu dựa trên
các tập quán, phong tục đạo đức có sẵn để nâng lên thành luật. Kẻ làm sai luật ắt
phải chịu hình phạt. Bằng chứng lịch sử không có nhiều cho chúng ta biết pháp
luật có các chế định cụ thể gì, có các hình phạt loại gì và các mức phạt cụ thể ra
sao.
Qua một số truyền thuyết lịch sử, chúng ta có thể nhận diện pháp luật thời
kỳ nhà nước Văn Lang thể hiện ở hình thức và mức độ như sau:
Về Hình sự, đã có việc định ra và áp dụng hình phạt. Câu chuyện “Dưa
hấu” về Mai An Tiêm thể hiện rõ điều này. Mai An Tiêm vì có hành vi xúc
phạm đến thể diện của vua cha mà bị đày ra hoang đảo giữa biển khơi. Đến khi
biết hối lỗi thì Hùng Vương cho đón về.
kiến) tỉnh, thành phố, khu tự trị, huyện, xã(thời hiện đại)… Đồng thời với việc
phân chia lãnh thổ là phân chia dân cư theo đơn vị hành chính mà không phân
biệt dân tộc, giới tính, độ tuổi, tôn giáo, huyết thống, văn hóa. Mỗi địa bàn lãnh
thổ được phân chia sẽ tổ chức hệ thống quản lý nhà nước đặt trong sự chi phối
chung của nhà nước trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. Hoàn toàn khác với việc
phân chia dân cư trong xã hội thị tộc.
Việc phân chia dân cư theo lãnh thổ đặc trung bằng chế độ quản lý hộ tịch(ở
Việt Nam), chế độ quản lý nhập cư(ở Mỹ), chế độ bảo hiểm y tế(Nhật Bản). Quá
trình phân chia và quản lý dân cư cũng như đơn vị hành chính không phải là cố
định, bất biến mà luôn có những biến động thay đổi do yêu cầu của sự vận động
khách quan về tình hình kinh tế – xã hội và những nhu cầu của thực tiễn cũng
như năng lực quản lý của Nhà nước đối với dân cư cũng như yêu cầu phát triển
các khu vực, vùng và đơn vị hành chính.
Ví dụ: ở Việt nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp các đơn vị hành
chính được chi thành các Khu, tỉnh tương đối lớn. Trong thời kỳ đổi mới và phát
triển kinh tế thì nhà nước Việt Nam lại phân chia các đơn vị hành chính cấp tỉnh,
huyện, xã theo hướng phân chia nhỏ hơn thời kỳ trước đây.
+ Nhà nƣớc thiết lập quyền lực công
Nhà nước là tổ chức quyền lực tách rời và đứng lên trên xã hội. Quyền lực
này mang tính chính trị, giai cấp. Để thực hiện thứ quyền lực công vô cùng
mạnh mẽ ấy, Nhà nước thiết lập một bộ máy các cơ quan công quyền: Cơ quan
quản lý, quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… trang bị đầy đủ các công cụ, phương
12
tiện cần thiết để duy trì trật tự xã hội và địa vị của giai cấp thống trị, trấn áp và
buộc các giai cấp khác phải phục tùng ý chí của Nhà nước.
Quyền lực công chính là mệnh lệnh thể hiện uy quyền của Nhà nước.
Quyền lực công được thực hiện bởi một đội ngũ đông đảo các nhân viên nhà
nước được phép nhân danh Nhà nước trong thực hiện các mệnh lệnh Nhà nước.
Những người này được quyền sử dụng các trang thiết bị và phương tiện để làm
Nhà nước là tổ chức ra đời từ cuộc đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của cuộc
đấu tranh ấy, giai cấp nào giành thắng lợi trong cuộc chiến ấy sẽ tất yếu thiết lập
nên tổ chức quyền lực của mình để thống trị các giai cấp khác(giai cấp thất bại).
Như vậy Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị, tất yếu mang bản chất của
giai cấp thống trị. Bản chất đó thể hiện trên các phương diện sau đây:
+ Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị. Ví dụ: Nhà nước
phong kiến ưu tiên bảo vệ lợi ích trước hết là của nhà vua và tầng lớp địa chủ
phong kiến; Nhà nước tư sản bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản thống trị.
+ Nhà nước là công cụ để thống trị giai cấp, đàn áp bất cứ lực lượng nào có
mưu đồ chống đối, giành chính quyền nhà nước. Bằng hệ thống bạo lực vật chất
đồ sộ: quân đội, cảnh sát, tòa án…sẵn sàng ra tay khi có bất cứ cá nhân, tổ chức
nào xâm phạm và đe dọa đến sự tồn vong của nhà nước. Điều này diễn ra hầu
hết ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới từ cổ chí kim. Ví dụ: các cuộc khởi nghĩa
của nô lệ(thời kỳ chiếm hữu nô lệ), của nông dân(thời kỳ phong kiến), của công
nhân(thời kỳ nhà nước tư sản)đều được các Nhà nước đó thực hiện chuyên chính
một cách triệt để nhằm triệt tiêu tận gốc phong trào đấu tranh ấy(giai cấp thống
trị gọi là những cuộc bạo loạn)
+ Bản chất giai cấp của nhà nước tùy thuộc vào tương quan lực lượng và kết
cấu g/c trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ví dụ: Nhà nước XHCN là nhà
nước thuộc về số đông đó là giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Cũng là
bộ máy thống trị nhưng thuộc về số đông chứ không phải bảo vệ lợi ích cho giai
cấp thống trị nhưng là thiểu số trong các nhà nước bóc lột trước đó. Với mục
tiêu xây dựng CNXH, mang lại lợi ích cho mọi người, cho nên đây là kiểu nhà
nước tiến bộ nhất trong lịch sử và là một loại nhà nước đặc thù. V.Lênin gọi nhà
nước XHCN là “nhà nước một nửa nhà nước”.
+ Bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện rõ nhất trong các quan điểm, tư
tưởng, đường lối chính trị, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhất là đường
lối chính trị của giai cấp nắm giữ quyền lực nhà nước(thường là một chính
Đảng). Những chính sách đó được thực hiện qua các chức năng của nhà nước
trên bình diện quốc gia và quốc tế.
thể quân chủ và chính thể cộng hòa. Đối với chính thể quân chủ, quyền lực nhà
nước tối cao thuộc về người đứng đầu(vua, quốc vương, nữ hoàng…). Đối với
chính thể cộng hòa, quyền lực tối cao được thực hiện bởi các cơ quan đại diện
được bầu ra trong một thời hạn nhất định, theo nhiệm kỳ.
Chính thể quân chủ đƣợc phân thành hai loại:
+ Chính thể quân chủ tuyệt đối: quyền lực Nhà nước thuộc về một người,
đó là vua, có quyền lực vô hạn, ý chí của nhà vua là luật dù cho ý chí ấy có nhẫn
tâm, tàn bạo và vô lý đi chăng nữa. Ví dụ: Nhà vua trong các nhà nước phong
kiến trước đây ở Trung Hoa, Việt Nam
+ Chính thể quân chủ hạn chế: chính thể này hình thành từ cuộc đấu tranh
giữa g/c tư sản và giai cấp phong kiến. Do cuộc đấu tranh không kiên quyết dẫn
15
đến sự thỏa hiệp giữa đôi bên về chia nhau quyền thống trị nhà nước. Trong
chính thể này, quyền lực tối cao của nhà nước không còn nằm tất cả trong tay
nhà vua nữa mà nó được san sẻ quan những cơ quan khác như Quốc hội, Chính
phủ. Càng về sau thì quyền lực nhà vua càng bị hạn chế nhiều hơn và ít có ảnh
hưởng trong lập pháp và hành pháp. Vua chỉ trị vì mà không cai trị, chỉ là biểu
tượng danh nghĩa quốc gia và tinh thần đoàn kết dân tộc. Ví dụ: các nhà nước
Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Thái Lan, Thụy Điển…hiện nay là những loại hình
chính thể quân chủ hạn chế(còn gọi là quân chủ đại nghị).
Chính thể cộng hòa đƣợc phân thành hai loại:
+ Cộng hòa dân chủ: Quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, nhân dân thực
hiện quyền lực thông qua bầu cử thiết lập nên các cơ quan đại diện quyền lực
nhà nước. Tuy nhiên trong các nhà nước bóc lột, g/c thống trị thường tìm mọi
cách hạn chế quyền bầu cử của nhân dân lao động bằng việc đặt ra nhiều quy
định hạn chế sự tham gia của nhân dân lao động trong tổ chức thực hiền các
quyền về chính trị.
+ Cộng hòa quý tộc: quyền bầu cử chỉ quy định cho các tầng lớp quy tộc
- Hình thức cấu trúc nhà nƣớc: được hiểu là cơ cấu hành chính lãnh thổ
dụ: ở Việt Nam thời kỳ trước CMT8, chế độ chính trị là cực kỳ phản dân chủ,
nhà nước phong kiến cấu kết với chính quyền thực dân triệt tiêu hết mọi quyền
dân chủ, dân sinh.
1.1.5. Chức năng nhà nƣớc
Chức năng của nhà nước là các phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà
nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. Nhiệm vụ của nhà
nước là những mục tiêu mà nhà nước hướng tới, là những vấn đề đặt ra mà nhà
nước cần giải quyết.
Một nhiệm vụ có thể phát sinh nhiều chức năng, ví dụ: xây dựng CNXH
được thực hiện qua nhiều chức năng: tổ chức nền kinh tế, văn hóa, giáo dục…
Mỗi chức năng lại phải giải quyết nhiều nhiệm vụ khác nhau, ví dụ: Chức
năng tổ chức kinh tế phải giải quyết các nhiệm vụ: xây dựng cơ sở vật chất,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xóa đói giảm nghèo loại
trừ tình trạng bất công, mâu thuẫn xã hội.
Mỗi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước có thể được giao cho nhiều loại cơ
quan nhà nước khác nhau. Ví dụ: chức năng bảo vệ trật tự pháp luật được giao
cho các cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát.
Có nhiều cách phân loại chức năng của nhà nước nhưng phổ biến nhất vẫn
là phân thành hai chức năng:
+ Chức năng đối nội: Thực hiện trong phạm vi nội bộ quốc gia, ví dụ: bảo
vệ trật tự pháp luật, phát triển kinh tế-văn hóa, phân chia và quản lý đơn vị hành
chính lãnh thổ…
17
+ Chức năng đối ngoại: thực hiện mối quan hệ giữa quốc gia với các nhà
nước khác và các tổ chức quốc tế. Ví dụ: Hợp tác kinh tế, quan hệ ngoại giao với
các nước, phòng thủ xâm lăng, chống khủng bố…
Giữa chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có quan hệ gắn bó mật thiết
với nhau, cùng tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển, nâng cao
hiệu quả việc thực hiện chức năng và hoàn thành nhiệm vụ chung của nhà nước.
Ví dụ: - giết người thì phải đền mạng; xúc phạm thần linh của bộ tộc thì bị
ruồng bỏ hoặc đuổi khỏi bộ tộc…
Các quy phạm xã hội ấy điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được
thực hiện một cách tự giác, hoàn toàn không có sự cưỡng chế bằng bạo lực của
một tổ chức chuyên trách riêng biệt. Cho đến khi Nhà nước ra đời thì, một mặt
Nhà nước đặt ra pháp luật là các quy tắc ứng xử mới, mặt khác Nhà nước thừa
nhận và cho áp dụng các quy phạm xã hội có sẵn nhưng có lợi cho nhà nước để
nâng chúng lên thành pháp luật và buộc các thành viên trong xã hội phải tuân
theo. Nhà nước thiết lập bộ máy cưỡng chế để buộc các thành viên trong xã hội
phải tuân theo dù muốn hay không. Nếu không tuân theo hoặc chống đối lại thì
sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế(phạt vi phạm)
1.2.2. Bản chất của pháp luật
Pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp thống trị, chính là ý chí của giai cấp
thống trị được đề lên thành luật. Ý chí ấy phản ánh, ghi nhận và bảo vệ các lợi
ích của giai cấp thống trị. Pháp luật tạo ra các khôn mẫu và chuẩn mực ứng xử
trong từng hành động của cá nhân, tổ chức được giai cấp thống trị áp đặt lên xã
hội buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuyệt đối chấp hành. Như vậy, về mặt
bản chất thì pháp luật luôn mang bản chất giai cấp. Nghĩa là pháp luật phản ánh
ý chí, quyền và lợi ích của giai cấp thống trị. Sự phản ánh đó được cụ thể hóa
trong các quy phạm pháp luật, thể hiện rõ nhất là trong từng câu chữ, giá trị tư
tưởng và nội dung của các điều khoản pháp luật.
Ví dụ 1: Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông ban hành(thế kỷ 15) quy
định: kẻ mưu phản, mưu đại nghịch thì chém bêu đầu(Điều 411); kẻ làm ca dao,
vè, từ khúc nói việc nước, trong đó có lời lẽ chỉ trích, chế nhạo, cố ý không
thuận triều đình, hay phao tin đồn nhảm làm kinh động dân chúng thì đều bị xử
lưu đi châu xa(Điều 413); ai mưu giết người thì xử lưu đi châu gần, đã gây
thương tích cho người thì xử lưu châu xa, nếu đã gây bị thương rồi chết thì xử
giảo, đã giết người ta chết thì xử chém(Điều 415); ăn trộm ấn vua và đồ dùng
của vua thì xử chém(Điều 430).
Ví dụ 2: Sắc lệnh số 6 ngày 05/9/1945: “Cấm nhân dân Việt Nam không
cấm việc vu khống, làm nhục, xúc phạm danh dự nhân phẩm của công dân, mà
không phân biệt công dân ấy ở thành phần giai cấp, địa vị xã hội, độ tuổi, dân
tộc, giới tính, nghề nghiệp nào.
1.2.3. Các thuộc tính của pháp luật
+ Tính quy phạm phổ biến:
Pháp luật là khuôn mẫu, quy tắc xử sự chung cho nên nó có tính phổ biến,
điển hình. Công dân bất luận thuộc thành phần g/c, dân tộc, tuổi tác, địa vị xã
hội như thế nào…nếu ở vào hoàn cảnh chung được luật xác định thì đều phải lựa
chọn cùng cách thức xử sự như nhau. Ví dụ: Luật hôn nhân gia đình Việt Nam
quy định muốn kết hôn thì nam giới phải đủ 20 tuổi, nữ phải đủ 18 tuổi và phải
thuộc trường hợp pháp luật không cấm kết hôn, phải được sự công nhận về mặt
pháp lý của UBND; Luật giao thông đường bộ quy định: khi tham gia giao
20
thông người và phương tiện tham gia giao thông đều phải đi về bên phải của
hướng đi.
+ Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức:
Pháp luật phải được quy định một cách rõ ràng, cụ thể, minh bạch có nội
dung và cách hiểu thống nhất do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận. Ở nước ta
pháp luật chỉ được thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Mỗi loại cơ quan nhà nước chỉ được
ban hành những văn bản quy phạm pháp luật nhất định. Ví dụ: văn bản Luật
phải do Quốc hội ban hành, Chính phủ chỉ được ban hành Nghị quyết, Nghị
định…
+ Tính ổn định:
Pháp luật được làm ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội đã hình thành và
ổn định. Việc đặt ra pháp luật cũng mất rất nhiều thời gian và công sức. Vì vậy
nó mang tính ổn định lâu dài, không thể thay đổi một sớm một chiều được. Việc
thay đổi nó phải mất rất nhiều thời gian, trình tự, thủ tục rất phức tạp. Ví dụ: Bộ
luật dân sự Việt Nam hiện nay được dự thảo xây dựng trong khoảng thời gian 20
+ Chức năng bảo vệ: Pháp luật là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ các
quyền, lợi ích và các giá trị xã hội theo ý chí của nhà nước. Pháp luật ghi nhận
các mối quan hệ xã hội, quyền, lợi ích, cách thức, mức độ bảo vệ cụ thể của
quan hệ xã hội ấy.
Ví dụ: Điều 28 Hiến pháp Việt Nam 1992, qui định “Mọi hoạt động sản
xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của
công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước có chính sách bảo
hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng”.
Ví dụ: Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, Điều 22 Chương III (Quyền lợi và
nhiệm vụ của nhân dân) quy định “ Quyền tự do xuất ngoại hay bỏ quốc tịch
không bị cản trở”.
1.2.5. Hình thức của pháp luật
Pháp luật được ra đời, tồn tại cùng với nhà nước theo 03 hình thức cơ bản
sau đây:
+ Tập quán pháp: ra đời ở thời kỳ đầu nhà nước mới được thiết lập. Ở thời
kỳ này, Nhà nước sử dụng những phong tục, tập quán sẵn có mà Nhà nước cho
là có lợi cho mình để nâng lên thành luật và bắt buộc mọi thành viên trong xã
hội phải tuân theo.
+ Tiền lệ pháp: là việc Nhà nước sử dụng các quyết định xử phạt của Tòa
án hoặc cơ quan hành chính về một vụ việc cụ thể để áp dụng cho các vụ việc
tương tự xảy ra tiếp theo sau. Ví dụ: lần đầu tiên có một người vào quán ăn để
ăn nhưng không trả tiền. Người này bị tố cáo và tòa xử tội ăn quỵt. Về sau thì
những hành vi ăn quỵt sẽ được lấy án mẫu xử lần đầu để trị tội can phạm.
22
+ Văn bản quy phạm pháp luật: là luật thành văn thể hiện dưới thể thức
văn bản, trong các văn bản ấy các quy phạm pháp luật được tập hợp, hệ thống
hóa theo một trật tự nhất định, được Nhà nước ban hành và công bố cho toàn
dân được biết theo các nghi thức đã định sẵn. Ở Việt Nam, việc công bố văn bản
- Việt Nam đã có một bề dày về lịch sử dựng nước và giữ nước mà đặc
trưng là việc tổ chức nên hệ thống chính quyền của các vương triều phong kiến
nối tiếp nhau trải qua bao thăng trầm của lịch sử của công cuộc chống ngoại
xâm(phong kiến Trung Hoa) và xung đột nội bộ(thời nhà Đinh, Trịnh – Nguyễn,
Nam – Bắc triều…)
- Từ cuối thế kỷ 19 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, ở Việt Nam
chính quyền nhà nước được tổ chức theo kiểu “một quốc gia hai chế độ”. Cụ thể
là nước ta có hai hệ thống chính quyền nhà nước và pháp luật:
+ Một hệ thống chính quyền và pháp luật của triều đình phong kiến nhà
Nguyễn
+ và một hệ thống chính quyền và pháp luật của chính quyền thực dân
Pháp.
Do bản chất tàn bạo và phản động của hai tầng lớp áp bức cai trị này mà
làm phát sinh các cuộc đấu tranh giữa các tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ
và sau này là của giai cấp công nhân Việt Nam nhằm chống lại ách cai trị của
hai hệ thống chính quyền và pháp luật này. Nổi bất là các cuộc khởi nghĩa của
phong trào nông dân, của các sỹ phu, nhà yêu nước chống lại triều đình nhà
Nguyễn và thực dân Pháp như lịch sử Việt Nam ghi nhận: phong trào Cần
Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Cuộc vận động cách mạng
của Việt Nam quốc dân đảng…nhưng tất cả đều bị dập tắt bởi bạo lực của nhà
nước phong kiến và thực dân Pháp.
- Trong lúc cuộc đấu tranh cách mạng giành quyền dân sinh dân chủ đang
trong giai đoạn khủng hoảng về đường lối, người con ưu tú của dân tộc Việt
Nam - Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị thành lập và lãnh đạo các tổ
chức cách mạng, đặc biệt là tổ chức Đảng cộng sản. Sau nhiều năm bôn ba hải
ngoại, học tập và tiếp thu các hệ tương tưởng cách mạng, nhà nước và pháp luật,
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiến hành vạch đường lối, phương pháp cách mạng
khoa học và tập hợp mọi lực lượng tiến bộ, qua nhiều cuộc tập diễn lịch sử,
chuẩn bị mọi điều kiện và nắm bắt thời cơ. Tháng 8/1945 dưới sự lãnh đạo của
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam, quần chúng lao động
- Cấp tỉnh, thành phố, thị xã có Hội đồng nhân dân: là cơ quan quyền lực ở
địa phương, các đại biểu thông qua dân cử, là những người do nhân dân tín
nhiệm về tư cách, khả năng, tài năng. HĐND có toàn quyền quyết định tất cả các
vấn đề thuộc phạm vi địa phương, bãi bỏ quyết định sai trái của UB hành chính.
- Ủy ban hành chính là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa
phương, có quyền kiểm tra giám sát UBHC cấp dưới. Sau đó thì kháng chiến
toàn quốc bùng nổ nên UBHC được đổi thành Ủy ban kháng chiến.
* Xây dựng pháp luật kiểu mới
25
+ Sau một tháng CMT8 thành công, chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc
lệnh ngày 20/9/1945 thành lập Ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm
Trưởng ban. Sau một thời gian nghiên cứu, soạn thảo, Dự thảo hiến pháp đã
được trình ra Quốc hội. Ngày 09/11/1946 Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp
đầu tiên của nhà nước dân chủ kiểu mới, gọi là Hiến pháp 1946.
+ Các văn bản pháp luật khác: chủ yếu là Sắc lệnh do Chủ tịch chính phủ
ký ban hành(thành lập Tòa án quân sự, sử dụng một số luật lệ chính quyền cũ,
xóa bỏ bất bình đẳng đặc quyền đặc lợi và bộ máy chính quyền cũ, phòng chống
tội phạm, thanh toán nạn mù chữ, tổ chức nền giáo dục kiểu mới, bảo đảm các
quyền tự do dân chủ của công dân…)
- Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước cách mạng kiểu mới được
thành lập nhưng các thế lực phản động trong nước và thực dân pháp không cam
chịu thất bại. Chúng đã cấu kết với nhau âm mưu tái chiếm để áp đặt ách cai trị
nước ta. Ngày 19/12/1946 Hồ chủ tịch ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Từ
đây đất nước lại rơi vào cảnh chiến tranh, chúng ta phải đương đầu với cuộc
chiến 09 năm trường kỳ chống Pháp và các thế lực tay sai. Hoàn cảnh lịch sử đã
thay đổi, cho nên cách thức tổ chức bộ máy và sự vận hành hoạt động của bộ
máy nhà nước và pháp luật của chúng ta giờ đây cũng thay đổi theo cho phù hợp
với tình hình và đòi hỏi của nhiệm vụ thực tiễn.
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta bước vào giai đoạn cuối đàm