I. Khái quát chung về họa tiết trên các văn bia qua các thời đại
1. Họa tiết trang trí qua các đời
Hoa văn trang trí trên các văn bia Việt Nam là một trong những nguồn sử
liệu vô cùng quý giá. Thông qua nghệ thuật trang trí, điêu khắc được thể hiện
trên bia sẽ thấy những đặc trưng của mỗi thời kỳ trong lịch sử.
Trong chiều dài lịch sử Việt Nam, họa tiết được trang trí trên trán bia và
diềm bia khá thống nhất, trong đó hoa văn xuất hiện với tần số lớn nhất đồng
thời cũng là biểu tượng chủ đạo trong nghệ thuật trang trí, điêu khắc Việt Nam
là hình tượng con rồng. Bên cạnh đó các loại hoa văn trang trí khác cũng được
thể hiện ở những mức độ khác nhau như: hoa cúc, hoa sen, hoa mẫu đơn…..
Dưới đây chúng ta sẽ điểm qua về các hoạ tiết, mô tip được trang trí trên
bia qua các thời kỳ trong lịch sử dân tộc:
Hoa văn trang trí trên văn bia thời Lý.
Rồng thời Lý là sự kết hợp hài hòa của cá sấu và rắn, có thân dài, uốn
lượn nhịp nhàng, biểu trưng cho một x• hội, với những chân tóc, chòm lông dài
và dày cùng viên ngọc ngậm trong miệng biểu tượng cho sự sang trọng và quý
phái, toàn thân toát lên vẻ mềm mại. Đây là một cách thể hiện mang tính chất
chính thống đối với các văn bia mà đặc biệt là các văn bia ghi chép những sự
kiện lịch sử khá quan trọng.
Cùng với nghệ thuật trang trí và thể hiện rồng, thì cỏ cây hoa lá cũng
được thể hiện vào trong đó. Nó cũng cho thấy một phần thiên nhiên của tgiai
goạn lịch sử và óc thẩm mỹ của người nghệ sĩ đương thời bao gồm: hoa sen, hoa
phù dung, hoa súng….
Thời Trần .
Rồng thời Trần là một bước phát triển tiếp theo của rồng thời Lý. Tuy
nhiên, rồng thời Trần uốn lượn có phần thoải mái hơn, thân hình mập mạp hơn,
biểu hiện cho sự phát triển năng động của thời đại. Ngoài ra cũng được trang trí
thêm các loại hoạ tiết khác ở một số bộ phận của bia như: hoa sen, hoa cúc, hoa
phù dung, nhưng có sự cách điệu cùng với các loại hoa dây khác.
Thời Lê.
1
2
tip hoa văn rất tỷ mỉ và tinh xảo thể hiện sự trang trọng và kỹ - mỹ thuật - dấu ấn
của thời đại đó. Trên các trán bia thường được trạm, khắc hình tượng “lưỡng
long chầu nguyệt” đây là mô tip tiêu biểu trong hệ thống văn bia Việt Nam.
Giá trị nghệ thuật của các văn bia Việt Nam gắn liền với tín ngưỡng dân
gian và cuộc sống sinh hoạt đời thường của người dân cùng với thiên nhiên
phong phú. ở đây hình tượng con rồng ăn sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam
liên quan tới truyền thuyết “con rồng cháu tiên”, rồi gắn với hoạt động nông
nghiệp truyền thống: nông nghiệp lúa nước.
Như vậy bước đầu giới thiệu mô tả ta thấy văn bia là một nguồn sử liệu
vật thật có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, văn hoá, điêu khắc,
mỹ thuật….
II. Các nguồn sử liệu
1. Nguồn sử liệu trực tiếp
Hệ thống các văn bia hiện nay còn được lưu giữ thông qua đó ta có thể
tìm được niên đại chính xác, nguồn gốc của việc dựng bia cũng như phong cách
trang trí hoa văn của mỗi thời đại. Qua mỗi văn bia của mỗi thời toát nên được
những đặc trưng. Nhận thức một cách trực diện vấn đề ta cần quan tâm, sẽ đem
lại những thông tin có giá trị và độ tin cậy cao.
Thí dụ khi ta nghiên cứu hoa văn trên các văn bia thời Lý chúng ta lên
quan sát vào phần trán bia và diềm bia. Trên trán bia đa số có đôi rồng đang
chầu hai bên và ngậm ngọc với dáng vẻ uốn lượn mềm mại, thân nhỏ, không có
vảy thì ta có thể nhận biết đó chắc chắn là rồng thời Lý. Đi cùng với rồng còn có
các loại hoa văn khác như hoa cúc, hoa sen, hoa mẫu đơn thường được trang trí
ở diềm bia và một số chân tảng.
Văn bia là nguồn sử liệu xuất hiện sớm trong lịch sử dân tộc Việt Nam,
tuy nhiên vấn đề hiện nay các nhà nghiên cứu Việt Nam vẫn chưa xác định thời
điểm xuất hiện việc tạo dựng văn bia là khi nào. Đây là một nguồn sử liệu quý
mà các triều đại Phong kiến Việt Nam để lại. Nó có nhiều giá trị trong nghiên
cứu lịch sử, văn hóa, tôn giáo…. sâu sắc.
4
Nguồn sử liệu vật thực ở đây là những văn bia (bi ký) mà theo như chúng
ta biết rằng văn bia là những bài ký được khắc tên vào bia đá, những khối đá
lớn, có bề mặt rộng phẳng thường được lựa chọn và đục đẽo để làm văn bia
(hiện tượng này có từ thời Đông Hán- Trung Quốc).
Bia được quy định cụ thể: có mặt trước gọi là mặt dương, mặt sau gọi là
mặt âm, hai bên gọi là mé bia hay diềm bia, phía trên gọi là trán bia, phía dưới
gọi là bệ bia. Việt Nam ảnh hưởng của văn hóa Hán nên có lệ dựng bia sớm.
Không biết chính xác thời gian khi nào, nhưng tấm bia xuất hiện sớm nhất ở
Trung Quốc hiện nay có tên là “Đại Tùy Cửu chân quận Bảo An đạo tràng chi bi
văn”, ở Thanh Hóa năm Đại Nghiệp 14 (618).
Việc lập bia đá có nhiều lý do với nhiều nội dung khác nhau: có thể là
luận thuyết về tôn giáo, khuyến khích khoa cử, ca ngợi công đức của một nhân
vật, mô tả cảnh đẹp thiên nhiên. Bia thường được lập gắn liền với việc xây dựng
hoặc trùng tu các công trình tôn giáo, tín ngưỡng (đình, chùa, miếu mạo) hoặc
các công trình công cộng (xây cầu, lập chợ), bia ghi công đức của các anh hùng
dân tộc, luật lệ, phong tục của địa phương, vùng…
Với hệ thống văn bia phong phú của các triều đại để lại. Từ đó ta có một
nguồn sử liệu có tin cậy cao, thông qua các hoa văn trang trí trên trán bia, diềm
bia, ta có thể xác định niên đại có thể là dựa vào minh văn hay đặc trưng phong
cách trang trí. Như tấm bia khổng lồ :”Sùng Thiện Diên Linh tự bi minh” hiện
còn ở chùa Đọi (Hà Nam). Trán diềm bia đều lấy rồng làm đối tượng trang trí.
Những con rồng này kích thước và bố cục có khác nhau. Rồng với khúc uốn nhẹ
nhàng thanh thoát. Mũi rồng không tả thực mà giống như “ngọn lửa dị kỳ”.
Toàn bộ hình tượng con rồng như đang bay lượn nhẹ nhàng trong không trung.
Với tấm bia lăng của Vua Lê Thái Tổ (1533), rồng chầu trán bia mặt
trước còn có hàng chục hình rồng lớn nhỏ ở cả hai mặt bia đều là sự tái hiện của
hình rồng thời Lý và đầu rồng thời Trần. Trên mức độ hoàn chỉnh mới: đầu nhỏ,
mào cao như đang rung thân mình và các bờm tóc đều là những nếp song lượn
nhanh chân thanh mảnh, toàn bộ hình con rồng trông rất hoạt và mang một sức