BÁO CÁO
NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CẤP ĐỊA PHƯƠNG 2010
“CHỈ SỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CẤP ĐỊA PHƯƠNG”
20
11
2
LỜI NÓI ĐẦU
Báo cáo đánh giá năng lực hội nhập kinh tế của các địa phương thông qua một
vật chất được xem xét là (1) sản phẩm hàng hóa dịch vụ; (2) vốn và công nghệ;
(3) con người thông qua di trú, thu hút nhân lực và du lịch. Một địa phương được
cho là hấp dẫn sẽ thu hút được các nguồn lực cho sự phát triển như thu hút du
khách, thu hút đầu tư vào mở rộng sản xuất kinh doanh, thu hút người dân đến
sống và làm việc, thu hút ngoại tệ thông qua xuất khẩu,…. Mục tiêu cuối cùng
của mỗi địa phương là tạo ra m
ột môi trường và điều kiện thuận lợi phục vụ
nhân dân của địa phương đó. Hình thái thể hiện và tính định lượng của nó thể
hiện thông qua chỉ tiêu thu nhập bình quân trên đầu người và các chỉ số phát
triển con người của địa phương. Tuy nhiên, thách thức đối với các điểm đến hiện
nay là có quá nhiều nỗ lực để thu hút các nguồn lực của chính quyền các quốc
gia, các nền kinh t
ế cũng như các địa phương.
Các luận điểm ủng hộ tự do hóa thương mại chủ trương khuyến khích các thể
chế tạo điều kiện cho hàng hóa và dịch vụ dễ dàng dịch chuyển giữa các quốc
gia nhằm mục tiêu để người dân các dân tộc có thể mua được các sản phẩm
được sản xuất ra với chi phí thấp hơn hoặc đa dạng hơn hoặc khác bi
ệt về các
giá trị tinh thần. Nhờ tinh thần này của thương mại thế giới mà tiến trình toàn cầu
hóa được diễn ra nhanh chóng, sâu rộng trên mọi phương diện thể hiện ở 3 mặt:
(1) toàn cầu hóa về sản xuất để đảm bảo mức chi phí biên thấp nhất cho một
đơn vị sản phẩm cuối cùng; (2) toàn cầu hóa về tiêu dùng đối với việc một sản
phẩm mang thương hiệ
u được chấp nhận với giá trị độc đáo như nhau bởi
người dân ở nhiều quốc gia, và (3) toàn cầu hóa về sở hữu (một người dân có
thể sở hữu tài sản ở nhiều quốc gia, sử dụng các dịch vụ đầu tư trên phạm vi
toàn cầu thông qua các định chế tài chính trung gian). Trong nhiều thập kỷ qua
chúng ta đã chứng kiến hai xu thế toàn cầu hóa sản xuất và tiêu dùng trong ngôi
nhà chung toàn cầu. Trong thậ
p kỷ này và vài thập kỷ sau, chúng ta sẽ chứng
chuyển hai chiều ra hoặc vào biên giới địa phương. Bốn trụ cột tĩnh gồm (1) thể
chế, (2) cơ sở hạ tầng, (3) văn hóa và (4) đặc điểm tự nhiên địa phương. Bốn trụ
cột động gồm (1) con người, (2) thương mại, (3) đầ
u tư, (4) du lịch. Các trụ cột
này vừa có tác dụng thu hút nguồn lực dành cho nguồn lực đó đến từ bên ngoài,
vừa phản ánh thực trạng hình ảnh trụ cột đang tồn tại và có khuynh hướng dịch
chuyển đến những nơi khác thu hút hơn. Mức độ hội nhập đơn giản được đo
lường dựa trên cách tiếp cận về dịch chuyển nguồn lực giữa các
địa điểm về
mặt số lượng, chất lượng, cường độ để thấy được mức độ mạnh hay yếu của
việc hội nhập kinh tế xã hội toàn cầu.
Nghiên cứu năng lực hội nhập kinh tế cấp địa phương này được tiến hành từ
quý 2 năm 2010, nghiên cứu thu thập dữ liệu, điều tra và phân tích 63 tỉnh/thành
phố tại Việt Nam. Cu
ối cùng, do chỉ đủ cơ sở dữ liệu để phân tích cho 50
tỉnh/thành phố, 13 tỉnh/thành phố còn lại do thiếu dữ liệu nên chưa thể tiến hành
phân tích chi tiết trong năm 2010.
Ngoài phần mở đầu, tóm tắt và kết luận, báo cáo này bao gồm hai phần: phần 1
xây dựng các nền tảng cho mô hình và trình bày một số kết quả chính của
nghiên cứu trong đó đặc biệt chỉ ra các tương tác giữa các chiều kích và trụ cột
trong mô hình; phần 2 gồm 8 nội dung chia theo tám trụ cột để thấy các góc nhìn
đa chiều đan xen về vấn đề hội nhập của các địa phương.
5
Nhóm nghiên cứu:
Ông Nguyễn Thành Trung – Trưởng Nhóm
Nhóm nghiên cứu gửi l
ời cảm ơn đặc biệt tới các chuyên gia đã chia sẻ ý kiến
quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu đến khi phát hành báo cáo: Ông Vũ
Khoan – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; Ông Trương Đình Tuyển – Nguyên
Bộ trưởng Bộ Thương mại; Ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt
Nam; Ông Nguyễn Văn Nam – Chuyên gia kinh tế cao cấp – Nguyên Viện
trưởng Viện nghiên cứu thương mại; Ông Võ Trí Thành – Phó viện trưởng Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế trung ươ
ng; Ông Nguyễn Minh Phong – Chuyên gia
kinh tế - Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội; Ông Nguyễn Quốc
Thịnh – Giám đốc Trung tâm Thương hiệu – Đại học Thương mại; Ông Võ Tá Tri
– Chuyên gia kinh tế; Ông Phạm Hồng Tú – Chuyên gia kinh tế.
7
Các thành viên của Văn phòng Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đã
đọc dự thảo và tham gia biên tập cho báo cáo gồm Ông Trịnh Minh Anh, Bà Lâm
Thị Quỳnh Anh, Bà Nguyễn Lương Hiền, Ông Nguyễn Xuân Hải. Nhóm công tác
viên điều tra và nhập liệu bao gồm Ông Vy Tuấn Anh, Bà Triệu Thị Hà, Ông Tạ
Minh Hải, Bà Nguyễn Hồng Hạnh, Bà Đoàn Mỹ Hạnh, Bà Nguyễn Thu Hằng, Bà
Nguyễn Thu Hương, Bà Đậu Thanh Lan, Ông Trần Tuấn Nghĩ
a, Bà Vũ Hồng
Ngọc, Bà Vũ Phương Thảo cùng hai trợ lý nghiên cứu là Bà Nguyễn Việt Tú
Uyên và Bà Phạm Phương Nhung đã tích cực và nhiệt tình triển khai công việc
theo kịp tiến độ rất gấp của dự án.
Ban Hội nhập Kinh tế Quốc tế các tỉnh và thành phố đã tích cực và chủ động
phối hợp với các Cơ quan khác tại Địa phương trong việc tổng hợp dữ liệu và hỗ
trợ thực hiện nghiên cứu.
Xin cảm ơn các doanh nhân, doanh nghiệp và các cá nhân đã tham gia trả lời
điều tra và thực hiện các cuộc phỏng vấn chuyên sâu.
Hình 12: Nhận định của người dân về một số thay đổi trong thương mại tiêu
dùng
Hình 13: Đánh giá về chất lượng sản phẩm theo nguồn gốc xuất xứ
Hình 14: Khả năng tích hợp theo chiều dọc
Hình 15: Khả năng tích hợp theo chiều ngang
Hình 16: Một số khó khăn của doanh nghiệp
Hình 17: Đánh giá của người dân và doanh nghiệp về chất lượng hệ thống phân
phối
Hình 18: Kết quả tổng hợp điểm trụ cột thương mại
Hình 19: Tỷ trọng vố
n đầu tư theo ngành và số dự án
9
Hình 20: Tỷ trọng các quốc gia đầu tư và địa phương thu hút đầu tư
Hình 21: So sánh khả năng hấp thụ vốn và khẳ năng tiếp cân nguồn vốn
Hình 22: Đánh giá dịch vụ bổ trợ thu hút đầu tư
Hình 23: Đánh giá yếu tố hấp dẫn đầu tư
Hình 24: So sánh điểm đầu tư với đầu tư chính phủ và đầu tư nước ngoài
Hình 25: Kết quả tr
ụ cột đầu tư
Hình 26: Đánh giá tính chuyên nghiệp và đồng bộ chất lượng dịch vụ
Hình 27: Đánh giá thực trạng di lịch địa phương
Hình 28: Thách thức trong thu hút du lịch nước ngoài
Hình 29: So sánh điểm du lịch với tỷ lệ tăng trưởng du khách
Hình 30: Top 5 địa phương về số chuyến du lịch
Hình 31: Kết quả tổng hợp điểm trụ cột du lịch
Hình 32: Dự kiến biểu dân s
ố Việt Nam
Hình 33: Top 10 địa phương đông dân nhất
Hình 34: Thay đổi tháp tuổi 2010 - 2030
kinh doanh của doanh nghiệp
Hình 57: Đánh giá sản phẩm có lợi thế đặc điểm tự nhiên
Hình 58: Đ
ánh giá các điểm đến địa phương
Hình 59: Kết quả tổng hợp điểm trụ cột đặc điểm tự nhiên
Hình 60: So sánh số lượng công chức và viên chức
Hình 61: Chất lượng và khả năng đáp ứng của công viên chức
Hình 62: Đánh giá thái độ của chính quyền địa phương về phát triển kinh doanh
Hình 63: Đánh giá việc thực hiện trách nhiệm pháp lý
Hình 64: So sánh số thủ tục hành chính và số thủ t
ục áp dụng cơ chế một cửa
Hình 65: Đối thoại của người dân với chính quyền
Hình 66: Lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp
Hình 67: Kết quả tổng hợp điểm trụ cột thể chế
Danh mục bảng
Bảng 1: Hệ thống tiêu chí cấu thành Chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế
cấp địa phương
Bả
ng 2: Tổng hợp thống kê mô tả tám trụ cột
Bảng 3: Tương quan hai biến giữa các trụ cột và kết quả tổng hợp
11
Bảng 4: Thống kê mô tả một số nội dung về đầu tư
Bảng 5: Thống kê mô tả một số nội dung trụ cột du lịch
Bảng 6: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội cơ bản
Bảng 7: Thống kê mô tả một số nội dung trụ cột con người
Bảng 8: Doanh thu một số phương tiện vận tải
Bảng 9: Thống kê mô tả một s
ố nội dung trụ cột cơ sở hạ tầng
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
PHẦN 1 – NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương
8 trụ cột cấu thành mô hình chỉ số
Trọng số
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng
Đối t
ượng tham gia điều tra
Một số kết quả chính
PHẦN 2 – TÁM TRỤ CỘT CẤU THÀNH NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ CẤP
ĐỊA PHƯƠNG
Thương mại
Đầu tư
Du lịch
Con người
Văn hóa
Cơ sở hạ tầng
Đặc điểm địa phương
Thể chế
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Cấu phần 2: Điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu, phân tích, tổng hợp dữ liệu và
đánh giá xếp hạng năng lực hội nhập kinh tế cấp tỉnh, thành phố.
Sau khi triển khai hoạt động nói trên, Nhóm nghiên cứu của Dự án đã hoàn
thành Báo cáo Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế c
ấp địa phương năm
2010. Báo cáo này đánh giá sơ bộ thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế năm 2010
của 50 tỉnh, thành phố (13 tỉnh, thành phố còn lại do thiếu dữ liệu nên chưa thể
tiến hành phân tích đánh giá năm nay) thông qua một thang đo lường chung
được xây dựng là “Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương”.
15
Mục tiêu chính của báo cáo này với việc đưa ra một công cụ đánh giá là Chỉ số
hội nhập kinh tế cấp địa phương nhằm xác định được mức độ hội nhập kinh tế
quốc tế của mỗi địa phương, các tác động của hội nhập đến việc tăng trưởng
phúc lợi cho người dân và phát triển kinh doanh doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
báo cáo còn đánh giá sự phù hợ
p giữa tầm nhìn chiến lược của địa phương đối
với năng lực hội nhập hiện tại để chỉ ra các điều chỉnh cần thiết cho việc thu hút
nguồn lực cho phát triển bền vững.
Quan trọng hơn cả, Nhóm nghiên cứu muốn cung cấp một cái nhìn rõ ràng và
toàn diện về vấn đề hội nhập của địa phương và cố gắng đi đến m
ột thống nhất
chung cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với các điều kiện hội
nhập đặc thù của mỗi địa phương.
Báo cáo này không nhằm mục tiêu xếp hạng cao thấp để các địa phương “ganh
đua” mà các thông số và phân tích khoa học của báo cáo này nhằm giúp các địa
phương xem xét quyết định lựa chọn những nhân tố nào phù hợp để giúp địa
phương hội nhập và phát tri
ển hơn nữa. Các thông số hay trụ cột chính để các
địa phương hội nhập và phát triển thành công mà báo cáo này đưa ra gồm 8 trụ
, chỉ số Hội nhập
nền kinh tế Bắc Mỹ
3
, chỉ số Hội nhập Wantanabe Kanji
4
, chỉ số phát triển kinh tế
bền vững
5
,… Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình liên quan, chúng tôi xây dựng
một mô hình chỉ số riêng phục vụ cho công tác đánh giá năng lực hội nhập kinh
tế của các địa phương. Trên thế giới chưa từng có mô hình tương tự.
Trong phần một của báo cáo, giới thiệu về nội dung chỉ số, 8 trụ cột cấu thành
mô hình chỉ số, các chiều kích xem xét trong mỗi trụ cột, phương pháp lựa chọn
trọng số, các phươ
ng pháp và các bước nghiên cứu đã được tiến hành, đối
tượng tham gia điều tra và kết quả nghiên cứu. Những hạn chế mà nghiên cứu
chưa đủ nguồn lực để thực hiện, như chưa điều tra đối tượng của nghiên cứu là
khách du lịch nước ngoài hay nhà đầu tư nước ngoài, cũng được nêu ra trong
báo cáo.
Mô hình không phải là hoàn thiện mà nó mang tính mở ngỏ cho khả năng khải
thiện khôn cùng. Nó sẵn sàng cho vi
ệc kiểm sai trong thực tế để có thể có những
cải tiến về mặt giả thiết hay thay đổi phương pháp của mô hình cho ngày càng
hoàn thiện hơn, phục vụ công tác đánh giá năng lực hội nhập. Cũng trong phần
này, nhóm nghiên cứu chỉ ra các hồi tiếp dương và hồi tiếp âm giữa các trụ cột.
Ý nghĩa của hồi tiếp dương là tương tác thuận giữa các trụ cột. Hồi tiế
p âm là
tương tác nghịch giữa các trụ cột. Điều này hàm ý cho các tác động về mặt
chính sách để có thể đạt được sự thay đổi trong tương lai.
Phần hai của báo cáo phân tích chi tiết 8 trụ cột để thấy được nội dung cụ thể
trội hơn thay vì điểm tích lũy cuối cùng thấp. Hoặc các địa phương có thứ hạng
cao trong trụ cột, nhưng ở một chiều kích nào đó trong trụ cột lại có điểm thấp.
Khác một số
nghiên cứu chỉ đánh giá bản thân đối tượng, nhóm nghiên cứu đặt
vấn đề về việc đánh giá đối tượng dựa trên nhu cầu. Chẳng hạn trong một tiêu
chí trong cơ sở hạ tầng là giao thông đường bộ, chúng tôi đánh giá dựa trên việc
khả năng đáp ứng và tổng chi phí xã hội mất đi do việc sử dụng hệ thống giao
thông này chứ không đánh giá chính bản thân hệ thống giao thông đường b
ộ.
Điển hình là Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh có hạ tầng giao thông đường bộ tốt,
nhưng khả năng đáp ứng theo nhu cầu lại rất thấp, kéo theo rất nhiều chi phí xã
hội phát sinh từ việc sử dụng hệ thống giao thông này do các vấn đề về tắc
đường như tốn xăng, ô nhiễm, mất thời gian lưu thông trên đường, mất cơ hội
để dành thời gian làm việc khác thay vì đi lại. Vì thế
, kết quả tổng hợp điểm cuối
cùng về trụ cột cơ sở hạ tầng mà chúng tôi công bố có khác một số kết quả đã
được công bố trước đây. Do giả thiết được sử dụng và đối tượng được lựa chọn
khác nhau.
Có một số tiêu chí có thể nằm ở cả hai trụ cột, đối với phần giao thoa này, để
tránh tính trùng, chúng tôi chỉ xếp
đối tượng vào một trụ cột. Ví dụ, hạ tầng du
lịch được tính chung trong trụ cột cơ sở hạ tầng, môi trường xã hội được đánh
giá trong môi trường sống của trụ cột con người, môi trường tự nhiên được đánh
giá trong trụ cột đặc điểm địa phương, mà thực tế các đối tượng này cũng có thể
được xem xét trong trụ cột du lịch.
Cũng như
đã trình bày, bảng dưới đây là kết quả tổng hợp điểm cuối cùng,
không xếp theo thứ hạng từ cao xuống thấp vì mục đích của nghiên cứu này
không phải là vấn đề về xếp hạng hay vinh danh.
18
các
địa phương, nhiệm vụ xây dựng một công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả
hội nhập kinh tế cấp địa phương được đặt ra. Mục tiêu là thông qua công cụ này
để so sánh, đối chiếu mức độ và chất lượng hội nhập của mỗi địa phương để từ
đó đưa ra các điều chỉnh hoặc cải thiện cần thiết cho việc gia tăng hiệu qu
ả của
hội nhập.
Suy đến tận cùng, mỗi địa phương phát triển kinh tế cũng đều vì mục tiêu phục
con người tại địa phương đó, để họ có thể có cuộc sống tốt đẹp hơn, phúc lợi
ngày càng cao hơn. Lý do cơ bản là chính những người dân sinh sống và làm
việc ở mỗi địa phương là chủ thực sự của địa phương đó. Vì vậy, trong ng
ắn
hạn các mục tiêu kinh tế có thể được ưu tiên nhưng các mục tiêu này phải là
điều kiện để hoàn thiện mục đích vì người dân phục vụ, vì mong muốn người
dân có được cuộc sống tốt hơn mà cống hiến.
Để đo lường phúc lợi cuối cùng của người dân là một điều khó khăn, vì người ta
có thể đang ứng xử khác nhau đối với thời gian thư giãn.
Đối với một số người,
chấp nhận bỏ bớt thời gian lao động để tăng thêm thời gian thư giãn, độ thỏa
dụng của những người này khác nhau khi tiêu dùng hàng hóa là thời gian. Do
đó, để đơn giản, phúc lợi của người dân sẽ được đo lường bằng thu nhập bình
21
quân trên đầu người của địa phương. Mục tiêu của hội nhập hoặc phát triển kinh
tế sẽ là vì sự gia tăng trong thu nhập này.
Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương
Chỉ số là thước đo để so sánh đối tượng này với đối tượng khác hoặc với giá trị
tham chiếu. Mục tiêu của nghiên cứu này là lập luận xác định rõ
đối tượng
tại thời điểm quan sát, các yếu tố này không dịch chuyển (một cách tương đối vì
tại thời điểm quan sát, con người sống tại địa phương là không dịch chuyển,
nhưng bản thân con người có thể di trú sang vùng đất khác vào thời điểm khác).
Có th
ể liệt kê các yếu tố này như: thể chế địa phương, cơ sở hạ tầng của địa
22
phương, con người sống và làm việc tại địa phương, văn hóa địa phương, tài
nguyên thiên nhiên của địa phương, khí hậu của địa phương, nhà máy sản xuất
tại địa phương, doanh nghiệp kinh doanh tại địa phương,… Các yếu tố tĩnh này
cấu trúc và kết hợp với nhau theo những quy tắc nhất định tại địa phương tạo ra
lực hấp dẫn cho địa phương đ
ó. Địa phương hấp dẫn có trọng lực sẽ thu hút
được các dòng vật chất dịch chuyển vào địa phương đó, nếu lực hấp dẫn yếu,
các dòng vật chất này sẽ dịch chuyển đến các địa phương khác hấp dẫn hơn.
Vai trò của các chính quyền địa phương là phải tạo ra một trường không gian có
trọng lực hấp dẫn đối với loại vật chất mà nó mong muố
n lựa chọn. Có địa
phương mong muốn trở thành điểm đến của du lịch, có địa phương mong muốn
trở thành điểm đến của đầu tư, địa phương khác muốn trở thành công xưởng
của thế giới, địa phương khác lại chỉ mong muốn trở thành đô thị cảng, có thành
phố muốn trở thành trung tâm kinh doanh, có nơi lại muốn trở thành trung tâm
văn hóa.
Về m
ặt lý thuyết, các dòng vật chất sẽ dịch chuyển đến nơi nào tạo ra nhiều của
cải vật chất nhất cho xã hội loài người, có thể thông qua việc nơi đó tạo ra năng
suất cao nhất. Tuy nhiên, ngoại trừ những ngành công nghệ cao phụ thuộc vào
năng suất, nhiều ngành công nghệ đại trà với năng suất trung bình tương đồng
có sự thu hút khác nhau do động cơ đằng sau việc điề
u khiển hướng dịch
vấn đề liên quan đến năng lực hội nhập kinh tế cấp địa phương và (3) phải thuậ
n
tiện cho việc sử dụng và ứng dụng phát triển trong thực tế.
Trên cơ sở khái quát hóa từ các điều kiện thực tiễn, kết hợp với phương pháp tư
duy hệ thống, chúng tôi xác định 8 trụ cột cấu thành mô hình năng lực hội nhập
kinh tế của một địa phương. Trong đó, có 4 trụ cột tĩnh và 4 trụ cột động, các trụ
cột động có sự
giao thoa với phần còn lại của thế giới (địa phương khác và nước
ngoài). Bản thân các trụ cột tĩnh cũng đang phát triển theo thời gian. Việc phân
chia “tĩnh” hay “động” ở đây nhằm phân biệt giữa các yếu tố dịch chuyển qua lại
biên giới địa phương với các yếu tố không dịch chuyển.
Hình 2: Mô hình chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương
Bốn trụ cột tĩnh bao gồm (1) thể chế, (2) văn hóa, (3) cơ sở hạ tầng và (4) đặc
điểm tự nhiên. Bốn trụ cột động tiếp theo bao gồm (5) thương mại, (6) du lịch, (7)
đầu tư và (8) con người. Các trụ cột này tương tác với nhau tạo lực đẩy, chúng
tôi muốn lựa chọn mô hình xây dựng như mặt cắt của một tên lửa đẩy và hàm ý
nếu biết cách vận hành t
ốt các nhóm nhân tố này, địa phương sẽ có thể phát
triển một cách nhanh chóng.
24
Hình 3: Định vị năng lực hội nhập kinh tế địa phương
Khi đánh giá địa phương tại thời điểm hiện tại, chúng ta sẽ thấy được thực trạng
về năng lực hội nhập, địa phương cần xác định một hình ảnh giả lập về năng lực
hội nhập kỳ vọng trong tương lai. Thiết lập các mục tiêu trên cơ sở kỳ vọng này
để thực hiện việc hoạch định chiến l
ược phát triển kinh tế xã hội, xây dựng các
nền tảng và triển khai thực hiện các thay đổi nhằm đạt đến kỳ vọng đó.