Nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 12

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
i) Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới,
là điều kiện tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế quốc gia đi vào quỹ đạo
chung của thế giới thông qua việc tận dụng được dòng chảy vốn khổng lồ
cùng với công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh hội nhập ngân hàng, xây dựng hệ
thống ngân hàng vững mạnh trở thành kênh dẫn nhập vốn hàng đầu, là cách
tốt nhất cho nền kinh tế đang cần vốn như Việt Nam từng bước chuyển dịch
cơ cấu vốn theo định hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Hội
nhập kinh tế quốc tế, thị trường tài chính-tiền tệ Việt Nam sẽ phát triển mạnh
hơn cả theo chiều rộng và chiều sâu, đặc biệt là sự gia tăng hoạt động của các
định chế tài chính như các ngân hàng thương mại cổ phần, các tổ chức tài
chính phi ngân hàng và các tổ chức tài chính ngân hàng đa quốc gia. Thể chế
kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đầy đủ
hơn, đồng bộ hơn, minh bạch hơn và bình đẳng hơn giữa các chủ thể tham gia
thị trường. Rõ ràng là những biến đổi này sẽ tạo ra cho các ngân hàng Việt
Nam môi trường kinh doanh mới với nhiều điều kiện thuận lợi, mở ra nhiều
cơ hội kinh doanh và hợp tác cùng phát triển.
Tuy nhiên, chính sức ép của cạnh tranh và hội nhập sẽ buộc các ngân
hàng Việt Nam phải nỗ lực đổi mới để có thể tồn tại và phát triển. Hiện nay,
hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi can thiệp
của các cơ quan chính quyền, tình trạng tài chính yếu kém, khuôn khổ pháp lý
chưa hoàn thiện, công nghệ ngân hàng tụt hậu so với các nước, nợ khó đòi
cao, môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định đã đặt hệ thống ngân hàng vào
tình thế rủi ro khá cao. Vì vậy, lĩnh vực ngân hàng cần nhanh chóng hội nhập
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cùng với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới, xây dựng hệ thống ngân
hàng có năng lực cạnh tranh vững mạnh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn và
cung ứng sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập.

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của
ngân hàng thương mại
Chương 2: Tình hình hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh
tranh của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CH ƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG CHƯƠNG DƯƠNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Trước đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã đề cập tới
vấn đề cạnh tranh của các nhà tư bản. Theo C.Mác: "Cạnh tranh tư bản chủ
nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành
giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi
nhuận siêu ngạch". Ở đây, C.Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội
tư bản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất. Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh có nguồn gốc
từ chế độ tư hữu. Cạnh tranh được xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để
tồn tại. Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực.
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài trước đây, cạnh tranh cũng được
nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực: cạnh tranh gắn với đổ vỡ, cạnh tranh là tiêu
diệt lẫn nhau, là “cá lớn nuốt cá bé”. Nhận thức không đầy đủ về cạnh tranh
đã dẫn tới không thừa nhận cạnh tranh, tạo ra sự độc quyền, nuôi dưỡng độc
quyền trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại hiện nay, cạnh

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất: “Năng lực cạnh tranh
chính là thực lực và lợi thế mà quốc gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm
dịch vụ) có thể huy động được để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các
đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới một cách lâu dài và có ý chí
nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của mình và cho quốc
gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ) mình.”
Như vậy, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành
bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô, là kết
quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu tác động của nhiều nhân tố bên trong
và bên ngoài của quốc gia ( ngành, doanh nghiệp, hay sản phẩm dịch vụ)
1.2. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang
không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các
công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương
hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của
ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh
tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung
cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo
hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại. Cách
tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện
những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại: “Ngân hàng thương mại
là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng

 Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký
thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch
vụ tài chính khác
Hiện nay, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan
trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh
tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một
nền kinh tế thị trường còn non yếu.
1.2.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại thể hiện ở thực
lực và lợi thế của Ngân hàng thương mại đó so với đối thủ cạnh tranh trong
việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao
hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại trước hết
phải được tạo ra từ thực lực của chính ngân hàng đó. Đây là các yếu tố nội
hàm của mỗi ngân hàng, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ,
tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị … một cách riêng biệt mà cần đánh giá,
so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực,
cùng một thị trường. Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại thể
hiện ở khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với giá cả thấp hoặc hợp
lý, chất lượng cao, uy tín cao, thực hiện tốt các cam kết với các bạn hàng và
làm hài lòng khách hàng. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực
cạnh tranh, ngoài các yếu tố nội hàm, Ngân hàng thương mại còn phải tạo lập
được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, Ngân hàng thương
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mại có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi
kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại là sự tổng
hợp của các yếu tố từ công tác chỉ đạo và điều hành, chất lượng đội ngũ cán
bộ, uy tín và thương hiệu của Ngân hàng thương mại. Năng lực cạnh tranh
của ngân hàng được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, khả năng

Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín và
vị thế của Ngân hàng sẽ càng được khẳng định, Ngân hàng sẽ chủ động trong
hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tổ chức,
dân cư. Điều quan trọng là Ngân hàng cần phải căn cứ vào chiến lược, mục
tiêu phát triển kinh tế của từng vùng, từng ngành trong cả nước,… để từ đó
đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Cạnh tranh trong lĩnh vực sử dụng vốn.
Đây là hoạt động trực tiếp đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Đối
tượng kinh doanh của Ngân hàng thương mại là tiền tệ và quyền sử dụng tiền
tệ, do vậy lợi tức của Ngân hàng có được chủ yếu từ việc đầu tư và cho vay.
Nếu một Ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế
hoạch sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả thì không những không đem lại lợi nhuận
cho Ngân hàng, ngược lại còn không có nguồn bù đắp chi phí từ việc huy
động. Do vậy, có thể nói sử dụng vốn là hoạt động hết sức quan trọng của mỗi
Ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hoạt động ngân quỹ, cho
vay, đầu tư tài chính,…
Một Ngân hàng có hoạt động sử dụng vốn với hiệu quả cao sẽ nâng
cao vai trò, uy tín của Ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường,
từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch với mình, tạo điều kiện
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thuận lợi để mở rộng hoạt động huy động vốn. Vì vậy, nhiệm vụ của mỗi
Ngân hàng là phải thường xuyên bám vào các mục tiêu phát triển kinh tế của
vùng, ngành, đất nước,… nhằm đưa ra các hình thức đầu tư đúng đắn, có hiệu
quả cao, thực hiện nghiên cứu thị trường, nghiên cứu của ngân hàng. Ở các
nước phát triển, Ngân hàng thương mại thực hiện rất nhu cầu sử dụng vốn của
xã hội, thực hiện cho vay theo dự án đầu tư, chương trình phục hồi sản xuất.
* Cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ trung gian của ngân
hàng

truyền thống văn hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất
cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh
chung. Chẳng hạn: chỉ cần một tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây
nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồn vong của cả hệ thống các tổ
chức tín dụng. Một Ngân hàng thương mại hoạt động yếu kém, khả năng
thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế
và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các Ngân hàng
thương mại tuy phải cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng
thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ
đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là
các Ngân hàng thương mại khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả
đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính Ngân hàng
thương mại này do tác động dây chuyền.
(2) Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại có liên quan
đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, đến từng cá nhân thông qua
các hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dịch vụ tài chính khác; đồng thời, trong hoạt động kinh doanh của mình, các
Ngân hàng thương mại cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục vụ các
đối tượng khách hàng chung. Chính vì vậy, nếu như một Ngân hàng thương
mại bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động
dây chuyền đến gần như tất cả các Ngân hàng thương mại khác, không những
thế, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng. Đây quả là
điều mà các Ngân hàng thương mại không bao giờ mong muốn. Chính vì vậy,
các Ngân hàng thương mại trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn
nhau để dành giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng
tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống.
(3) Do hoạt động của các Ngân hàng thương mại có liên quan đến tất
cả các chủ thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội, cho nên, để tránh sự

.1.2.4. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cạnh tranh mang tính tất yếu,
khách quan và đó cũng là động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, trong nền
kinh tế thị trường như hiện nay, cạnh tranh sẽ không chỉ là tạo động lực để
phát triển mà còn phải đối mặt với những yếu tố không lành mạnh nhằm
chiếm lĩnh ưu thế trên thương trường, để thu lợi nhuận cao hơn và đương
nhiên nảy sinh sự thôn tính, sáp nhập, phá sản, giải thể và cả những rủi ro về
đạo đức…
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và Ngân hàng
thương mại nói riêng được biểu hiện bằng tiềm năng về tài chính, quản trị
điều hành, chất lượng đội ngũ, chất lượng và hiệu quả hoạt động, tốc độ đổi
mới về công nghệ và sản phẩm… Năng lực tài chính của một Ngân hàng
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thương mại là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá
trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự có, chất
lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo
an toàn trong hoạt động kinh doanh.
Một Ngân hàng thương mại có năng lực tài chính tốt phải là Ngân
hàng thương mại luôn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển một
cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở
trong nước và trên thế giới. Ngân hàng thương mại có khả năng cung cấp tín
dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Ngân hàng thương
mại luôn đáp ứng đầy đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân
hàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới.
Ngân hàng thương mại còn phải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của
mình một cách an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản. Năng lực tài
chính của một Ngân hàng thương mại đóng vai trò vô cùng quan trọng. Năng
lực tài chính của một Ngân hàng thương mại càng được đảm bảo thì mức độ

và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trên thị trường trong nước.
Đồng thời, đó cũng là cơ sở để Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động tới
các thị trường tài chính khu vực và quốc tế. Do đó, quy mô vốn có thể coi là
tiêu chí hết sức quan trọng khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngân
hàng thương mại, thể hiện năng lực tài chính vốn có của chính bản thân Ngân
hàng thương mại.
Đối với yếu tố vốn của Ngân hàng, ta sẽ tập trung đánh giá theo hai
chỉ tiêu sau:
 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là tiền gửi
thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và vay: Đây là chỉ tiêu đánh giá khối lượng vốn
huy động. Nó có ảnh hưởng đến quy mô phát triển hoạt động ngân hàng bởi
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng là huy động để cho vay và các
hoạt động thanh toán khác. Nếu nguồn vốn không ổn định và có chất lượng
không tốt sẽ dễ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán và đưa đến thua
lỗ, phá sản. Vậy mặt chất lượng biểu hiện trong tính hiệu quả về tác dụng
thực tiễn và mức độ ảnh hưởng của quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh
trong từng giai đoạn cụ thể.
 Cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu: Cơ cấu vốn, sự biến
động về cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo
theo là rủi ro, biến động về thu nhập, vì vậy cơ cấu vốn cần phải có sự ổn định
và phù hợp với hoạt động của ngân hàng.
* Chất lượng tài sản:
Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản
vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo
nên các loại tài sản khác nhau của Ngân hàng. Do Ngân hàng thương mại là
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nên phần lớn tài sản của Ngân hàng là các tài
sản tài chính, bao gồm các hợp đồng cho vay, hợp đồng thuê - mua, các
chứng khoán, các khoản tiền gửi ... ( tài sản sinh lời), một phần nhỏ trong

với Ngân hàng, giữ tiền trong két cũng không phải là giải pháp an toàn. Tăng
khả năng sinh lời có thể coi là cách đảm bảo an toàn nhất. Nó là cách tốt nhất
để có thể trả lương cao cho người lao động, để tăng năng suất và tính liêm
khiết rất cần thiết đối với cán bộ Ngân hàng. Đồng thời, nó là biện pháp quan
trọng để Ngân hàng tăng quỹ tích luỹ ( tăng vốn của chủ), thiết lập quỹ dự
phòng lớn, đủ sức chống đỡ rủi ro.
Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại gắn liền với chất lượng
tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của Ngân hàng thương mại. Nâng cao chất
lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn cũng chính là nâng cao hiệu quả hoạt
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Khả năng sinh lời là chỉ tiêu
tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một Ngân
hàng thương mại. Để đánh giá khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại,
người ta thường sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA), chỉ
tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên
doanh thu.
 Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA):
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Ý nghĩa của chỉ tiêu này một đồng tài sản có tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công việc quản lý tài sản có - tài
sản có sinh lời càng lớn thì hệ số này càng lớn
 Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE):
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản sinh lãi
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của

thời gian cần thiết để có thể hoàn tất một giao dịch.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng
thương mại bao gồm:
 Chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ.
 Độ an toàn, chính xác.
 Thủ tục giao dịch.
 Tốc độ xử lý giao dịch.
(3) Chất lượng nguồn nhân lực:
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính ngân hàng đòi hỏi
nguồn cung cấp nhân lực rất lớn, nhất là nguồn nhân lực có kinh nghiệm làm
việc và đáp ứng được nhu cầu mới. Bởi vì theo nguyên lý, con người là yếu tố
quyết định.
Về mặt quản lý: Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản,
nguồn vốn, phòng tránh rủi ro tốt nhất, quản lý các danh muc đầu tư hiệu quả
thì hoạt động của ngân hàng sẽ đảm bảo an toàn và tăng trưỏng, tăng uy tín,
thu hút khách hàng.
Về mặt nghiệp vụ: Với trình độ nghiệp vụ cao, mọi thao tác nghiệp vụ
thực hiện chính xác, hiệu quả, tác phong làm việc nhiệt tình, cởi mở, tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng sẽ gây ấn tượng tốt đối với khách hàng. Khách
hàng là người có quyền lựa chọn, vì vậy họ sẽ chọn nơi làm họ hài lòng nhất
để gửi tiền, vay tiền tiền và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng cung
cấp.
Chính vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh trước yêu cầu của hội
nhập, các Ngân hàng thương mại cần hết sức quan tâm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực và có chiến lược lâu dài phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng cao.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của nó.
(5) Trình độ công nghệ:
Ngày nay các Ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau theo hướng
phát triển đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng đi kèm với việc nâng cao chất
lượng dịch vụ, mà chất lượng dịch vụ ngân hàng luôn phụ thuộc và trình độ
công nghệ ngân hàng. Nếu trình độ công nghệ ngân hàng không tiên tiến, hiện
đại thì chất lượng dịch vụ cũng không thể nâng cao được. Do đó, một xu thế
tất yếu là các Ngân hàng thương mại phải ứng dụng công nghệ tiên tiến để
phát triển và nâng cao chất lựong dịch vụ ngân hàng. Việc ứng dụng và phát
triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại là vấn đề tất yếu, vấn đề sống còn của
các Ngân hàng nhằm nâng cao năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh của
các Ngân hàng trong quá trình hội nhập. Nó giúp cho Ngân hàng thoả mãn
hơn trước các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Nếu một ngân hàng
ứng dụng và sử dụng công nghệ có hiệu quả thì Ngân hàng đó sẽ mở rộng
không giới hạn về không gian hoạt động, thời gian phục vụ và cung cấp
những dịch vụ Ngân hàng mới tối đa hoá tiện ích cho khách hàng.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, việc thu thập thông tin là
rất cần thiết. Nhờ có hệ thống tin học hiện đại, Ngân hàng có thể thu thập
thông tin về khách hàng, về thị trường tốt hơn, qua đó có thể xác định được
thị trường đầu tư vốn có hiệu quả, phát triển nghiệp vụ và dịch vụ của mình,
hạn chế rủi ro trong kinh doanh, tạo điều kiện mở rộng vốn tự có.
Như vậy, xác định đúng tầm quan trọng của công nghệ và việc hiện
đại hoá công nghệ là một trong những điều kiện cơ bản để hướng tới việc đảm
bảo các chuẩn mực quốc tế của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong
quá trình cạnh tranh và hội nhập. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng là điều
tất yếu phù hợp với tiềm lực tài chính của ngân hàng, phù hợp với mặt bằng
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chung về công nghệ của đất nước, đảm bảo xu thế chung của khu vực và quốc
tế.

trong xu thế của toàn cầu hoá thì thương hiệu ngày càng trở lên quan trọng
đối với sự sống còn của Ngân hàng. Thương hiệu có thể cam kết một tiêu
chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của một sản phẩm dịch vụ và đáp ứng mong
muốn của khách hàng, giúp họ tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm một cách dễ
dàng, thuận tiện. Lòng trung thành với thương hiệu của khách hàng cho phép
Ngân hàng dự báo và kiểm soát thị trường. Hơn nữa, nó tạo nên một rào cản,
gây khó khăn cho các Ngân hàng khác muốn xâm nhập thị trường. Như vậy,
thương hiệu có thể được coi như một cách thức hữu hiệu để Ngân hàng đảm
bảo lợi thế cạnh tranh.
Để xây dựng và chiếm lĩnh lòng tin đối với người tiêu dùng, đòi hỏi
sản phẩm của ngân hàng đó cần phải có những điểm phù hợp,đồng thời phải
có sự khác biệt đối với sản phẩm của ngân hàng khác. Sự phù hợp trong sản
phẩm là khả năng thuơng hiệu đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Còn sự
khác biệt là để thể hiện sự vượt trội của thương hiệu đó. Điều này đòi hỏi
ngân hàng phải phải thường xuyên có những sản phẩm, dịch vụ mới hoặc gia
tăng chức năng vượt trội so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Và việc truyển
tải sự phù hợp và sự khác biệt trong từng sản phẩm đến với khách hàng là một
quá trình liên tục thông qua nhiều phương thức. Đó có thể là quảng cáo trên
các phương tiện thông tin đại chúng, bằng tờ rơi hay từ việc trực tiếp trong
việc giao tiếp, quan hệ với khách hàng và công chúng.
Như vậy, uy tín thương hiệu của Ngân hàng được thể hiện ở:
 Cở sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật.
 Thâm niên hoạt động.
25
Các điều kiện
về cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status