Giải pháp điều chỉnh cơ cấu tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Chương Dương - Pdf 90

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Đất nớc ta sau mời lăm năm đổi mới đã đạt đợc những thành tựu to lớn về
kinh tế trong đó có sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá -
hiện đại hoá luôn đợc xem là một nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt thời kỳ quá
độ. Đó chính là quá trình tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ,
quá trình cơ khí hoá, hiện đại hoá nền sản xuất. Bên cạnh đó, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá phải đợc gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công
lao động xã hội. Mục tiêu đặt ra cho quá trình này là biến nớc ta từ một nớc
nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu thành một nớc công nghiệp hiện đại. Song để
đạt đợc những mục tiêu này thì cần có những điều kiện nhất định mà một trong
những tiền đề quan trọng hàng đầu là phải có sự tích luỹ về vốn. Việc đáp ứng
vốn cho quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá có thể xuất phát từ vốn trong
nớc hoặc nớc ngoài nhng về cơ bản thì vẫn phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn
trong nớc nhằm tận dụng một cách tối đa tiềm lực sẵn có ở nớc ta hiện nay. Hệ
thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng là nguồn cung cấp vốn lớn nhất phục vụ
phát triển kinh tế. Ngân hàng với các nghiệp vụ của mình đã tập trung nguồn
vốn nhàn rỗi để thoả mãn nhu cầu vốn cho đầu t phát triển kinh tế, cho vay đối
với các dự án, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tuy vậy có một thực
trạng nổi lên là nhiều doanh nghiệp cần vốn nhng không đợc nhận vốn, hoặc
thiếu vốn để đầu t mở rộng sản xuất đổi mới trang thiết bị hoặc nhiều doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn của ngân hàng. Với vai trò to lớn
của mình, ngân hàng cần phải nỗ lực để nghiệp vụ tài trợ có tác dụng phát huy
tích cực cho nền kinh tế nhằm thúc đẩy nền kinh tế nớc ta đi lên.
Sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thơng Chơng
Dơng, em nhận thấy tỷ trọng tín dụng cho khu vực ngoài quốc doanh vẫn còn
thấp, tỷ trọng tín dụng có tài sản đảm bảo cha cân đối giữa các khu vực kinh tế.
Những chỉ số này vẫn cha phù hợp với tình hình thực tế, với xu hớng chung
cũng nh chủ trơng của Nhà nớc. Từ tính cấp thiết của vấn đề này nên em chọn
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

+ Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng d tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng đợc hiểu là phơng pháp dịch
chuyển quỹ từ ngời cho vay sang ngời đi vay.
+ Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên
cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Nh một công ty thơng nghiệp hay thơng mại
bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trờng hợp này ngời bán chuyển
giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định, theo thoả thuận, bên
mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và
các định chế tài chính khác với doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dới hình thức
cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian nhất
định ngời đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhng đều thể hiện hai nội dung
chủ yếu:
Thứ nhất: Ngời sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho ngời
khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ hai: ngời sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đó cho ng-
ời sở hữu với một giá trị lớn hơn, phần chênh lệch lớn hơn đó gọi là lợi tức hay
tiền lãi.
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời
sở hữu sang ngời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lợng
giá trị lớn hơn lợng giá trị ban đầu.
Theo quan điểm này, phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tính
chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị, tính hoàn trả và tính thời hạn.
Nh vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa ngời cho vay và ngời đi vay
thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng đợc biểu hiện dới hình thức tiền
tệ hoặc hàng hoá. Quá trình đó đợc thể hiện qua 3 giai đoạn:
Thứ nhất: phân phối tín dụng dới hình thức cho vay. Giai đoạn này, giá
trị tín dụng đợc chuyển sang ngời đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận đợc giá trị.

khác ngoài nguồn thu chính thì có thể thu hồi nợ từ nguồn đó. Vì vậy, thời hạn
cho vay có thể ngắn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh . Việc xác định thời hạn
cho vay không chỉ dựa vào chu kỳ luân chuyển vốn của đối tợng vay mà còn
phải dựa vào tính chất vốn của ngời cho vay: nếu vốn của ngời cho vay ổn định
thì thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngợc lại thì thời hạn cho vay phải ngắn
hơn để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng .
+ Tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị trên nguyên tắc
phải hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng. Vì vốn cho
vay của ngân hàng là vốn huy động của những ngời tạm thời thừa vốn nên sau
một thời gian nhất định, ngân hàng phải trả lại cho ngời ký thác. Mặt khác,
ngân hàng phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động nh khấu hao tài sản cố
định, trả lơng cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm... nên ngòi vay
vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi.
1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng thơng mại
1.3.1 Vai trò đối với doanh nghiệp
Ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất
trong nền kinh tế. Sở dĩ nh vậy là vì nguồn vốn vay từ ngân hàng là một nguồn
vốn mang tính phổ biến và dễ tiếp cận, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Điều
này không chỉ đúng với các nớc đang phát triển mà còn đúng ở những nơi có thị
trờng tài chính phát triển. Chẳng hạn nh Mỹ là một nớc có thị trờng chứng
khoán phát triển nhất thế giới, các doanh nghiệp có thể tiến hành vay vốn thông
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
qua con đờng phát hành cổ phiếu, trái phiếu nhng số liệu thống kê cho thấy
rằng vốn vay từ ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn vay của
các doanh nghiệp Mỹ. Sở dĩ nh vậy là do không phải ai cũng có thể phát hành
chứng khoán vào thị trờng chứng khoán mà chỉ những doanh nghiệp lớn, có đủ
uy tín mới tận dụng đợc nguồn vốn này. Hơn nữa, việc phát hành chứng khoán
cũng cần nhiều thủ tục phức tạp không thể đáp ứng đợc những nhu cầu nhỏ hay
có tính cấp thiết, sự phù hợp giữa nhu cầu về vốn và khả năng đáp ứng của vốn.

sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, đôn đốc khách hàng vay vốn trả gốc
và lãi đúng thời hạn theo thoả thuận đã ký kết bằng văn bản. Khác với vốn tự có
là không phải trả chi phí vốn, những khoản vay từ ngân hàng phải chịu những
điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các
doanh nghiệp vay vốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng
quay vốn nhanh ... để đảm bảo cho việc trả nợ ngân hàng đúng thời hạn và có
lợi nhuận giữ lại. Mặt khác trong quá trình kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay,
ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nhợc điểm, sai sót và từ đó có
biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh
nghiệp.
Có thể nói rằng, tín dụng ngân hàng đã ràng buộc trách nhiệm giữa ngời vay và
ngời cho vay, từ đó nâng cao năng lực quản lý vốn và qúa trình sản xuất kinh
doanh, giúp cho nguồn vốn đã đầu t mang lại hiệu quả cao nhất.
Ba là: Tín dụng ngân hàng tài trợ cho nhu cầu về vốn lu động của doanh
nghiệp. Vốn lu động là số tiền dùng để mua nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ
tùng thay thế, các công cụ lao động, chi phí trả lơng nhân viên và một số chi phí
cần thiết khác phục vụ quá trình sản xuất khinh doanh. Các doanh nghiệp có
nhu cầu vốn lu động cũng khá lớn, nhất là đối với các doanh nghiệp thơng mại.
1.3.2.Đối với chính phủ
Từ thời kỳ Trung Cổ và vào những năm đầu cách mạng công nghiệp, tín
dụng ngân hàng đã có vai trò lớn đối với chính quyền. Ngân hàng cung cấp tín
dụng cho chính quyền để tài trợ cho chính quyền trong chiến tranh.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cho đến nay, tín dụng ngân hàng vẫn có vai trò lớn đối với Chính phủ.
Tín dụng ngân hàng cấp vốn để bù đắp những thiếu hụt ngân sách. Chính phủ
có thể đi vay trên thị trờng tài chính bằng cách phát hành tín phiếu kho bạc, trái
phiếu chính phủ hoặc vay trực tiếp Ngân hàng Nhà nớc. Tuy nhiên, việc vay từ
Ngân hàng Nhà nớc thì tiền sẽ đợc phát hành thêm, làm tăng khối lợng tiền tệ
gây áp lực lạm phát tiềm tàng. Do đó Chính phủ sẽ vay từ thị trờng tài chính. Để

ngân hàng thơng mại, giúp cho quá trình quản lý và điều hành có hiệu quả.
Có thể phân loại tín dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau, song thực tế
các nhà kinh tế học thờng phân loại theo các tiêu thức sau:
1.4.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Theo căn cứ này, tín dụng ngân hàng đợc chia ra làm 3 loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dới 12 tháng. Loại tín
dụng này thờng đợc dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lu động cho
các doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
+Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến dới
năm năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu đợc sử dụng để mua sắm tài sản cố định,
cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh. Trong nông
nghiệp, các khoản tín dụng trung hạn chủ yếu dùng để đầu t vào các đối tợng
nh máy cày, máy bơm nớc, xây dựng các vờn cây công nghiệp nh cà phê,
điều...Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn là nguồn hình thành vốn lu động th-
ờng xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp mới thành lập.
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, thời hạn
tối đa có thể lên tới 20, 30 năm, thậm chí 40 năm. Loại hình tín dụng này đợc
cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nh cấp vốn xây dựng cơ bản, đầu t xây
dựng các xí nghiệp mới, máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải có quy mô lớn,
các công trình thuộc cơ sở hạ tầng ( đờng sá, sân bay, bến cảng ... ), cải tiến và
mở rộng sản xuất với quy mô lớn.
1.4.2. Căn cứ vào mức độ đảm bảo
Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng đợc chia thành hai loại:
+ Tín dụng không có bảo đảm: là hình thức cấp tín dụng không có tài
sản hoặc bảo lãnh của bên thứ ba đảm bảo cho khoản nợ vay mà việc cho vay
chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân

Ngân hàng th-
ơng mại
Khách
hàng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian
tài chính khác nh NHTM. Ngân hàng thơng mại cấp tín dụng gián tiếp thông
qua các hình thức nh chiết khấu thơng mại, nghiệp vụ factoring
1.4.4. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Dựa vào tiêu thức này, tín dụng đợc chia thành hai loại:
+Tín dụng sản xuất và lu thông hàng hoá: là loại tín dụng các doanh
nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lu thông hàng hoá, đáp
ứng các nhu cầu thanh toán chi trả giữa các doanh nghiệp.
+Tín dụng cá nhân: là hình thức tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nh
mua sắm nhà cửa , xe cộ, các loại hàng hoá lâu bền...Nhìn chung, các khoản
vay này thờng có giá trị nhỏ, thực hiện bằng hình thức trả góp.
1.4.5. Căn cứ vào phơng thức tín dụng
+ Tín dụng theo hạn mức tín dụng: là hình thức mà ngân hàng và khách
hàng cùng ký kết một hợp đồng hạn mức trong đó có sự thoả thuận một khối l-
ợng tín dụng tối đa mà khách hàng đợc phép vay trong một khoảng thời gian
nhất định.Nếu hết thời hạn mà khách hàng cha sử dụng hết hạn mức ấy thì coi
nh không còn giá trị nữa. Trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, khi có nhu
cầu, khách hàng chỉ cần nộp đơn xin vay và lập hợp đồng vay là sẽ đợc ngân
hàng xem xét cho vay.
11
Ngân hàng
thơng mại
Khách hàng nhận
vốn vay
Ngời thanh toán

ngân hàng, đầu t và góp vốn liên doanh. Các ngân hàng thơng mại tập trung
vốn, trên cơ sở đó, phân phối vốn thông qua hoạt động tín dụng. Vốn huy động
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng, nó là
nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất (70%- 80%) trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng. Do đó tất yếu đặc điểm của nguồn vốn huy động nh tính ổn định, giá cả
của nguồn chi phối một phần tới hoạt động tín dụng và cơ cấu tín dụng của
ngân hàng thơng mại.
* Tính ổn định của nguồn vốn huy động:
Vốn huy động của ngân hàng thơng mại (nếu xem xét theo kỳ hạn) bao
gồm tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ
hạn), tiền gửi có kỳ hạn và các nguồn khác nh phát hàn chứng chỉ tiền gửi hay
phát hành trái phiếu. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu
khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và phải
có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến hạn hay khi khách hàng
có nhu cầu rút vốn. Mặc dù tính ổn định của nguồn phụ thuộc vào kỳ hạn thực
tế của nguồn kỳ hạn đợc tính cho cả một nguồn vốn trong một khoảng thời
gian, nó là thớc đo thời gian trung bình của dòng tiền dự tính đi ra khỏi ngân
hàng. Tuy nhiên, kỳ hạn thực tế phụ thuộc nhiều vào kỳ hạn gửi tiền của khách
hàng, mỗi loại khách hàng gửi vào ngân hàng đều nhằm một mục đích nhất
định, mục đích này chỉ thay đổi khi có những biến cố lớn xảy ra nh tin đồn
ngân hàng sắp phá sản, kế hoạch sản xuất kinh doanh bị đảo lộn. Tiền gửi
không kỳ hạn có tính ổn định thấp vì khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào,
mục đích của khách hàng khi sử dụng sản phẩm này không phải là hởng lãi mà
là để thanh toán (séc, thẻ )hoặc gửi tiền có tính chất tạm thời và ngân hàng phải
thoả mãn nhu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, kỳ phiếu
thờng có tính ổn định cao hơn. Đối tợng gửi tiền có kỳ hạn thờng với mục đích
hởng lãi, nếu họ rút trớc thời hạn thì sẽ không đợc hởng lãi hoặc hởng lãi thấp,
do đó thông thờng họ ít khi rút trớc hạn. Nguồn vốn huy động từ trái phiếu, kỳ

giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tạo nên tồn khoản,
cho phép ngân hàng đợc phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh. Nếu ngân
hàng u thế trong việc huy động tiền gửi không kỳ hạn thì chi phí nguồn vốn sẽ
giảm, điều này tác động đến giá cả tín dụng.
Bốn ngân hàng thơng mại quốc doanh, đặc biệt là ngân hàng Ngoại Th-
ơng luôn có nguồn vốn rẻ tơng đối so với các ngân hàng khác nhờ lợng vốn
không kỳ hạn huy động đợc khá lớn do đó có u thế trong cạnh tranh lãi suất. Để
cạnh tranh trong việc huy động vốn, các ngân hàng cổ phần thờng phải đặt giá
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vốn huy động cao hơn so với các ngân hàng thơng mại quốc doanh, các ngân
hàng này cũng không thu hút đợc nhiều tiền gửi không kỳ hạn nên chi phí vốn
luôn cao. Với chi phí vốn nh thế, các ngân hàng thơng mại cổ phần không thể
đặt giá tín dụng thấp và có nhiều u đãi về lãi suất với khách hàng, vì thế thông
thờng khách hàng chính của các ngân hàng này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
ngời tiêu dùng. Các ngân hàng thơng mại quốc doanh có u thế trong viêc thu
hút các doanh nghiệp lớn nh tổng công ty. Do đó chi phí vốn cũng tác động đến
cơ cấu tín dụng xét theo đối tợng vay vốn.
Chi phí tín dụng cũng gián tiếp tác động đến cơ cấu tín dụng xét theo tài
sản đảm bảo. Do đặc điểm của các doanh nghiệp Nhà nớc nên tỷ trọng tín dụng
đối với doanh nghiệp Nhà nớc chi phối tỷ trọng tín dụng có đảm bảo trên tổng
d nợ. Theo nghị định 178/1999/NĐ-CP và nghị định 85/2002/NĐ-CP thì ngân
hàng đợc phép cho vay không có tài sản đảm bảo đối với các loại hình doanh
nghiệp, tuy nhiên, hiện nay hầu hết các ngân hàng mới chỉ cho vay không có
tài sản đảm bảo đối với doanh nghiệp Nhà nớc. Do đó nếu trong cơ cấu khách
hàng mà tỷ trọng khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh cao thì có thể
dẫn tới tỷ trọng cho vay có tài sản đảm bảo cao trọng d nợ cho vay.
Qua đó ta có thể thấy mỗi loại nguồn vốn huy động có những đặc tính
riêng có thể tác động đến cơ cấu tín dụng. Nếu nh một ngân hàng muốn điều
chỉnh cơ cấu tín dụng, tăng tỷ trọng tín dụng dài hạn thì không thể không xem

của các ngân hàng thơng mại cũng chịu tác động của các chính sách nh lãi suất
chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn ... Nếu NHNH tăng lãi suất tái cấp vốn cao buộc
các ngân hàng phải hạn chế các khoản cho vay để đề phòng thiếu hụt vốn, tất
yếu sẽ làm thay đổi cơ cấu tín dụng.
2.2.3. Quy mô của ngân hàng
Quy mô của ngân hàng có thể xem xét theo các yếu tố nh tổng tài sản,
tổng nguồn vốn huy động, tổng vốn chủ sở hữu, nhng yếu tố cơ bản nhất vẫn là
vốn chủ sở hữu. Nh trên đã trình bày, quy mô vốn chủ sở hữu đợc sử dụng để
xác định mức cho vay tối đa đối với một khách hàng. Các ngân hàng lớn thờng
cung cấp chủ yếu các khoản tín dụng trị giá lớn cho các công ty lớn và các hãng
kinh doanh do đó họ thu hút đợc lợng tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn
lớn, giá cả nguồn vốn huy động sẽ thấp. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ thờng
tập trung vào các khoản cho vay cá nhân trị giá nhỏ, cho vay trả góp, cho vay
mua nhà thế chấp, cho vay nông nghiệp. Quy mô vốn chủ sở hữu tác động đến
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều yếu tố nh quyền phán quyết tín dụng, khả năng chủ động trên thị trờng về
lãi suất , đến khả năng cạnh tranh.Thông thờng, các ngân hàng quy mô vốn nhỏ
chỉ quan hệ chặt chẽ với một vài lĩnh vực rất nhạy cảm, dễ bị tác động của môi
trờng.
Khách hàng đến với ngân hàng còn vì một yếu tố khác đó là uy tín của
ngân hàng, khách hàng của các ngân hàng thờng có tính trung thành cao. Do đó
các ngân hàng có quy mô vốn lớn dễ dàng thu hút đợc cả những khách hàng lớn
cũng nh cá nhân ngời tiêu dùng. Đặc biệt ở nớc ta, do đặc điểm lịch sử hình
thành của các ngân hàng thơng mại, do mới chuyển đổi cơ chế kinh tế, do tâm
lý, do quy mô vốn, các Ngân hàng thơng mại quốc doanh có u thế rất nhiều
trong việc thiết lập quan hệ với khách hàng.
Nh vậy, quy mô vốn của ngân hàng ảnh hởng cả trực tiếp lẫn gián tiếp tới
cơ cấu tín dụng xét theo nhiều khía cạnh đối tợng vay vốn, mục đích sử dụng
vốn, thời hạn và tài sản đảm bảo.

ơng mại xét trên nhiều khía cạnh.
2.2.5. Thu nhập dự tính từ các khoản vay
Ngân hàng thơng mại là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, với mục tiêu là lợi
nhuận, nên yếu tố lợi nhuận hay thu nhập dự tính sẽ ảnh hởng tới quyết định
của mỗi hoạt động ngân hàng. Ngân hàng luồn muốn cung cấp những khoản tín
dụng mang lại thu nhập dự tính cao nhất sau khi đã tính tới toàn bộ chi phí và
rủi ro tín dụng. Thông thờng lợi nhuận luôn tỷ lệ thuận với rủi ro nhng có thể
hạn chế rủi ro bằng cách nâng cao chất lợng thẩm định, giám sát các khoản
vay ... Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, sự
cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng hơn,
các ngân hàng đang phát triển các khoản cho vay thơng mại, cho vay kinh
doanh bất động sản, cho vay tiêu dùng vì chúng có tỷ lệ thu nhập ròng khá cao
so với các khoản vay khác. Những khách hàng vay tiêu dùng dờng nh kém
nhạy cảm với lãi suất, họ chỉ quan tâm tới khoản tiền mà họ phải trả hàng tháng
hơn là lãi suất nên đây là một trong những sản phẩm có thu nhập cao mà nhiều
ngân hàng trong quá trình đa dạng hoa dịch vụ đang theo đuổi. Điều này làm tỷ
trọng các hình thức tín dụng thay đổi, từ đó làm thay đổi cơ cấu tín dụng.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ở Việt Nam các Ngân hàng thơng mại quốc doanh giao dịch chủ yếu
với các khách hàng lớn, d nợ tín dụng của các khách hàng này chiếm tỷ trọng
lớn( trên 50%), mặc dù phải có nhiều u đãi với đối tợng khách hàng này nhng
tính an toàn cao vì đợc Nhà nớc đảm bảo, các khoản tín dụng có quy mô lớn
nên thu nhập từ các khoản cho vay này có nhiều khả quan. Trong xu hớng cạnh
tranh ngày càng gia tăng, sự phát triển của các nhu cầu và lợi ích từ các khoản
cho vay tiêu dùng cho vay kinh doanh thơng mại với các đối tợng ngoài quốc
doanh, các Ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng đang mở rộng các hoạt động
tín dụng của mình. Trong thời gian tới, tỷ trọng các khoản cho vay ngoài quốc
doanh có xu hớng tăng.
Ngoài ra còn rất nhiều nhân tố tác động tới cơ cấu tín dụng nh khả năng

Chất lợng tín dụng là một thuật ngữ phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng
của NHTM, nó đợc cấu thành bởi hai yếu tố: mức độ an toàn tín dụng và khả
năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại. Nh vậy nâng cao
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chất lợng tín dụng đồng nghĩa với việc phải tối thiểu hoá rủi ro và nâng cao khả
năng sinh lời của các khoản tín dụng.
* Giảm thiểu rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng không thu hồi đợc một phần hay
toàn bộ khoản thanh toán đúng hạn mà ngời nhận nợ cam kết. Trong các nghiệp
vụ kinh doanh ngân hàng, tín dụng là nguồn mang lợi nhuận lớn nhất cho ngân
hàng ( lớn hơn 70%) nhng rủi ro tín dụng có khả năng dẫn đến tổn thất lớn nhất
cho ngân hàng.
Cơ cấu tín dụng nếu xét theo thời hạn tín dụng, đối tợng tín dụng, tài sản
đảm bảo đều có những ảnh hởng nhất định tới rủi ro tín dụng. Nếu xem xét theo
thời hạn tín dụng, tỷ trọng tín dụng dài hạn càng lớn thì rủi ro càng tăng và ng-
ợc lại, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn càng cao, rủi ro càng thấp. Sở dĩ nh vậy một
phần là do giá trị thời gian của tiền, một phần do rủi ro đạo đức và những biến
động kinh tế có thể dẫn đến những khoản tín dụng dài hạn khó có khả năng thu
hồi đợc hơn những khoản tín dụng ngắn hạn. Mặc dù tín dụng dài hạn đã đợc
thẩm định một cách chặt chẽ nhng thời gian cho vay càng dài, việc dự báo về
rủi ro càng kém chính xác hay rủi ro càng cao. Trong dài hạn, những biến động
kinh tế, pháp lý ... tác động đến hiệu quả của việc sử dụng vốn vay do đó tác
động đến khả năng trả nợ của khách hàng. Giá cả của các khoản tín dụng dài
hạn thờng phải cộng thêm phần bù rủi ro, nếu ngân hàng có thể kiểm soát đợc
rủi ro, có thế mạnh trong thẩm định dự án thì có thể tận dụng đợc thế mạnh này
để mở rộng tín dụng trung và dài hạn.
Nếu xem xét cơ cấu tín dụng theo mức độ đảm bảo thì tín dụng đợc cấu
thành bởi tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo. tín dụng có tài
sản đảm bảo không những hạn chế đợc tổn thất cho ngân hàng mà còn có tác

Mỗi ngân hàng có một hớng điều chỉnh cơ cấu tín dụng riêng dựa trên cơ
sở các yếu tố nh nguồn vốn, nhu cầu vay vốn, mục tiêu của ngân hàng trong
giai đoạn đó và các nhân tố ảnh hởng khác.
Trên cơ sở các yếu tố khác, nếu mục tiêu của ngân hàng là sinh lời thì
ngân hàng sẽ tập trung nhiều hơn vào các khoản tín dụng có tính sinh lời cao
nh cho vay tiêu dùng, cho vay trung và dài hạn... Nếu mục tiêu của ngân hàng là
an toàn thì ngân hàng sẽ tập trung vào các khoản tín dụng có tính an toàn cao
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nh tín dụng ngắn hạn, tín dụng có tài sản đảm bảo.... Mỗi ngân hàng đều muốn
kết hợp các mục tiêu an toàn, sinh lời, phát triển trong hoạt động kinh doanh
của mình, nhng mỗi ngân hàng sẽ coi trọng những mục tiêu khác nhau. Và cũng
tuỳ vào điều kiện thực tế mà mỗi ngân hàng phải điều chỉnh một hay nhiều chỉ
tiêu:
+ Điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo
+ Điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo đối tợng khách hàng
+ Điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo thời hạn
....
Để điều chỉnh cơ cấu tín dụng, ngân hàng phải có những chính sách, biện
pháp cụ thể để tăng hay giảm quy mô, tỷ trọng của các thành phần cấu thành
nên tín dụng. Việc điều chỉnh cơ cấu tín dụng lại phải phụ thuộc nhiều vào nhu
cầu tín dụng của khách hàng, do đó muốn điều chỉnh cơ cấu tín dụng của ngân
hàng thơng mại, những chính sách, biện pháp đó của ngân hàng phải tác động
vào nhu cầu khách hàng, phải có tác dụng thúc đẩy hay hạn chế một hay nhiều
loại nhu cầu tín dụng cần điều chỉnh.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng II. Thực trạng cơ cấu tín dụng tại Chi nhánh Ngân
hàng Công Thơng Chơng Dơng
1. Khái quát chung về Chi nhánh Ngân hàng Công Thơng Chơng Dơng

hàng công thơng Chơng Dơng là đơn vị hạch toán phụ thuộc. Theo điều 30 của
Điều lệ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng Công Thơng Việt Nam (phê
chuẩn theo Quyết định số 327/QĐ-NH5 ngày 4-10-1997 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nớc) thì chi nhánh ngân hàng Công Thơng Chơng Dơng là đại diện uỷ
quyền của ngân hàng Công Thơng, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp
của ngân hàng Công Thơng, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với
Ngân hàng Công Thơng. Ngân hàng Công Thơng chịu trách nhiệm cuối cùng về
các nghĩa vụ phát sinh do sự cam kết của các đơn vị này. Chi nhánh đợc ký kết
các hợp đồng kinh tế, đợc chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, tổ
chức và nhân sự theo sự phân cấp uỷ quyền của Ngân hàng Công Thơng.
Hơn mời năm xây dựng và trởng thành, Chi nhánh Ngân hàng Công Th-
ơng Chơng Dơng đã gặp không ít khó khăn, thậm chí va vấp trong buổi đầu của
quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Nhng đến nay, Chi nhánh đã đạt đợc những
kết quả đáng kể trong hoạt động kinh doanh của mình và liên tục trong ba năm
2000, 2001, 2002 là lá cờ đầu trong hệ thống Ngân hàng Công Thơng Việt
Nam.
1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Công Thơng Chơng Dơng
1.2.1. Tổ chức bộ máy
Với quy mô lao động gồm hơn 200 cán bộ, nhân viên, Chi nhánh có một
lực lợng lao động trẻ, trình độ học vấn khá cao. Đặc điểm của đội ngũ nhân viên
trong ngân hàng là cán bộ, nhân viên nữ chiếm tỷ lệ lớn, hơn 70% trong tổng số
lao động.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHCT Chơng Dơng:
25

Trích đoạn Phơng hớng điều chỉnh Nâng cao chất lợng thẩm định dự án đầu t, tăng cờng công tác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status