Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc đen ương nuôi trong bể composite - Pdf 15

Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc đen ương
nuôi trong bể composite
Cá lóc đen (Channa Striata) là đối tượng có giá trị kinh tế được nuôi nhiều ở Việt
Nam và Đông Nam Châu Á. Cá có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu đựng
điều kiện khắc nghiệt của môi trường (nước tù, đục, nóng ) và có thể sống trong
nước nhiệt độ cao đến 39-40oC [4]. Thêm vào đó cá lóc có chất lượng thịt thơm
ngon nên rất có giá trị kinh tế và ngày càng được người nuôi thủy sản ưa chuộng.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá lóc đen (Channa Striata) là đối tượng có giá trị kinh tế được nuôi nhiều ở
Việt Nam và Đông Nam Châu Á. Cá có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu
đựng điều kiện khắc nghiệt của môi trường (nước tù, đục, nóng ) và có thể sống
trong nước nhiệt độ cao đến 39-40
o
C [4]. Thêm vào đó cá lóc có chất lượng thịt
thơm ngon nên rất có giá trị kinh tế và ngày càng được người nuôi thủy sản ưa
chuộng.
Trên thế giới, nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi khác
nhau. Phổ biến ở Thái Lan, Hồng Kông là mô hình nuôi bán thâm canh trong ao
đất với thời gian nuôi từ 6-7 tháng với các loại thức ăn như bột cá, tấm, cám. Mô
hình nuôi cá bè với mật độ 20-40 con/m
3
, sử dụng các loại thức ăn như cá tạp,
tấm phổ biến ở Việt Nam, Campuchia. Ở nước ta, nghề nuôi cá lóc nói chung và
cá lóc đen nói riêng ngày càng phát triển, tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long (An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ…); Đông Nam Bộ và một số
tỉnh khác [3]. Tuy nhiên, nguồn giống thả nuôi hiện nay chủ yếu dựa vào tự nhiên.
Nhược điểm của nguồn giống này là kích thước không đồng đều, thường bị xây
xát trong quá trình đánh bắt, vận chuyển nên dễ mắc bệnh. Hiện nay, nguồn giống
cá lóc đen ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức nên không đáp ứng cả về số
lượng lẫn chất lượng cho người nuôi trong khi nhu cầu con giống ngày càng cao.
Con giống sản xuất nhân tạo có thể khắc phục được những nhược điểm trên. Việc

Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH được theo
dõi thường xuyên. Nhiệt độ trung bình ở các công thức tương đối ổn định, sự
chênh lệch không đáng kể, dao động từ 29,70-29,74
o
C, nhiệt độ biến thiên trong
khoảng 25-33
o
C và không có sự sai khác nhiều giữa các lô thí nghiệm, chủ yếu do
các bể thí nghiệm được đặt trong nhà nên luôn duy trì được sự ổn định. Như vậy,
nhiệt độ nước bể nuôi của thí nghiệm phù hợp với sinh trưởng phát triển của cá lóc
đen.
Giá trị pH trong các bể thí nghiệm biến động nhỏ theo thời gian trong ngày và
tương đối đều trong suốt thời gian thí nghiệm. Mặt khác, do thí nghiệm thực hiện
trong nhà nên giá trị pH cũng không quá cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pH
trong suốt quá trình thí nghiệm đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển
của cá lóc đen (7,3-7,9) và không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng cũng như tỷ lệ
sống của cá.
2. Tăng trưởng của cá lóc đen giai đoạn từ cá hương lên cá giống
2.1. Tăng trưởng về kích thước
Cá lóc đen khi bố trí thí nghiệm có chiều dài trung bình 6,04 cm/con. Sau 60
ngày, giá trị này đạt cao nhất ở nghiệm thức MĐ 1 (11,07cm) sau đó đến nghiệm
thức MĐ 2 (10,58cm) và thấp nhất là nghiệm thức MĐ 3 (10,40cm).
Tốc độ tăng trưởng (TĐTT) bình quân ngày và TĐTT đặc trưng về chiều dài
của cá khi thí nghiệm kết thúc đều cao nhất ở MĐ 1 (ADG đạt 0,084 cm/ngày;
SGR đạt 1,009 %/ngày); tiếp theo là MĐ 2 (ADG đạt 0,076 cm/ngày; SGR đạt
0,934 %/ngày); thấp nhất là MĐ 3 (ADG đạt 0,073 cm/ngày; SGR đạt
0,905 %/ngày).
Kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều dài trung bình, TĐTT bình quân
ngày và TĐTT đặc trưng của cá lóc đen sau 60 ngày ương có sự khác biệt giữa các
nghiệm thức khi ương ở các mật độ khác nhau (P < 0,05). Như vậy, mật độ ương

đoạn này, các mật độ đạt SGR cao nhất trong cả quá trình thực hiện thí nghiệm, cụ
thể MĐ 1 là 1,32 %/ngày; MĐ 2 là 1,67 %/ngày và MĐ 3 đạt 1,69 %/ngày.
Cũng tương tự như TĐTT bình quân ngày, ở giai đoạn 40-50 ngày ương, TĐTT
đặc trưng của cả 3 mật độ thí nghiệm thấp nhất, MĐ 1 chỉ đạt 0,33 %/ngày và MĐ
2, MĐ 3 là 0,42 %/ngày.
2.2. Tăng trưởng về khối lượng
Giai đoạn này nhìn chung cá ở các nghiệm thức đều tăng trưởng tương đối
tốt, từ cỡ thả trung bình 1,86 g/con, sau 60 ngày nuôi cá có tăng trung bình
dao động từ 10,33-11,03 g/con, TĐTT bình quân ngày (ADG) từ 0,14-0,14
g/con/ngày và TĐTT đặc trưng (SGR) từ 2,86-2,98 %/ngày. Khối lượng trung
bình của cá lóc đen khi ương nuôi ở các mật độ khác nhau có TĐTT khác
nhau, khối lượng trung bình của cá khi ương ở MĐ 1 (11,03 g/con) cao hơn
khối lượng cá ương ở MĐ 2 (10,51g/con), MĐ 3 (10,33 g/con) và có sự sai
khác có ý nghĩa (P < 0,05).
Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm, TĐTT bình quân theo ngày cao nhất ghi
nhận ở nghiệm thức MĐ1 (0,15 g/ngày) và có sự sai khác có ý nghĩa (P < 0,05)
với hai nghiệm thức MĐ 2 (0,14 g/ngày) và MĐ 3 (0,14 g/ngày).
Kết quả phân tích thống kê về TĐTT đặc trưng của cá lóc đen qua 60 ngày
nuôi cho thấy có sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Cá lóc đen ở nghiệm thức
MĐ 1 (2,97 %/ngày) có tốc độ tăng trưởng cao hơn nghiệm thức MĐ 2
(2,89 %/ngày) và MĐ 3 (2,86 %/ngày) (P<0,05).
a. TĐTT bình quân ngày về khối lượng của cá lóc đen
Kết quả theo dõi TĐTT bình quân ngày của cá cho thấy, TĐTT bình quân
ngày về khối lượng của cá ở các mật độ khác nhau thì có sự khác nhau. Tuy
nhiên, khi tiến hành phân tích ANOVA một nhân tố thì chỉ có giai đoạn 20-30
ngày ương sự sai khác mới có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), các giai đoạn còn lại
sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Chỉ trừ giai đoạn 30-40 ngày
ương, các giai đoạn còn lại có TĐTT bình quân ngày khá đều nhau kể cả trong
cùng một mật độ cũng như giữa các mật độ với nhau và tương đối ổn định trong
suốt quá trình ương. Kết thúc thí nghiệm, cá đạt TĐTT bình quân ngày cao nhất

trưng là MĐ1 (1,009% và 2,967%), MĐ 2 (0,934% và 2,886%) và MĐ 3 (0,905% và
2,857%). Khối lượng cá trung bình khi kết thúc thí nghiệm là MĐ 1 (11,07cm/con và
11,03g/con), MĐ 2 (10,57 cm/con và 10,51 g/con), MĐ 1 (10,54 cm/con và 10,33
g/con). Tỷ lệ sống cao nhất ở MĐ 1 (86,89%), tiếp theo là MĐ 2 (79,83%) và thấp
nhất là MĐ 3 (79,33%) (P < 0,05)./.

Tài liệu tham khảo
1. Dương Nhựt Long, Kỹ thuật nuôi cá lóc đen (Channa striata Bloch,1793),
Bộ môn kỹ thuật nuôi cá nước ngọt - Khoa thủy sản - trường Đại học Cần Thơ.
2. Bùi Minh Tâm, Nguyễn Thanh Phương và Dương Nhựt Long, (2008), Ảnh
hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bông (Channa
micropeltes), Tạp chí khoa học 2008(2), 11-19, trường Đại học Cần Thơ.
3. Trung tâm khuyến ngư quốc gia, (2005), Kỹ thuật nuôi cá lóc bông, Nxb
Nông nghiệp.
4. Ali, A.B. (1999), Aspects of the reproductive biology of female snakehead
(Channa striata Bloch) obtained from irrigated rice agroecosystem, Malaysia.
Hydrobiologia 411:71-77.
5. Davidson, A. (1975) Fish and fish dishes of Laos. Imprimerie Nationale
Vientiane. 202 p.
6. Lee P.G, Ng P.K.L. (1994). The systemayics and ecology of snakeheads
(Pisces: Channidae) in peninsular Malaysia and Singapore. Hydrologia 285: 59-
74.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status