Giữ vững bản chất nhà nước
trong bối cảnh kinh tế thị trường
và toàn cầu hóa
Cái làm cho sự vật, hiện tượng tồn tại như chính nó được xác định là bản chất. Bản
chất của sự vật
1. Quan niệm về bản chất nhà nước
Cái làm cho sự vật, hiện tượng tồn tại như chính nó được xác định là bản chất.
Bản chất của sự vật, hiện tượng là cái tuyệt đối trong khi nhận thức của con người
ta chỉ là tương đối. Bản chất của sự vật, hiện tượng được phản ánh tương ứng với
những thang bậc nhận thức của con người được triết học xác định là “bản chất cấp
một”, “bản chất cấp hai” Do không nắm được những nguyên lý cơ bản của lý
luận nhận thức ấy mà có giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật đã nêu
đến “ba” bản chất của nhà nước kiểu mới, gồm bản chất giai cấp công nhân, bản
chất dân chủ và bản chất là tổ chức có chức năng chủ yếu là sáng tạo, xây dựng xã
hội mới.
Bản chất của nhà nước còn là vấn đề chính trị, nó được giải thích dưới sự chi phối
của những lợi ích chính trị khác nhau. Đã một thời các luật gia, những nhà chính
luận tư sản ra sức đề cao những giá trị xã hội của nhà nước tư sản, che mờ tính
chất giai cấp của nhà nước, trong khi lý luận về nhà nước xã hội chủ nghĩa lại
tuyệt đối hoá tính chất giai cấp của nhà nước, rất ít coi trọng nghiên cứu và phát
huy những chức năng xã hội của nhà nước.
Nhà nước cũng như xã hội là những hiện tượng hết sức phức tạp, trước hết là phức
tạp về bản chất. Nếu “xã hội là tổng hoà của những quan hệ giữa con người với
con người” thì nhà nước, bản chất của nhà nước là tổng hoà của những thuộc tính
được hình thành trong quá trình tồn tại, phát triển của nó, và được biểu hiện ra
trong toàn bộ các quan hệ của nó với xã hội, với giai cấp, dân tộc, với các quốc gia
khác trong các quan hệ chính trị quốc tế. Tính chất và nội dung của những quan hệ
ấy cũng là yếu tố quy định bản chất của nhà nước. Có những thuộc tính có tính
phổ biến ở tất cả các nhà nước, như thuộc tính về chủ quyền, về quyền lực Song,
có những thuộc tính, những mối quan hệ mà tính chất và nội dung của nó quy định
và tính xã hội đối lập nhau; tính giai cấp càng sâu sắc thì tính xã hội càng bị thu
hẹp, nhà nước của thiểu số bóc lột ngày càng đối lập gay gắt với xã hội, với đa số
nhân dân. Ngược lại, trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, tính giai cấp công nhân
càng sâu sắc thì tính xã hội ngày càng rộng rãi, nhà nước do Đảng, đội tiên phong
của giai cấp công nhân lãnh đạo song là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân.
Tính dân tộc cũng là một thuộc tính của nhà nước, bởi giai cấp thống trị nhà nước
cũng là giai cấp đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các dân tộc khác, thông
qua nhà nước để bảo vệ lợi ích của dân tộc mà nó đại diện. Song, tính dân tộc của
nhà nước kiểu cũ luôn đối lập với tính quốc tế. Nhà nước kiểu cũ trong khi đề cao
lợi ích của dân tộc mà nó đại diện thì lại coi thường, chà đạp lợi ích của dân tộc
khác, trở thành nhà nước sô vanh, nhà nước bành trướng. Ngược lại, nhà nước
kiểu mới trong khi coi trọng, bảo vệ lợi ích của dân tộc mình thì luôn ủng hộ
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện đường lối đối ngoại tích cực
trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa các
dân tộc.
2. Vấn đề giữ vững bản chất của nhà nước ta hiện nay
Từ nhận thức về bản chất của nhà nước như phân tích trên cho thấy, để giữ vững
bản chất kiểu mới của Nhà nước ta trong bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu
hoá đòi hỏi phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa giai cấp
và dân tộc, giữa dân tộc và quốc tế, đồng thời cần dự báo chính xác những yếu tố
mới xuất hiện trong xã hội, trong sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
cũng như những yếu tố của thời đại có thể tác động tiêu cực, làm tha hoá bản chất
tốt đẹp của Nhà nước. Từ đây cần thiết phải xử lý các vấn đề sau:
2.1. Về cơ sở kinh tế của nhà nước
Các nhà nước kiểu cũ, nhà nước bóc lột đều tồn tại trên cơ sở kinh tế là chế độ sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong khi nhà nước kiểu mới xã hội chủ nghĩa tồn
tại trên cơ sở kinh tế là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất dưới
hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Trong thời kỳ quá độ, kinh tế thị
trường, với nhiều chế độ sở hữu, sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế diễn ra
công nhân, người lao động cũng bị vi phạm nghiêm trọng về các quyền và lợi ích
hợp pháp, trong khi họ lại hạn chế về năng lực tự bảo vệ; những cơ chế xã hội bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp ấy lại hoạt động kém hiệu quả. Xây dựng giai
cấp công nhân, củng cố khối liên minh công nông và đội ngũ trí thức, sửa đổi Luật
Công đoàn để bảo đảm cho các cấp công đoàn thực sự là tổ chức chính trị - xã hội
của người lao động là giải pháp quan trọng cho việc vượt qua nguy cơ và thách
thức trên.
Bảo đảm tính giai cấp công nhân của nhà nước còn phải bảo đảm sự đúng đắn của
đường lối của Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước giai cấp, dân tộc về tính
đúng đắn đó. Đây là điều đòi hỏi Đảng phải bảo đảm dân chủ thực sự, thực hiện tự
do tư tưởng, có cơ chế phản biện sắc bén để kịp thời phát hiện ra sai lầm trong
đường lối, tránh tình trạng sự phán xét chỉ thuộc về lịch sử. Đồng thời có sự
nghiên cứu, phân định rõ ràng giữa quyền quyết định chính trị của Đảng với tư
cách là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội với quyền quyết định lập hiến, lập pháp
của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và quyền tối thượng của nhân dân. Đây
cũng là điều căn bản để khai thông những ách tắc trong những soạn thảo, ban hành
Luật Trưng cầu ý dân, một chủ trương lập pháp quan trọng của Đảng hiện nay.
Trong điều kiện của Nhà nước pháp quyền, giữ gìn tính giai cấp công nhân của
nhà nước còn đòi hỏi phải đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, tăng
cường tính pháp quyền của hệ thống thể chế đảng, làm cho sự lãnh đạo của Đảng
mang đậm tính pháp quyền, tổ chức và hoạt động không chỉ theo những nguyên
tắc truyền thống mà còn theo những nguyên tắc pháp quyền. Từ đây cần cụ thể
hoá quy định của Hiến pháp về sự lãnh đạo của Đảng, về hoạt động của các tổ
chức đảng bằng một hệ thống thể chế pháp lý đầy đủ, chặt chẽ.
Suy cho cùng, Đảng lãnh đạo là để nhà nước thực sự là sở hữu của nhân dân, thực
sự là người phục vụ nhân dân, luôn đem lại sự hài lòng của mọi tầng lớp nhân dân
về chất lượng phục vụ, đem lại cuộc sống sung túc cho mọi người dân. Thực tế lại
chưa phải như vậy. Một bộ phận nhân dân đời sống còn khốn khó, nhiều cán bộ,
Đảng viên, kể cả những bậc lão thành, và nhất là không ít trí thức mất lòng tin vào
Đảng, vào Nhà nước, thờ ơ, quay lưng lại chính trị, hoài nghi bản chất tốt đẹp của
lực cần thiết, tích cực cho việc bảo đảm dân chủ nhà nước, mà với áp lực ấy đủ để
làm cho công chức nhà nước trở thành công bộc thực sự của dân, là người làm
thuê cho dân, dân không tin, không dùng thì phải từ chức; làm cho các quyết định
của nhà nước phải đi từ xã hội, quay lại phục vụ xã hội, phát triển xã hội; hình
thành một cơ chế xã hội, với những mô hình và hình thức đa dạng để nhân dân
tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định và thực hiện các quyết định của nhà
nước.
Từ những nội dung của thuộc tính dân chủ nêu trên cho thấy thách thức lớn đối
với việc giữ vững bản chất của nhà nước ta hiện nay là:
- Nhà nước dường như có xu hướng hình thành những lợi ích riêng, nhiều quyết
định chỉ vì lợi ích quản lý của nhà nước, không thuận lòng dân, coi trọng và ỷ vào
quyền lực cưỡng chế hơn là tính hợp lý và hiệu quả.
- Những thể chế pháp lý về dân chủ chưa hoàn bị, thiếu tính khả thi, các phương
thức và hình thức thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân còn mang nặng hình
thức;
- Về mặt xã hội, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, sự chênh lệch về thu
nhập và mức sống, về hưởng thụ văn hoá, dịch vụ công cộng giữa các giai tầng xã
hội có chiều hướng tăng lên; nguy cơ phân cực xã hội tăng nhưng vai trò điều tiết
của nhà nước lại rất hạn chế. Trong khi đó, dưới tác động tiêu cực, hết sức mạnh
mẽ của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã làm cho nhiều giá trị truyền thống
của dân tộc bị biến dạng, thang giá trị bị đảo lộn, với sự méo mó về nếp nghĩ, lối
sống của không ít lớp trẻ. Tất cả những điều đó đã không tạo ra được môi trường
lành mạnh cho việc thực thi dân chủ, thậm chí tiềm ẩn môi trường phản dân chủ.
Như thế, giữ gìn và làm phong phú nội dung dân chủ của thuộc tính dân chủ trong
bản chất của nhà nước đòi hỏi phải có những quyết sách chiến lược nhằm ngăn
chặn, triệt tiêu những khuynh hướng, khắc phục những hậu quả nêu trên; xây dựng
một xã hội lao động lành mạnh, có đạo lý, tình người, có những công dân khoẻ
khoắn về tinh thần và thể chất; những giá trị truyền thống và bản sắc văn hoá của
dân tộc được gìn giữ, công bằng xã hội được bảo đảm.
(1) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành trung ương khoá VIII,