TỔNG KẾT LẠI QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ THÍCH NGHI CỦA CÁC LOÀI
THÔNG CARIBAEA Ở VIỆT NAM
Mark J. Dieters
1
, Hà Huy Thịnh
2
,
Phan Thanh Hương
2
, and Huỳnh Đức Nhân
3Tháng 10 2006
Báo cáo là một phần của Dự án CARD 033/05VIE: Khảo nghiệm, đánh giá và áp dụng
công nghệ nhân giống tiên tiến cho việc phát triển rừng trồng thông caribeae và thông lai
có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam.(Đầu ra 1.1 của Dự án)
Tóm tắt
Thông caribaea (Pinus caribaea) được trồng ở Việt Nam từ năm 1963. Từ đó đến nay, loài
thông này đã được đánh giá trên hầu hết các khu vực có tiềm năng trồng Thông ở Việt
Nam. Như một phần của Dự án CARD 033/05 VIE, nhiều trong số các khảo nghiệm có sự
tham gia của thông caribaes đã được kiểm tra và các khảo nghiệm quan trọng đã được đo
lại vào đầu năm 2006. Báo cáo này tóm lược lại khả năng sinh trưởng của P. caribaea tại
các khảo nghiệm được xây dựng từ năm 1976 của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
Phù Ninh và Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Hà Nội.
2
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà
Nội.
3
Viện nghiên cứu cây nghiên liệu giấy Phù Ninh, Phú Thọ, Việt Nam.
1
Bối cảnh
Pinus caribaea Morelet, đặc biệt là P. caribaea Morlet var. hondurensis (Sénéclauze)
W.H. Barrett & Golfari (PCH) đã chứng tỏ khả năng sinh trưởng nhanh và thích nghi tốt với
vùng sinh thái rộng nhiệt đới và bán nhiệt đới (Gibson 1982, Birks và Barnes 1990, Dvorak
và cs. 2000). Hai biến chủng khác của P. caribaea (như var. bahamensis (PCB) và var.
caribaea (PCC)) cũng chứng tỏ được tiềm năng trên các rừng trồng thương mại ở một số
vùng trên thế giới và hầu hết các giống này đều thể hiện khả năng chống chịu với một số
loài sâu bệnh hại (Baylis and Barnes 1989, Khả và cs. 1989) và khả năng chịu được sự tàn
phá của gió tốt hơn các giống (PCH) vùng Trung Mỹ (Birks & Barnes 1990, Dieters &
Nikles 2001). Hơn nữa, PCB đã chứng tỏ được khả năng chống chịu với điều kiện nhiệt độ
thấp tốt hơn hoặc PCC hoặc PCH (Nikles 1966 p. 103, Duncan và cs. 1996), điều này là khá
ngạc nhiên khi mà phân bố tự nhiên của nó ở độ cao thấp dọc vùng Bahama và quần đảo
Caicos. PCH đã được trồng thành rừng nhiều nhất với diện tích lớn ở Venezuela và
Queensland Australia, trong khi đó một diện tích đáng kể PCC đã được trồng ở các vùng
miền Nam Trung Quốc (Dieters & Nikles 1997).
P. caribaea được trồng đầu tiên tại Đà Lạt vào năm 1963 (Khả 2003, trang 181) theo cách
để thăm dò tiềm năng của loài này dưới dạng rừng trồng thương mại nhằm luân phiên với
các loài cây lá kim bản địa như Thông nhựa (P. merkusii) và Thông ba lá (P. kesiya). Các
khu trồng ban đầu đã chứng tỏ được tiềm năng của P. caribaea ở Việt Nam dẫn tới việc
xây dựng một mạng lưới các khảo nghiệm từ năm 1976 đến đầu những năm 1980 để có
được sự đánh giá chi tiết hơn về sinh trưởng và tìm kiếm nguồn biến dị xuất xứ. Trong các
4
Các khảo nghiệm được trồng tại 4 điểm của vùng miền Bắc Việt Nam vào năm 1976.
5
Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV) ở Hà Nội, và các đơn vị hợp tác ở các tỉnh khác của Việt Nam
2
Bảng 1: Vùng và chi tiết địa lý của các khảo nghiệm P. caribaea được trồng ở Việt Nam
Địa điểm trồng Tỉnh Vĩ độ Kinh độ Độ cao
(m)
Lượng mưa
(mm)
Vùng
Thái Long Tuyên Quang 21° 45'N 105° 14'E 60-90 1600 Bắc bộ
Yên Kiện Phú Thọ 21° 35'N 105° 12'E 60-80 1600 Bắc bộ
Sơn Nam Tuyên Quang 21° 33'N 105° 27'E 60-120 1600 Bắc bộ
Đền Hùng Phú Thọ 21° 22'N 105° 20'E 50 1600 Bắc bộ
Đải Lại Vĩnh Phúc 21° 10'N 105° 17'E 50 1500 Bắc bộ
Ba Vì Hà Tây 21° 07'N 105° 26'E 50 1680 Bắc bộ
Đông Hà Quảng Trị 16° 50'N 107° 05'E 50 2370 Trung bộ
Pleiku Gia Lai 13° 59'N 108° 00'E 800 2270 Tây Nguyên
Đà Lạt Lâm Đồng 11° 57'N 108° 26'E 1500 1730 Tây Nguyên
Lang Hanh Lâm Đồng 11° 57'N 108° 26'E 960 1730 Tây Nguyên
Song Mây Đồng Nai 11° 15'N 107° 06'E 40-60 1640 Đông Nam bộ
(gần TP.HCM)
Chú ý: Độ cao so với mặt biển là con số xấp xỉ.
=
2
2
π
,
Trong đó, đường kính ngang ngực (dbh) và chiều cao vút ngọn (ht) đều được quy đổi ra
dm, và hệ số hình dạng (f) được giả định bằng 0.5. Dựa trên kinh nghiệm ở Queensland,
việc sử dụng công thức tính thể tích này sẽ vượt quá giá trị thể tích thực. Do đó, số liệu thể
tích hiện tại nên được xử lý cẩn thận. Tuy nhiên, vì tất cả số liệu từ trước đã sử dụng hệ số
hình dạng 0.5 này nên số liệu mới vẫn phải tiếp tục để có thể so sánh giữa các khảo
nghiệm. Thể tích cây cá thể được cộng giá trị trong mỗi ô, và được chia cho diện tích ô và
tuổi để đánh giá lượng tăng trưởng trung bình hàng năm được thể hiện bằng m
3
/ ha/ năm.
Các khảo nghiệm cũ (ví dụ như khảo nghiệm được trồng trước năm 1985) bao gồm cả các
loài thông khác như P. kesiya, P. merkusii và P. massoniana để so sánh (Bảng 2). Tại thời
điểm đó các loài này đã được sử dụng trên hầu hết các khu rừng trồng ở Việt Nam - P.
massoniana ở miền Bắc Việt Nam, và P. kesiya và P. merkusii ở miền Trung và miền Nam
Việt Nam. Kết quả so sánh giữa các khảo nghiệm loài này đã được báo cáo bởi một số tác
giả (Ståhl 1988, Điện 1989 and Khả 2003, trang 182) và kết luận chung là P. caribaea sinh
trưởng nhanh hơn các loài thông khác trên một loạt các khảo nghiệm ở Việt Nam. Chẳng
hạn như, Điện (1989, p.64) kết luận rằng “Pinus caribaea sinh trưởng nhanh hơn các loài
thông khác ở tất cả các điểm khảo nghiệm”. Tuy nhiên, số liệu về sinh trưởng của các loài
thông khác trên các khảo nghiệm ban đầu năm 1976) được trồng bởi FRC chưa được bao
gồm ở đây – chi tiết đầy đủ về sinh trưởng của tất cả các loài trong các khảo nghiệm này
đã được giới thiệu trong báo cáo đầy đủ của Ståhl’s (1988). Báo cáo này sẽ tập chung vào
đánh giá tình hình sinh trưởng liên quan tới 3 loài thông caribaea và biến dị xuất xứ trong
các loài này.
4 Bắc bộ Yên Kiện - Phú Thọ KN loài và xuất xứ PCH, PMERK, POOC,
PKES
1976 6 49 5 3×3 1984 8
5 Trung bộ Đông Hà – Quảng Trị KN loài và xuất xứ PMERK, PCC, PEE 1980 5 4 T5/ 2000 19.3
6 Bắc bộ Đại Lải - Vĩnh Phúc KN loài và xuất xứ PCH, PCC, PMASS,
PMERK, POOC, PEE
1981 12 49 4 3×2 T3/2000 19.1
7 Bắc bộ
Đại Lải - Vĩnh Phúc KN loài và xuất xứ PCH, PCC, POOC, PEE 1982 9 36 4 3×2 T1/2000 17.8
8 Trung bộ Đông Hà – Quảng Tri KN loài P
CH, PMERK 1984 2 1 T3/2000 15.7
9 Đông Nam bộ Song Mây – Đồng Nai KN xuất xứ P
CH 1987 7 49 7 3×2 T4/2006 18.8
10 Bắc bộ Đại Lải - Vĩnh Phúc KN xuất xứ
PCH 1987 7 36 5 3×2 T1/2000 12.4
11 Trung bộ Đông Hà – Quảng Trị KN xuất xứ
PCH 1988 6 3 T3/2000 11.4
12 Tây Nguyên Pleiku - Gia Lai KN xuất xứ
PCH, PCB, PCC 1990 11 49 4 3×2 T5/2006 16
13 Bắc bộ Xuân Khanh - Hà Tây KN xuất xứ
PCH, PCB, PCC 1990 10 49 3 3×2 T3/2000 9.5
14 Tây Nguyên Lang Hanh - Lâm Đồng KN xuất xứ
PCH, PCC 1991 7 25 4 3×2 T3/2000 8.7
15 Bắc bộ
Cẩm Quỳ - Hà Tây KN so sánh nhóm loài PCB, PCC, PCH, PEE,
PEE × PCH F
2
1996 5 36 4 3×3 T9/2006 10.4
16 Bắc bộ
Cẩm Quỳ - Hà Tây KN lâm sinh PCB, PCH × fertilizer 2000 3 15 4 3×3 T4/2006 5.8
của PCB và PCC, Bảng 3; tuy nhiên, xuất xứ thứ 5 của PCH (Alimicamba) có ở 1 điểm
nhưng không có số liệu cho xuất xứ này). Khảo nghiệm được trồng ở Thái Long đã bị hư
hại nhiều do cháy rừng vào năm 1977 khi khảo nghiệm này mới chỉ gần 2 năm tuổi, dẫn
đến chết khá nhiều, do đó không có kết quả cho khảo nghiệm này. Số liệu được trình bày
cho 3 khảo nghiệm còn lại ở giai đoạn 8 tuổi (Bảng 4) và Sơn Nam ở giai đoạn 25 tuổi
(Bảng 5)
Bảng 3: Xuất xứ của P. caribaea được trồng bởi FRC.
Mã Xuất xứ Kinh độ Vĩ độ Độ cao (m)
202 Poptún, Penten, Guatemala
(var. hondurensis)
16°22' N
89°25' W 500
203 Guanaja Island, Honduras (var.
hondurensis)
16°27' N 85°54' W 75
204 Andros Island, Bahamas
(var. bahamensis)
24°30' N 78°20' W 3
205 Cajalbana, Cuba
(var. caribaea)
20°30' N 81°31' W 150
206 Mountain Pine Ridge, Belize
(var. hondurensis)
17°00' N 88°55' W 400
207 Poptún, Penten, Guatemala
(var. hondurensis)
16°15' N 89°30' W 250
Kết quả chỉ ra rằng khi một loài như P. caribaea có khả năng sinh trưởng khá ở vùng miền
Thể tích
(dm
3
/tree)
202 6.1 66 8.6 207 8.9 201
203 5.4 56 8.2 188 9.1 164
204 6.9 65 9.4 184 9.6 213
205 6.5 65 6.4 112 9.0 173
206 5.9 56 8.7 216 9.2 200
207 6.1 68 8.5 206 9.0 193
LSD — — 1.16 47.6 0.75 41.7
Chú ý: Mã 204 = PCB, 205 = PCC, các mã khác là PCH.
Bảng 5: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình của P. caribaea ở giai đoạn 25 tuổi
trồng năm 2002 tại Sơn Nam (khảo nghiệm 2 trong Bảng 2).
Mã
Đường kính
(cm)
Chiều
cao (m)
Thể tích
(dm
3
/tree)
Tăng trưởng thể
tích (m
3
/ha)
Số cây sống/ha
(tree/ha)
7
đoạn 19 tuổi. Ở miền Trung Việt Nam, P. elliottii thể hiện khả năng thích nghi kém. Khảo
nghiệm không có lần lặp tại Đông Hà chỉ gồm giống (PCC) của Cuba sinh trưởng chậm và
cũng không có xuất xứ tốt nhất của P. merkusii. Khảo nghiệm thứ 2 tại Đông Hà (Bảng 7)
chỉ gồm PCH và P. merkusii, trong đó PCH có sinh trưởng chiều cao và thể tích lớn hơn
P. merkusii, nhưng đường kính lại nhỏ hơn ở giai đoạn 15 năm tuổi. Một chiều hướng
tương tự cũng quan sát thấy ở khảo nghiệm không có lần lặp giai đoạn sớm hơn (Bảng 6)
nơi mà PCC có sinh trưởng chiều cao tốt hơn xuất xứ tốt nhất của P. merkusii nhưng đường
kính lại nhỏ hơn.
Bảng 6: Sinh trưởng trung bình giai đoạn 19 tuổi của khảo nghiệm loài/ xuất xứ
trồng tại Đông Hà năm 1980 (khảo nghiệm 5 trong Bảng 2).
Loài Xuất xứ/ nguồn gốc
Đường kính
(cm)
Chiều cao
(m)
Thể tích
(dm
3
/tree)
P. merkusii Huế 20.8 9.9 167.4
P. merkusii Bố Trạch, Quảng Bình 20.3 9.3 149.6
P. merkusii Bắc Thái 19.9 8.9 138.0
P. caribaea var. caribaea Cuba 17.7 11.4 139.6
P. merkusii Đà Lạt 14.5 6.8 64.5
P. merkusii Hà Trung - Thanh Hóa 15.1 9.3 83.2
P. elliotii USA 9.5 5.6 19.8
Chú ý: Khảo nghiệm này chỉ có một lặp cho mỗi loài/ xuất xứ
Thể tích
(dm
3
/tree)
P. caribaea var. hondurensis 19.1 14.1 201.7
P. merkusii 21.3 10.1 180.0
6
Có khả năng là P. tecunumanii – P. tecunumanii đã không được phânloại rõ ràng từ P. oocarpa cho đến
sau khi khảo nghiệm này được xây dựng.
8
Bảng 8: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 19 tuổi của khảo nghiệm
loài/xuất xứ trồng tại Đại Lải năm 1981 (Khảo nghiệm 6 trong Bảng 2).
Loài Nguồn gốc
Đường kính
(cm)
Chiều
cao (m)
Thể tích
(dm
3
/tree)
Tỷ lệ sống
(%)
P. caribaea var. hondurensis Honduras 26.5 18.2 516.5 29
P. massoniana Tam Đảo 25.6 16.4 436.5 20
P. oocarpa Mexico 25.5 16.6 431.5 24
P. massoniana China 23.9 16.2 368.5 21
P. massoniana
(%)
P. caribaea var. hondurensis Honduras 16545 23.2 17.1 392 15
P. caribaea var. hondurensis Poptun 23.7 15.4 385 22
P. oocarpa Guatemala 14781 23.7 15.4 354 22
P. caribaea var. hondurensis Krâ 22.2 15.8 325 19
P. oocarpa Mexico 22.1 15.2 313 17
P. caribaea var. caribaea Cuba 20.3 14.9 247 25
P. caribaea var. caribaea Krâ 157619 19.9 14.6 233 26
P. elliotii PAM 19.8 14 202 17
P. elliotii USA16519 18.9 13.6 227 16
Giá trị trung bình chung
21.6 15.1 20
Khảo nghiệm xuất xứ của P. caribaea được xây dựng giữa năm 1987 và 1991
Trong giai đoạn 5 năm từ 1987 đến 1991, RCFTI và các đơn vị công tác khác đã xây dựng
6 khảo nghiệm xuất xứ của P. caribaea: 2 ở miền Bắc, 1 ở miền Trung; 2 ở Tây Nguyên và
1 ở miền Nam, Việt Nam (khảo nghiệm 9 – 14, Bảng 2). Các khảo nghiệm này khác các
khảo nghiệm trước bởi không có sự có mặt của bất cứ loài thông địa phương nào và chỉ
gồm các nguồn hạt từ Queensland (Australia) và từ địa phương cũng như từ khu phân bố tự
nhiên.
Kết quả từ các khảo nghiệm này giai đoạn giữa 8,7 và 18,8 năm tuổi (Bảng 10 – 15, Biểu
đồ 2 và 3) chỉ ra rằng có khá ít biến dị giữa các xuất xứ của PCH. Tất nhiên chưa có mô
hình để đánh giá sinh trưởng được quan sát cho các xuất xứ ở các khảo nghiệm này –
nguồn hạt từ những nơi có độ cao thấp như Alamicamba và Guanaja không thể xem như để
kết luận một cách phù hợp là tốt hơn hay kém hơn so với nguồn hạt từ nơi có độ cao cao
hơn như Poptun hay Mountain Pine Ridge (MPR). Không có nguồn gốc xuất xứ nào được
9
coi là phản ánh sự thích nghi đối với các kiểu lập địa ở Việt Nam (đặc biệt là độ cao thấp
về hình dáng thân, cái mà đã có bằng chứng rõ ràng khi những khảo nghiệm này ở Pleiku
và Song May được đo lại vào đầu năm 2006. Tuy nhiên, rõ ràng rằng nguồn vật liệu được
chọn từ Queensland có thể và đã thể hiện khả năng sinh trưởng tốt khi được trồng ở hầu
hết các loại lập địa ở Việt Nam (từ Bắc, Trung, Tây Nguyên và Nam bộ).
Khả năng sinh trưởng chung của 3 giống thông caribaea đã quan sát ở các khảo nghiệm
này là hoàn toàn phù hợp với những kết quả đã được báo cáo cho các khảo nghiệm xuất xứ
quốc tế, nơi mà PCH luôn thể hiện khả năng sinh trưởng nhanh hơn nhiều trên dải lập địa
rộng so với hoặc PCB hoặc PCC, song lại có độ thẳng thân và khả năng chịu đựng với sự tàn
phá của gió nhìn chung lại kém hơn (Birks and Barnes 1990). Tuy nhiên, với lượng khá
nhỏ biến dị xuất xứ của P. caribaea var. hondurensis được tìm thấy trong loạt khảo nghiệm
này và các khảo nghiệm trước tương phản với những nghiên cứu trước đây (chẳng hạn như
của Birks and Barnes 1990, Dvorak et al. 1993, Dvorak et al. 2000, Hodge and Dvorak
2001), các sai khác lớn đã quan sát được giữa các xuất xứ của PCH. Các biến dị xuất xứ
hạn chế quan sát được ở các khảo nghiệm ở Việt Nam, có thể là kết quả của một thực tế là
các khảo nghiệm này nhìn chung chi có những xuất xứ sinh trưởng nhanh – ví dụ như
Birks and Barnes (1990) liệt kê 3 xuất xứ Guanaja, Alamicamba và Queensland như là 3
trong số 5 xuất xứ đứng đầu; báo cáo của Crockford và cs. (1990) Queensland và Guanaja,
Mountain Pine Ridge và Alamicamba như là 4 trong 5 xuất xứ đúng đầu; Dvorak và cs.
(2000, p. 28) liệt kê Limón, Queensland, Guanaja, Poptún và Alamicamba nằm trong số
những xuất xứ sinh trưởng nhanh nhất. Ngược lại các xuất xứ mà những báo cáo trước đây
10
coi như là tiềm năng sinh trưởng rất kém trên các khảo nghiệm quốc tế (Los Limones,
Dvorak và cs. 2000) đã không có mặt trong các khảo nghiệm xuất xứ ở Việt Nam
Table 10: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 12,4 tuổi của khảo nghiệm
xuất xứ P. caribaea trồng tại Đại Lải năm 1987 (Khảo nghiệm 10 trong Bảng 2).
Xuất xứ Địa điểm Đường kính
(cm)
(dm
3
/tree)
Tỷ lệ sống
(%)
PCB Abaco CH 14.1 10.6 93.3 29
Abaco NC 13.3 10.5 76.7 41
Andros 13.4 9.1 70.1 40
P
CC Cuba 12.7 9.7 64.2 19
PCH Limon, Honduras 14.5 8.8 79.5 11
Alamicamba, Honduras 12.4 8.8 57.9 49
Guanaja Is., Honduras 13.8 8.9 76.1 36
Poptun 2, Honduras 13.3 8.8 65.7 33
Cardwell (T473'O'), Queensland 13.7 8.8 71.4 29
Byfield (R482'CP'), Queensland 13.4 9.4 78.1 39
Giá trị trung bình chung
13.5 9.33 32 Table 12: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 12,5 tuổi của khảo nghiệm
xuất xứ P. caribaea trồng tại Đông Hà năm 1988 (Khảo nghiệm 11 trong Bảng 2).
Xuất xứ
Đường kính
(cm)
Chiều cao
(m)
Thể tích
(dm
3
-1
yr
-1
)
Tỷ lệ sống
(%)
PCB, Abaco PCB 21.8 19.5 386.1 25.8 50
PCB, Andros PCB 20.4 17.7 304.5 24.1 56
PCC, Cuba P
CC 23.5 18.7 435.3 25.7 42
Alamicamba, Nicaragua ALA 22.2 18.7 381.9 29.3 56
Limone, Honduras LIM 21.4 17.7 345.1 21.8 46
Poptun, Guatemala POP 20.8 18.9 333.4 25.8 56
Byfield R482, Australia BYF 22.2 19.5 403.2 25.0 48
Cardwell T473, Australia CWD 21.3 19.0 359.3 26.4 56
Guanaja, Honduras GUA 22.6 16.7 359.7 18.9 37
Giá trị trung bình chung
21.8 18.5 367.6 24.7 50
SE của trung bình 1.2 0.6 49.9 3.2 6
Chú ý: ALA, LIM, POP, BYF, CWD, và GUA là P. caribaea var. hondurensis. BYF và CWD là nguồn hạt
đã được cải thiện của Queensland, còn các nguồn khác có nguồn gốc từ khu phân bố tự nhiên của loài
ALA
BY
F
CWD
GU
A
12
Bảng 14: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 8,7 tuổi của khảo nghiệm
xuất xứ P. caribaea trồng tại Lang Hanh năm 1991 (Khảo nghiệm 14 trong Bảng 2).
Xuất xứ
Đường kính
(cm)
Chiều cao
(m)
Thể tích
(dm
3
/tree)
Tỷ lệ sống
(%)
Cuba (PCC) 16.4 11.9 147 71
Alamicamba, Nicaragua 15.7 10.9 118 66
Limone, Honduras 16.6 11.0 135 61
Poptun, Guatemala 16.6 12.1 144 81
Guanaja Is., Honduras 15.0 9.8 113 9
Byfield (R482), Australia 20.8 13.3 232 25
Cardwell (T473), Australia 19.8 13.1 209 74
Giá trị trung bình chung
17.4 11.7 55.3 Bảng 15: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 18,8 tuổi của khảo nghiệm
xuất xứ P. caribaea trồng tại Đồng Nai năm 1987 (Khảo nghiệm 9 trong Bảng 2).
Xuất xứ Mã
Đường kính
(cm)
ALA GUA MPR POP1POP2POP3 QLD
Volume
0
200
400
600
800
1000
Mean Volume (dm
3
/tree)
MAI (m
3
ha
-1
yr
-1
x 10)Biểu đồ 3: Sinh trưởng của xuất xứ P. caribaea tại giai đoạn 18,8 năm tuổi được trồng tại
Song Mây (Đồng Nai, Đông Nam bộ Việt Nam) Mã xuất xứ được đưa ra ở Bảng 15
13
Các khảo nghiệm P. caribaea được xây dựng ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay:
Hơn 10 năm qua số lượng các khảo nghiệm thông caribaea được RCFTI xây dựng, bao
gồm các khảo nghiệm so sánh loài/ nhóm loài, quản lý lâm sinh và khảo nghiệm hậu thế.
Tuy nhiên, đối với mục tiêu của bản tổng kết này, chúng tôi chỉ chọn ra những khảo
nghiệm có sự tham gia của P. caribaea var. hondurensis và hoặc ít nhất là một loài hoặc
nhóm loài khác. Khảo nghiệm được xây dựng trong giai đoạn này tập trung nhiều tới P.
O
5
/cây, so với450g P
2
O
5
/cây như PCH ở Đại Lải và 200g P
2
O
5
/cây + 200g NPK/cây cho
P
CH của Queensland. Như vậy là PCB có khả năng đạt được tỷ lệ sinh trưởng cao hơn PCH
ở miền Bắc Việt Nam với đầu vào phân bón ít hơn.
Bảng 16: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 10,3 tuổi trong khảo nghiệm so
sánh nhóm loài được trồng năm 1996 tại Cẩm Quỳ (Khảo nghiệm 15 trong Bảng 2)
Hạt có nguồn gốc từ Queensland. (Bảng 7.8 của Khả 2003).
Loài/ nhóm loài
Chiều cao
(m)
Đường kính
(cm)
Thể tích
(dm
3
/tree)
Tăng trưởng
thể tích
(m
cao (m)
Đường kính
(cm)
Thể tích
(dm
3
/tree)
Tăng trưởng
thể tích
(m
3
ha
-1
yr
-1
)
Tỷ lệ sống
(%)
1 4.7 6.9 12.5 2.1 83
2 6.5 10.1 27.5 4.5 85
3 6.2 9.7 24.6 3.9 82
4 5.8 9.0 19.5 3.1 80
5 6.0 8.8 21.1 3.9 97
6 6.3 9.4 24.8 4.6 97
7 6.3 9.4 23.6 4.2 92
P. caribaea var.
bahamensis (ex.
Queensland)
8 6.2 9.2 23.8 4.2 92
Giá trị trung bình chung
5.3 8.4 18.0 2.6 72
SE of LS Means 0.3 0.5 2.5 0.4 8
Chú ý: sự tươn tác có ý nghĩa giữa phân bón x loài (p < 0.05) cho đường kính, chiều cao và thể tích/cây
Công thức phân bón: đối chứng không, P
2
O
5
150g, P
2
O
5
300g, P
2
O
5
450g, P
2
O
5
200g + 0 NPK, P
2
O
5
200g
+50g NPK, P
2
O
5
200g +100g NPK, P
nghiệm P. caribaea bón phân trồng năm 2000 tại Cẩm Quỳ (trong Bảng 17).
Hai khảo nghiệm cuối cùng được xem xét là được trồng liền kề với một khảo nghiệm khác
ở Lang Hanh, Lâm Đồng. Khảo nghiệm đầu tiên so sánh PCH, PCC và giống lai F2 giữa P.
elliottii (PEE) và PCH. Khảo nghiệm thứ 2 so sánh khả năng sinh trưởng của PCC và PCH
dưới 3 chế độ phân bón khác nhau. Khi cùng đánh giá, hai khảo nghiệm này đều thể hiện
khả năng sinh trưởng vượt trội của PCH so với PCC trên các điểm khảo nghiệm ở Tây
Nguyên - ở giai đoạn 5 tuổi PCC thể hiện khả năng sinh trưởng rất kém so với PCH (Bảng
18 và 19). Còn P. elliottii lại chứng tỏ khả năng thích nghi kém với lập địa Tây nguyên
Việt Nam. Giống lai giữa P. elliottii và PCH cũng sinh trưởng chậm so với PCH trên những
lập địa có độ cao như ở miền Trung Việt Nam. Như vậy cũng chắc rằng P. elliottii và tổ
hợp lai với P. elliottii có khả năng thích nghi kém ở điều kiện độ cao thấp như ở miền
Trung Việt Nam
Chỉ có sự sai khác khá nhỏ về sinh trưởng của nguồn giống PCC và PCH của Việt Nam và
Queensland được đánh giá tại các khảo nghiệm ở Cẩm Quỳ (Bảng 17) và Lang Hanh
(Bảng 18 và 19). Chắc chắn mối quan tâm lớn nhất về kết quả của khảo nghiệm này không
chỉ là sự sai khác đã quan sát được giữa các vật liệu có nguồn gốc từ Việt Nam và
Queensland, mà là nguồn vật liệu đó được chọn từ 2 nước khác nhau đã sinh trưởng tương
đương nhau khi được khảo nghiệm ở các điều kiện môi trường khác nhau ở Việt Nam.
Áp dụng chế độ bón phân photphat cho khảo nghiệm tại Đà Lạt đã tăng rõ ràng tỷ lệ sinh
trưởng của cả PCC và PCH; chỉ với lượng phân bón NPK thêm vào sinh trưởng của PCC đã
bắt đầu gần bằng với PCH. Khi thêm phân bón thì lượng tăng trưởng gần như tăng gấp đôi
ở giai đoạn 5 tuổi; tuy nhiện việc bón thêm phân NPK cũng xuất hiện một tác động có hại
đối với tỷ lệ sống trên cả 2 giống và sinh trưởng của PCH (Bảng 19). Như vậy là những lợi
ích đáng kể đạt được từ việc sử dụng phân bón để tăng tỷ lệ sinh trưởng của P. caribaea,
như trước đã báo cáo cho một khảo nghiệm tương tự xây dựng ở miền Bắc Việt Nam
(Bảng 17)
Bảng 18: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 4,8 tuổi của
2
Hybrid
(ex. Queensland)
3.4 5.4 4.7 1.1 68
P. caribaea var. hondurensis
(ex. Queensland)
4.5 7.2 10.8 2.6 71
P. caribaea var. hondurensis
(ex. Vietnam, Dai Lai)
4.2 6.9 9.2 1.7 53
P. elliottii
2.6 4.1 2.2 0.4 36
Giá trị trung bình chung
3.5 4.6 5.8 1.3 58
SE of LS Means
0.2 0.3 0.6 0.2 8 16
Bảng 19: Sinh trưởng và tỷ lệ sống trung bình giai đoạn 4,8 tuổi của khảo nghiệm phân
bón P. caribaea trồng năm 2001 tại Đà Lạt (khảo nghiệm 18 trong Bảng 2)
Nhóm loài
C. thức
bón phân
Chiều
cao (m)
Đường
kính
(cm)
Thể tích
CH ex. northern Vietnam)
3 4.2 7.0 13.3 1.5 30
SE of LS Means
0.4 0.7 2.7 0.6 11
Giá trị trung bình chung
4.2 7.3 11.0 1.7 45
Chú ý: Tương tác giữa phân bón x giống là không có ý nghĩa.
Các công thức bón phân: 1 = đối chưng không bón; 2 = 300g phosphate/tree; 3 = 200g phosphate +100g
NPK mỗi cây.
Những phát hiện chính và những đề xuất cho tương lai
Tình hình sinh trưởng của loài/ nhóm loài
Các kết quả được giới thiệu từ các khảo nghiệm trước đây của Thông caribaea đã chỉ ra
tiềm năng sinh trưởng tuyệt vời của Thông caribaea cho rừng trồng thương mại Việt Nam.
Năng suất ước tính có thể còn thiếu chính xác do một số yếu tố (chẳng hạn như thiếu công
thức tính thể tích đáng tin cậy, khai thác trái phép và tỷ lệ sống thấp ở số khảo nghiệm);
tuy nhiên, rõ ràng rằng P. caribaea var. hondurensis (PCH) hay/ hoặc P. caribaea var.
bahamensis (PCB) đã tỏ ra ưu trội hơn các loài thông khác được chọn để khảo nghiệm ở các
tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong đó PCH vượt trội hơn hẳn so với các loài thông khác trên tất
cả các điểm khảo nghiệm nơi có độ cao so với mặt biển cao và thấp ở miềm Trung Việt
Nam và các điểm khảo nghiệm ở độ cao thấp ở miền Bắc Việt Nam. PCH còn thể hiện khả
năng thích nghi rộng, song đặc biệt là các điểm khảo nghiệm ở miền Trung và Nam Việt
Nam. P
CB Sinh trưởng tốt hơn so với PCH ở các tỉnh miền Bắc, còn P. caribaea var.
caribaea (P
CC) dựa trên kết quả khảo nghiệm hiện có chưa thể hiện bất kỳ lợi thế nào hơn
so với hoặc P
CH hay PCB cho việc trồng rừng ở Việt Nam.
Ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, PCB có thể sẽ vượt trội hơn so với PCH, bởi vì:
giá sâu hơn về tiềm năng của giống lai PEE × PCH so với PCH, PCB và PCH × PCB nên được
tiến hành để xác định rõ khả năng thích nghi của nó ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Cũng
không chắc rằng giống lai có mặt P. elliottii sẽ sinh trưởng tốt trên các điểm khảo nghiệm
ở hoặc là miền Trung hoặc là miền Nam Việt Nam nơi mà sinh trưởng của P. elliottii tại
các điểm khảo nghiệm ở các vùng này đã tỏ ra khá kém
Các hoạt động chọn tạo và cải thiện giống
Những nỗ lực chọn tạo giống trong tương lai nên tập trung vào PCH và PCB (và có thể là
giống lai giữa 2 loài này) cho các tỉnh miền Bắc Việt Nam, và PCH cho các tỉnh miền
Trung (bao gồm cả vùng Tây nguyên) và miền Nam Việt Nam. Sự phát triển và đánh giá
các tổ hợp lai khác chắc chắn là khó khăn và nằm ngoài khả năng của nguồn lực địa
phương và nên chỉ hình thành một phần nhỏ trong số các hoạt động chọn tạo và cải thiện
giống thông trong tương lai ở Việt Nam.
Lượng biến dị khá nhỏ quan sát được giữa các xuất xứ của PCH đã khảo nghiệm ở Việt
Nam, và các nguồn hạt có nguồn gốc từ Queensland là tương đương, hay tốt hơn một chút
so với hoặc các các xuất xứ tự nhiên tốt nhất hoặc các nguồn hạt từ địa phương của PCH.
Mặc dù, bộ xuất xứ PCH đã được khảo nghiệm là nằm trong số bộ xuất xứ tốt nhất theo
đánh giá của cả Oxford và CAMCORE. Điều này chứng tỏ rằng một chương trình cải thiện
di truyền cho P. caribaea ở Việt Nam sẽ thu lợi từ:
Chọn lọc kiểu hình địa phương của các cây cá thể P
CH tốt nhất bất kể nguồn gốc
xuất xứ. Tất cả các xuất xứ P
CH đại diện trong các khảo nghiệm chắc chắn đóng
góp một nguồn gen có giá trị cho chương trình cải thiện di truyền của loài này trong
tương lai ở Việt Nam. Giống lai giữa các xuất xứ cũng có thể thêm nguồn biến dị
so với các phép lai trong cùng một xuất xứ (Johnston và cs. 2003).
Nhập giống đã được cải thiện tính di truyền của PCH do đã được chọn lọc và nhân
giống ở Queensland- nguồn vật liệu này rất đa dạng về mặt di truyền, bắt nguồn từ
một xuất xứ khác với rất nhiều cây trội được chọn lọc vào Việt Nam (chẳng hạn
như xuất xứ Mountain Pine Ridge vs. Poptun), và đã được chọn lọc kỹ về đặc tính
- để cung cấp nguồn giống trựctiếp cho các khu trồn rừng chất lượng cao.
Lời cảm ơn
Báo cáo được xây dựng dưới sự trợ giúp và tài chính từ AusAID và Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn thông qua Dự án CARD 033/05 VIE. Số liệu được trình bày trong báo
cáo này có một số đã được công bố trước và được thừa nhận. Xin có lời cảm ơn tới GS Lê
Đình Khả người đã có nhiều đề xuất xây dựng và sâu sắc cho báo cáo này và tới sự trợ
giúp của cô Nghiêm Quỳnh Chi để hoàn thành báo cáo thông qua việc tổ chức đi đánh giá
hiện trường và các buổi họp liên quan tới dự án và dịch bản báo cáo này sang tiếng Việt.
Tài liệu tham khảo
Baylis, W. B. H. and R. D. Barnes (1989). International provenance trials of Pinus
caribaea var. bahamensis. In: Breeding tropical trees: Population structure and
genetic improvement strategies in clonal and seedling forestry. Proc. IUFRO Conf.,
Pattaya, Thailand, November 1988 (Eds. Gibson, G.L., Griffing, A.R. and Matheson,
A.C.). Oxford Forestry Institute/Winrock International, Arlington VA. pp. 283-290.
Birks, J. S. and R. D. Barnes (1990). Provenance variation in Pinus caribaea, P. oocarpa
and P. patula ssp. tecunumanii. University of Oxford, Tropical Forestry Papers No.
21, Oxford Forestry Institute, Department of Plant Sciences. 40 p.
Brawner, J. T., M. J. Dieters and D. G. Nikles (2005). Mid-rotation performance of Pinus
caribaea var. hondurensis hybrids with both P. oocarpa and P. tecunumanii: hybrid
superiority, stability of parental performance and potential for a multi-species
synthetic breed. Forest Genetics 12(1): 1-13.
Dieters, M. J. and D. G. Nikles (1997). The genetic improvement of Caribbean pine (Pinus
caribaea Morelet) - building on a firm foundation. In: Proc. 24th Southern Forest
Tree Improvement Conference, Orlando, FL., June 10 - June 12, 1997. Gainesville,
Fl, University of Florida, pp. 33-52.
Duncan, P. D., T. L. White, and G.R. Hodge (1996). First-year freeze hardiness of pure
species and hybrid taxa of Pinus elliottii (Engelman) and Pinus caribaea (Morelet).
New Forests 12: 223-241.
Dvorak, W. S., K. D. Ross and Y. Lui. (1993). Performance of Pinus caribaea var.
Queensland. In Tree Improvement for Sustainable Tropical Forestry. Proc. QFRI-
IUFRO Conf., Caloundra, Queensland, Australia. 27 October-1 November 1996.
(Eds. M. J. Dieters, A. C. Matheson, D. G. Nikles, C. E. Harwood and S. M.
Walker). Gympie, Queensland Forestry Research Institute. pp. 51-64.
Phí Quang Điện (1989). Khảo nghiệm loài và xuất xứ thông ở Việt Nam. Phòng Di truyền
và chọn giống cây lâm nghiệp, Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội, 76
trang.
Ståhl, P. (1988). Species and provenance trials on pine 1976-1984. Vinh Phu, Vietnam.
54p.
20