Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Báo cáo chuyến tham quan học tập về quản lý bền vững rừng trồng tại Australia " pot - Pdf 15


Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Báo cáo chuyến tham quan học tập về quản lý bền vững rừng
trồng tại Australia
8/03/2007 – 06/04/2007 Vũ Tấn Phương
1
, Trung tâm sinh thái và môi trường rừng (RCFEE), Hà Nội
Lê Anh Tuấn, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI), Hà Nội
Phạm Xuân Đỉnh, Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng Bắc trung bộ, Đông Hà Tóm tắt
Báo cáo này là kết quả chuyến tham quan học tập tại Úc được tài trợ bởi dự án phát triển bền
vững và hiệu qủa kinh tế cho rừng trồng các loài Keo cung cấp gỗ xẻ ở Việt Nam”. Và đề
xuất hướng giải quyế
t các vấn đề cho nghiên cứu và phát triển rừng ở phía Tây Australia.
Chúng bao gồm ba vấn đề chính ảnh hướng đến phát triển rừng đòi hỏi phải triển khai các
nghiên cứu ở phía tây Australia, bao gồm sự mặn hóa; sự giảm trữ lượng gỗ trong rừng tự
nhiên và sự hiếu hụt nước. Để giải quyết các vấn đề này, hàng loạt các nghiên cứu (các chiến
lược và nghiên cứu ứng dụng) đã được tri
ển khai với sự kết hợp chặt chẽ của các nhà khoa
học, sự kết hợp của các nhà thổ nhưỡng, lâm sinh và di truyền và sự hợp tác chặt chẽ của các
cơ quan quản lý và các công ty lâm nghiệp địa phương. Những chương trình nghiên cứu này
đã đưa ra những kiến thức và hiểu biết về quản lý độ phì đất và việc sử dụng nước của rừng
trồng và những kết qu

cứu làm cơ sở cho việc phát triển Lâm nghiệp bền vững ở Autralia, đặc biệt là rừng trồng ở
phía Tây. T
ổng quan về hoạt động Lâm nghiệp ở Australia Hình 1: Các loại hình rừng ở Australia Rừng Australia có diện tích khoảng 164 triệu ha, chiếm khoảng 21% lục địa. Trong đó, rừng
tự nhiên có khoảng 163 triệu ha và rừng trồng là khoảng 1.6 triệu ha. Khoảng 99% diện tích
rừng tự nhiên là rừng cây lá rộng và chủ yếu là các loài bạch đàn, keo, tràm. Ngược lại,
khoảng 60% diện tích rừng trồng lại được trồng chủ yếu là những loài cây ngoại lai nhằm
cung cấp sản phẩm gỗ cứng và gỗ mềm (theo Bureau of Rural Sciences 2004)
hoá diễn ra (John McGrath 2007). Đây là nguyên nhân làm chết cây ở
rừng trồng và có khả
năng đến năm 2050, hiện tượng này sẽ lan rộng một cách nhanh chóng (xem phụ lục 2). Bên
cạnh đó, một số nhân tố khác ảnh hưởng là độ phì của đất (chủ yếu là đất cát) và điều kiện
khí hậu không thuận lợi như lượng mưa ít và độ thoát hơi nước cao. Hình 2. Thực trạng và dự báo các diện tích có nguy cơ bị nhiễm mặn cao
ở phía tây Australia
(cung cấp bởi tiến sỹ Jonh Mc Grath)

Sụt giảm nhanh chóng của sản phẩm gỗ cây bản địa đã làm thay đổi nhanh chóng tình
trạng của rừng từ sản xuất sang bảo tồn. Theo dự báo, đến năm 2030, sẽ thiếu khoảng 200.000
m3 gỗ và 500.000 m3 gỗ xẻ do việc tăng dân số và nhu cầu về gỗ gia dụng tăng cao.


trong nghiên cứu là: tổng lượng dinh dưỡng, sự có mặt của các chất N, P, C…Thêm vào đó là
thí nghiệm về quản lý lượng vật rơi rụng sau thu hoạch cũng được thiết lập nhằm kiểm tra
mức
độ ảnh hưởng đến tính chất đất và khả năng sản xuất của đất

Chương trình nghiên cứu này được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học hợp tác với các cơ quan
chính phủ và các ngành công nghiệp. Chương trình đã gần hoàn thành chu kỳ thứ hai và đang
tiếp tục cho chu kỳ thứ ba. Những kết quả thu được qua chương trình nghiên cứu được sử
dụng i) tìm ra hướng đi bền vững và hiệ
u quả , ii) đạt được sự hiểu biết về công nghệ để cung
cấp các sản phẩm có tính đột phá
Liên quan đến vấn đề nước, việc lan rộng nhanh chóng của việc trồng thuần loài những loài
cây ngoại lai (chủ yếu là Bạch đàn globulus ) ở phía Tây Nam Australia trên những diện tích
đất trồng trọt làm tăng mối lo ngại về những ảnh hưởng tiêu cực của rừng trồng đối với n
ước
và tính chất đất. Ngoài ra, còn có những minh chứng về sự thiếu hụt nước gây ra hạn hán
Để hiểu được điều này, nghiên cứu về sử dụng nước được thực hiện theo gradient nước. Năm
địa điểm nghiên cứu đã được thiết lập trong những diện tích đã được chọn lọc ở Tây nam
Australia , đại diện cho các kiểu khí hậu khác nhau: lượng mưa ít với độ thoát hơ
i nước cao,
lượng mưa cao và thoát hơi nước thấp, lượng mưa và thoát hơi nước đều thấp.

Học thuyết về sự cân bằng nước đã được ứng dụng để kiểm tra lượng nước sử dụng cho rừng
trồng với các mật độ khác nhau. Kết quả thí nghiệm cho thấy biện pháp lâm sinh có thể đảm
bảo sự tuần hoàn nước và quản lý được nguy cơ (gây thiếu h
ụt nước). Nghiên cứu đã sử dụng
một số thông số của sinh lý thực vật (LAI – Chỉ số diện tích lá, lượng nhựa chảy…) để xác
định lượng nước rừng trồng đã sử dụng. Những thí nghiệm nghiên cứu về lượng nước sử dụng
cho rừng trồng đã tập trung vào 3 mật độ khác nhau: 300, 600 và 1200 cây/ha với 5 địa điểm
khác nhau.
Khảo nghiệm hậu thế keo saligna trên đất trang trại của Matt Edmonds tại Bolgart, Tây úc

Khảo nghiệm này được thiết kế theo lặp, mỗi lặp gồm 5 hàng cây của các gia đình khác nhau.
Có sự khác biệt rõ rệt giữa các gia đình và xuất xứ khác nhau tại 1 năm tuổi sau khi trồng.

Mô hình hạn chế độ mặn của đất thông qua trồng cây được thực hiện trên đất chăn nuôi
(Mallee, khoảng 15 km về phía Tây của Wongan Hills). Hai loài bạch đàn mallee đã được lựa
chọn để gây trồng. Một băng của 6 hàng cây
được trồng dọc theo đường đồng mức. Ngoài
tác dụng kiểm soát, hạn chế độ mặn của đất, những loài cây này còn có nhiều giá trị kinh tế
khác như là vật liệu để sản xuất dầu, gỗ ván, năng lượng
Bên cạnh những nỗ lực của các nhà khoa học, có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và công
ty tư nhân được coi là nhân tố quan trọng dẫn đến thành công. Cần lưu ý rằ
ng phần lớn các
địa điểm nghiên cứu đều được xây dựng trên địa phận của các công ty tư nhân và nguồn kinh
phí cho các nghiên cứu này chủ yếu cũng từ các công ty tư nhân với những thoả thuận chắc
chắn.

5Rừng trồng Bạch đàn mallee và Bạch đàn Kochii trên đất trống để so sánh sự mặn
hoá trên đất đồng cỏ
Các kết quả khoa học tới thời điểm hiện tại và các kết quả nghiên cứu dựa trên mục
đích sử dụng

Về kết quả nghiên cứu thu được, nó dường như là các kết quả đã phát huy được hiệu quả bởi
việc phát triển các mô hình và được áp dụng bởi các nhà quản lý để quyết định việ
c lập kế
hoạch và các phương thức hoạt động của các công ty lâm nghiệp. Cách sử dụng các kết quả
nghiên cứu như sau:
Công thức cân bằng Cacbon là sự kết hợp hiểu biết về Cacbon, Nitơ, và chu trình nước cung
cấp cho các quyết sách về lâm sinh.
Hiệp hội sản phẩm lâm nghiệp, cơ quan quản lý chịu trách nhiệm về quản lý lâm nghiệp ở
miền Tây Australia, đã sử dụng kết quả nghiên c
ứu vào việc đưa ra kế hoạch phát triển công
nghiệp và quy hoạch đường dẫn nước (tuỳ thuộc vào tiềm năng của đất, điều kiện khí hậu…);
lợi ích của các đối tác nghiên cứu (các công ty lâm nghiệp tư nhân) là ứng dụng mô hình
CABALA và sự tư vấn cũng như bài học quý báu về quản lý lượng vật rơi rụng sau thu hái đối
với sự phát triển của rừng trồng.

Biện pháp giải quyết vấn đề

Mặc dù những kinh nghiệm thu được qua các nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc
giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển rừng trồng ở miền Tây nước Australia , nhưng
vẫn còn những tồn tại hạn chế những nghiên cứu tiếp theo. Những hạn chế chính là:
Những nghiên cứu mới chỉ thực hiện cho một chu kỳ và do đó, có thể
có những hạn chế trong
những kết quả đó.
Các biện pháp lâm sinh làm giảm lượng nước cần thiết cho rừng trồng có thể được coi là một
giải pháp tình thế. Tuy nhiên, việc chọn giống, cho mục đích giảm lượng nước cần thiết mà
vẫn đảm bảo được năng suất và chất lượng vẫn đang trong quá trình thực hiện và cần có thời
gian. Cân đối giữa sản lượ
ng gỗ và lượng nước cần thiết đang được xem xét.
Quản lý độ mặn, ở một mức độ nhất định là tập trung vào khống chế độ mặn để không làm ảnh
hưởng và/hoặc có khả năng ảnh hưởng đến các vùng đất so với các vùng đất bị tác động. Mô

đỡ tận tình trong suốt thời gian khoá học diễn ra.
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status