Báo cáo kết quả chuyến tham quan ở Úc từ ngày 14 đến 24 tháng 7 năm 2006
Người báo cáo: Đoàn Nhân Ái, Trung tâm Thực nghiệm và Phát triển Cây ăn quả Thừa
Thiên Huế
Tôi đã tham gia chuyến tham quan tại Úc 10 ngày theo dự án CARD 052/04 VIE " Quản lý bệnh
Phytopthora hại cây trồng ở Việt Nam"
Một cơ hội thật tốt cho tôi được thu thập nhiều thông tin hữu ích và mở rộng kiến thức trên nhiều
lãnh vực từ những nơi tôi đã đi thăm, từ những trung tâm nghiên cứu, những nông trại, những
vườn ươm và từ nhiều nơi khác nữa. Tuy nhiên, trong báo cáo này tôi chỉ tập trung vào những
nghiên cứ
u và kỹ thuật canh tác liên quan đến cây trồng, nhất là các phương pháp quản lý bệnh
Phytophthora, và những vấn đề mới lạ đối với tôi.
1. Tổ chức chuyến tham quan:
Thời gian: từ ngày 14 đến 24 tháng 7 năm 2006
Nơi tham quan: bang New South Wales và bang Queensland.
Thành phần trong đoàn: Giáo sư David Guest, TS Rosalie, TS Andre, tôi, Thạc sĩ Nguyễn
Vĩnh Trường, và 9 sinh viên trường Đại học Sydney.
Tóm tắt chuyến tham quan
14/ 7 6 h20 -12h00 TS Andre chở tôi về Queensland DPI-Indooroopilly Research
Centre- ở Brisbane. Thăm Plant Pathology Building và Đại Học
Queensland
Buổi chiều Nghỉ. Ở tại nhà nghỉ Lucia ở thành phố Brisbane.
15 cả ngày Nghỉ
16 15 h - 18 h TS. Andre chở tôi đến thị trấn Nambour. Có ghé thăm Beerburrum
State Forest.
17 12 h Mọi thành viên trong đoàn tập trung tại nhà nghỉ Nambour Lodge
13 h -16 h30 Giáo sư David chở chúng tôi đến Trạm Nghiên cứu QDPI Maroochy
18 13h30-14h30 Thăm Công ty Sản xuất Giống Rau Withcott Seedlings.
2. Kết quả
2.1. Trạm Nghiên c
ứu Maroochy (MRS)
1
: MRS thuộc Queensland Department of Primary
Industries &Fishery (DPI&F) tọa lạc ở Sunshine Coast- thị trấn Nambour, cách Brisbane 100
km về phía bắc.
TS Roger Broadley trình bày những hoạt động và những thành đạt của trạm về 4 lãnh vực của
Queensland DPI&F: Khoa học cây trồng và cây rừng, Công nghệ Cần Nghiên cứu Cấp thiết,
An toàn sinh học và Phân vùng (Horticulture & Forestry Science, Emerging Technologies,
Biosecurity and Regional Delivery). Riêng về Khoa học Cây trồng có trách nhiệm nghiên cứu
và phát triển cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, mục đích nâng cao năng suất, bền vững và thị
trường của tất cả lãnh vực sản xuất cây trồng.
Tuy nhiên trong thực tế, MRS chỉ chuyên về cây ăn quả và hạt á nhiệt đới và cây ôn đới như
cây yêu cầu nhiệt độ thấp (low-chill stone fruit) (cây ôn đới), bơ, chuối á nhiệt đới, cây có
múi, mãng cầu (Annona cherymola) hoặc mãng cầu lai, macamadia, lạc tiên, dâu tây, hồng
ngọt (cây á nhiệt đới) và xoài, dứa (cây nhiệt đới). Theo tôi hình như trạm này quan tâm đến
cây trồng á nhiệt đới hơn là nhiệt đớ
i, có lẽ do trạm MRS ở trung tâm vùng á nhiệt đới.
Cán bộ MRS đã và đang đóng vai trò quan trọng trong vịêc phát triển khoảng 10 loài mới về
cây ăn quả và hạt á nhiệt đới, giá trị khoảng 650 triệu đô la Úc ở Queensland, trong đó chuối
270-300 triệu đô la, cây có múi 100 triệu, bơ 70 triệu, xoài 70 triệu đô la, cây ôn đới 15 triệu,
mãng cầu 6 triệu, lạc tiên 4 triệu, macamadia 150 triệu đô la (hầu hết ở NSW và
Queensland), Sản xuất chuố
i đạt giá trị cao nhất, giống Cavendish chiếm 95%.
Ngoài ra MRS còn là một trong những nơi của thế giới lưu giữ phôi nguyên sinh
(germplasm) của chuối in vitro. Tuy nhiên theo tôi, cây ăn quả ôn đới mới có nhiều tiềm năng
đang thực hiện ở đây (chỉ ngồi trong xe để xem, Dr Broadley thuyết minh)
Theo tôi nghĩ, những thí nghiệm được thiết kế ở đây cũng tương tự như một số vườn thí
nghiệm tôi đã từng xem, nhưng điều đáng nói là hiệu quả nghiên cứu như Dr Broadley
đã
trình bày trên đây thì có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng tiềm năng kinh tế của
Queensland.
2.2 Trung tâm Nghiên cứu về hoa địa phương (The Centre for Native Floriculture
(CNF)): CNF thuộc Đại học Queensland ở Gatton Campus toạ lạc trên đại lộ Warrego, cách
thị trấn Gatton khoảng 7 km về phía đông.
Giáo sư Daryl Joyce, Giám đốc Trung tâm, tiếp chúng tôi và trình bày những chương trình
hoạt động của Trung tâm và mời chúng tôi thăm khu thí nghiệm nằm trong khu vực trường
này.
Với đặ
c điểm đa dạng về khí hậu, thổ nhưỡng, Queens land có trên 8000 loài hoa. Phần lớn
các loài này đã được sử dụng trong sản xuất kinh doanh. CNF do Tiến sĩ Margaret Johnston
thành lập với mục đích tạo nên sự cạnh tranh quốc tế, bền vững môi trường về công nghiệp
sản xuất hoa địa phương, và tạo công ăn việc làm tốt cho người dân ở bang Queensland.
Sự nghiên cứu và phát triển của CNF tập trung vào 3 chương trình: i) Chu
ỗi giá trị (Value
Chain Program) : cải tiến thị trường và phát triển sản phẩm (nghiên cứu thị trường), ii) Hoa
( Floriculture Program): phát triển những loài mới có giá trị cao đáp ứng nhu cầu thị trường;
iii) Nâng cao năng lực ( Capacity Building Program): giáo dục và đào tạo.
Những hoạt động về hoa bao gồm: chọn lọc/lai tạo, nhân giống, kỹ thuật canh tác và sau thu
hoạch.
Trồng cây con trên những băng cao và chọn gốc ghép kháng bệnh nh
ư nêu trên là hai trong
những phương pháp quản lý bệnh Phytophthora tốt nhất.
Một vài vật liệu dùng để phủ lên nhà ươm cây này được làm bằng vải, ny long, gương, và có
màu sắc khác nhau: trắng, đen, đỏ hoặc trong suốt. Tôi nghĩ việc chọn màu và vật liệu che
phủ phụ thuộc vào đặc tính của loài hoa được trồng trong nhà; có lẽ màu sắc của vật liệu che
phủ ảnh hưởng đến màu sắc của mỗi loài hoa. GS Joyce cũng gi
ới thiệu chúng tôi một nhà
được che phủ bằng kính trong suốt có giá trị khoảng 1,2 triệu đô la Úc; bên trong nhà ánh
sáng, nhiệt độ, ẩm độ và nhiều yếu tố khác được kiểm soát bằng những phương tiện hiện đại
cho việc nghiên cứu (nhưng hiện nay nhà kính này vẫn chưa hoạt động)
Ở ngoài vườn, những chậu hoa được đặt trên nền sỏi để thoát nước tốt và ngăn không cho
tiếp xúc với đấ
t (để phòng bệnh có nguồn gốc từ đất như Phytopthora, Fusarium, )
Có một thí nghiệm ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự sinh trưởng phát triển của
một loài hoa được thực hiện trong vườn này. Năng lượng mặt trời được sử dụng để vận hành
các thiết bị đo nhiệt độ không khí, nhiệt độ đất, ẩm độ đất, ẩm độ không khí,
Theo như
tôi biết, âm nhạc dường như cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các loài hoa.
Không biết CNF có nghiên cứu vấn đề này không.
4
2.3. Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Nhiệt đới (CTH): Trung tâm này thuộc NSW DPI
toạ lạc ở vùng NSW North Coast.
Ông Dave Forrest đã thành lập mộ
t công ty "gia đình" có tên là Organicforrest toạ lạc ở vùng
sâu của cảng Byron, phía nam của thị trấn Kingscliff. Ông ta đã canh tác hữu cơ trên 25 năm,
cung cấp quả và rau hữu cơ tươi, hạt macamadia và cà phê cho các chợ địa phương và các
chợ thành phố.
Thực hiện canh tác hữu cơ có nghĩa là sản xuất cây trồng không dùng hoá chất, tăng cường
phân hữu cơ và/hoặc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thự
c vật, áp dụng biện pháp
sinh học để phòng trừ sâu bệnh, trồng cây sống thường xuyên, chịu bóng để phủ đất giữa các
hàng cây và dưới tán cây. Ông Forrest cũng hướng dẫn chúng tôi cách làm phân hữu cơ bằng
các vật liệu sẵn có trên đồng, cách thiết kế một vườn theo canh tác hữu cơ như trồng đa canh,
luân canh, tủ gốc bằng các vật liệu hữu cơ, Những cách làm này cũng là phương pháp tốt
nhất để
quản lý bệnh Phytophthora.
2.5. Trạm Nghiên cứu Gatton (GRS): GRS thuộc Queensland DPI&F, Trạm ở thị trấn
Gatton, phía tây của Brisbane.
5
Tiến sĩ Timothy O'Hare chỉ giới thiệu về giống cà chua mới rất giàu vitamin A. TS Timothy
còn nói về khả năng chống bệnh ung thư của một số loài rau thuộc họ Thập tự Brassicaceae
do một nhóm dự án của DPI&F đã nghiên cứu trong 2 năm. Rau Thập tự có chứa một hoá
chất thực vật biến đổi thành isothiocyanates khi ta nhai rau. Vài isothiocyanates có thể tạo ra
enzyme detoxification thúc đẩy việc tiêu huỷ chất gây ung thư trong cơ thể con người.
Isothiocyanates đượ
c liên kết để giảm sự phát triển của các loại ung thư. Cải củ (radish),
daiko (một loại rau của Nhật) và cải bông xanh (broccoli) đứng hàng đầu bảng về chống ung
thư.
2.6. Trung tâm Nghiên cứu Indooroopilly (IRC): IRC thuộc Queensland DPI toạ lạc ở
4 tháng sau phụ thuộc vào nhiệt độ và giống trồng, quả non nhiễm bệnh sẽ bị rụng. Triệu
chứng ban đầu là những đốm úa vàng tái, sau đó những đốm lan rộng và tr
ở thành màu nâu
vàng, hạn chế mô vỏ phát triển cho đến khi hạt thành thục. TS Andre chỉ chúng tôi xem triệu
chứng bệnh trên vỏ quả non ở nông trại này. Nấm bệnh có thể gây thiệt hại trầm trọng, làm
rụng trái non; trái non này có hàm lượng dầu < 70% thường sẽ không thuần thục và không
phù hợp cho việc chế biến.
Biện pháp phòng trừ bệnh này được khuyến cáo ở Úc là kết hợp hài hoà các biện pháp phun
thuốc trừ bệnh, biện pháp canh tác, dùng giố
ng kháng. Tuy nhiên hiện nay ở Úc vẫn chưa
chọn được giống nào kháng bệnh hoàn toàn.
6
Ở nông trại macamadia này, có 7 giống được trồng theo từng lô một. Sự thụ phấn chéo giữa
các giống làm tăng số lượng và chất lượng hạt. Theo ông Flemming, một trợ lý của TS Andre,
sự khác nhau về chất lượng, về giá cả của hạt macamadia cũng là nguyên nhân trồng vài
giống trên một nông trại để giảm rủi ro trong sản xuất.
Hàng cây macamadia hướng lên xuống theo chiều dốc và theo hướng bắc-nam. Điều này cho
thấy, h
ướng hàng được quan tâm hơn là nguy cơ xói mòn đất trên đất dốc, có lẽ do lượng
mưa thấp (ở Nambour 1730mm/năm; ở Gatton, phía tây Brisbane có lẽ khô hơn nữa) làm
giảm nguy cơ xói mòn đất trong khi hàng cây theo hướng bắc-nam thì cả 2 phía của hàng cây
đều tiếp nhận tối đa ánh sáng mặt trời, nhất là vào mùa đông. Ngoài ra, ở độ dốc từ 8-15 %,
hàng cây phải chạy lên xuống theo chiều dốc thì máy nông nghiệp hoạt động mới an toàn.
Điều này khác với Vi
ệt Nam, nơi trung tâm vùng nhiệt đới có lượng mưa nhiều và đầy ánh
sáng mặt trời quanh năm. Trên đất dốc, hàng cây phải trồng theo đường đồng mức kết hợp
với hệ thống bảo tồn đất và nước.
TS Andre cũng giới thiệu 2 cái máy thu hoạch macamadia: một máy nhỏ vận hành bằng tay
dùng cho vườn nhỏ và một máy lớn vận hành bằng máy dùng cho vườn lớn; tuy vậy về cơ
phân loại, chế biến 250.000 đô la Úc. 7
2.9. Nông trại củ cải đỏ (beetroot) và xà lách ở thung lũng Lockyer: GS David chở chúng
tôi đi qua vùng trồng rau rộng mênh mông ở thung lũng Lockyer và dừng lại thăm cánh đồng
trồng củ cải đỏ, sau đó thăm ruộng xà lách. TS Ken Jackson and TS Timothy J. O'Hare giới
thiệu về lịch sử trồng rau ở thung lũng này và về sản xuất củ cải đỏ và xà lách trên đồng
ruộng.
Thung lũng Lockyer nằm về phía tây thành phố Brisbane, đi xe từ Brisbane đến thung lũng
mất khoảng 1 tiếng đồng hồ. Thung lũng Lockyer là vùng nổi tiếng về sản xuất rau chất
lượng cao, trị giá 128 triệu đô la Úc (năm 2000), trong đó củ cải đỏ 6 triệu đô la.
Củ cải đỏ là một trong những loại rau chủ lực ở Queensland. Củ cải đỏ không có chất béo, ít
calo, nhiều chất xơ và trong nhiều năm được sử dụng để chữa ung thư.(?)
Trên đồng rau, c
ủ cải đỏ được trồng với mật độ cao, tán lá giao nhau, và trên loại đất rất tốt,
giàu mùn. Năng suất khoảng 25-30 tấn/ha.
Bệnh nguồn gốc từ đất là vấn đề lớn đối với việc sản xuất củ cải đỏ, nhất là những vùng thoát
nước kém. Bệnh thối đen rễ do nấm Aphanomyces cochlioides gây ra, nấm phát sinh phát
triển mạnh trong điều kiện ẩm
ướt. Sự xâm nhiễm và phát triển của bệnh thích hợp thời tiết
ấm áp, ẩm độ đất cao, bệnh sẽ gây hại nặng. Nên trồng củ cải đỏ trên luống cao, tránh vùng
thoát nước kém. Ngoài ra bệnh đốm lá cũng là bệnh phổ biến do nấm Cercospora beticola &
Phoma betae gây ra, các loài nấm này sống trên tàn dư cây củ cải đỏ ở trong đất, trên cỏ dại
và trên hạt cải. Để phòng trừ bệnh này, nên dùng thuốc trừ bệnh và áp d
ụng biện pháp luân
canh.
Ts Ken Jackson cũng giới thiệu về một máy thu hoạch củ cải đỏ đang vận hành trên ruộng.
Máy chạy dọc theo luống rau, một bộ phận trục ngang có những "ngón tay kim loại" lắp đặt
dưới máy sát mặt đất; khi trục quay thì các 'ngón tay' sẽ đào bới và nhặt củ cải và củ được
trồng, giảm số lượng hạt giống, có lợi nhuận hơn, Công ty rất quan tâm đến khâu làm vệ
sinh trong tất cả các công đoạn sản xuất; tất cả cây con được trồng trên băng nhôm cao để
tránh bệnh từ đất; tất cả các khay, giá, thùng, sọt đều được sát trùng trước khi đưa vào lại
trong vườn ươm. Trong khu vực vườn ươm, xe cộ vào vườn được quản lý rất ch
ặt chẽ, phảỉ
triệt để tuân theo sự kiểm tra vệ sinh nghiêm ngặt; chân sạch đất; cây con nhiễm bệnh không
được mang vào vườn ươm.
2.11. Nông trại Graham Anderson: Ông Graham Anderson và vài thành viên trong nông
trại tiếp đón chúng tôi và giới thiệu về sản xuất bơ và lạc tiên ở nông trại này.
CÂY BƠ
Ông Anderson cho rằng Phytophthora là bệnh cần quan tâm nhất. Vì thế, để quản lý bệnh
Phytophthora có hiệu quả, sản xuất trong nông trại phải triệt để tuân theo qui trình nghiêm
ngặt sau đây:
Trong vườn ươm bơ:
- Chọn giống gốc ghép chịu được bệnh Phytophthora. Cho đến nay, ở Úc chưa chọn được
giống bơ kháng bệnh Phytophthora.
- Chọn quả/hạt giống không bị bệnh để gieo làm gốc ghép.
- Vật liệu trộn bầu sạch bệnh.
- Cành ghép được chọn từ cây mẹ khoẻ mạnh, không bị sâu bệnh hại, nhất là b
ệnh
Phytophthora. Đoạn cành ghép tốt có thể cất giữ 3 tháng ở khoảng 4
0
C.
- Chậu, bầu đất đặt trên những băng kim loại cao khỏang 0,6 m theo hướng bắc-nam.
- Vị trí chỗ ghép cành ngọn trên gốc ghép phải xa mặt đất, trên 35 cm tính từ mặt đất.
- Công tác vệ sinh được thực hiện trong các công đoạn sản xuất cây giống. Ủng,
giày, được sát trùng bằng thuốc trừ bệnh (vôi bột, thuốc gốc đồng, ) trước khi vào trong
vườn ươm và những nơi khác nế
CÂY LẠC TIÊN
Cây lạc tiên trồng trong vườn là cây ghép có gốc ghép tránh đượ
c vài vấn đề về hệ rễ và
mầm ghép là giống lạc tiên tím (Passiflora edulis f. edulis x P. edulis f. flavicarpa). Ở Úc,
giống lạc tiên tím được trồng kinh doanh hơn là lạc tiên vàng.
Cây lạc tiên được trồng hàng đơn theo hướng bắc-nam để che bóng cho những quả rơi dưới
tán tốt hơn, tránh thiệt hại do rám nắng; ngoài những lợi ích do trồng hàng cây theo hướng
bắc-nam như đã trình bày trên. Lạc tiên cũng được trồng trên luống (không cao như trồng bơ)
để
thoát nước tốt. Điều đáng chú ý là mỗi gốc lạc tiên được bao quanh bởi một cái ống rộng
khoảng 10cm và cao khoảng 50 cm để giảm chồi bên, để bảo vệ vỏ khỏi bị cháy nắng, bị súc
vật gây hại và tránh thuốc trừ cỏ.
Sâu bệnh hại chính yêu cầu đặc biệt lưu ý gồm ruồi đục quả, rệp đỏ (sâu hại), bệnh đốm
alternate, héo do fusarium, PWV.
Bệnh Phytophthora có khả
năng trở thành vấn đề chính, cần lưu ý thường xuyên.
II.12. Khu du lịch Thế Giới Cây Ăn Quả Nhiệt Đới: chỉ khoảng 15 phút đi xe từ thị trấn
Kingscliff về phía tây-nam là đến đây, một khu du lịch tuyệt vời nằm bên đại lộ Pacific. Vị
quản lý khu du lịch này mời chúng tôi vào một gian hàng trái cây để nếm và ăn những loại
trái cây được sản xuất tại vườn này. Tôi đã lần lượ
t thử một vài loại trái cây, lạ nhất là trái sô
cô la (hồng đen), thanh long vàng ăn rất ngon. Hình như người Úc thích ăn vị hơi chua hơn là
ngọt.
Sau đó, chúng tôi được chở bằng một chiếc xe mà 'đầu máy' là một chiếc máy kéo đi qua khu
vườn cây ăn quả nhiệt đới. Nơi đây cây ăn quả rất đa dạng phân theo nguồn gốc của nó. Có
14 khu vườn nghiên cứu (rearch garden) có tên là Inca Garden, the Amazon Garden, the
Chinese Garden, Tôi thăm được một vài vườ