Câu 10: Mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút
và sử dụng vốn đầu tư. Lấy thực tế ở Việt
nam để chứng minh
I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU
HÚT,TẠO LẬP VÀ SỬ DỤNG VỐN
Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của
các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm
của nhân dân và tiền huy động từ các nguồn
lực khác được đưa vào sử dụng trong quá trình
tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sản
xuất hiện có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản
xuất kinh doanh cũng như các hoạt động sinh
hoạt đời sống xã hội
1.Tạo lập vốn đầu tư:
Tạo lập vốn đầu tư bao gồm các hoạt động
sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tâp thể,
doanh nghiệp, chính phủ, … các thành phần
kinh tế,các hoạt động này nhằm tạo ra giá trị
gia tăng cho nền kinh tế và từ đó hình thành
nên nguồn tích lũy hay tiết kiệm.
Vai trò: Tạo lập vốn đầu tư có trò quan
trọng gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế, tạo
điều kiện cho quá trình tái sản xuất xã hội; Tạo
lập vốn đầu tư là nguồn hình thành nên tiết
kiệm, Theo quan điểm của K. Max, con đường
cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất
mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành
tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng. Hay
nói cách khác nguồn lực cho đầu tư tái sản
xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự
gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế;
đình. Các nhân tố kinh tế này sẽ trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất kinh doanh và sẽ
trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế,
tức là tích lũy của nền kinh tế sẽ tăng lên.
Thực tế ngày càng cho thấy vai trò của các
nhân tố này ngày càng quan trọng trong việc
tạo lập vốn, các nhân tố này sẽ là điều kiện cơ
bản và lâu dài cho việc tạo lập các nguồn vốn
một cách bền vững.
2.Thu hút vốn đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư bao gồm các hoạt động,
biện pháp và chính sách nhằm đưa nguồn vốn
từ tích lũy trong nền kinh tế sang đầu tư.
Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu
tư:
Thứ 1:việc bỏ vốn của nhà đầu tư sẽ phụ
thuộc nhiều vào môi trường đầu tư, vì vậy môi
trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan
trọng. môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu
tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư.
Mọi hoạt động đầu tư suy ra cho cùng là để
thu lợi nhuận, vì thế môi trường đầu tư hấp
dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư
cao, mức độ rủi ro thấp. Điều này lại chịu ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố như: chính sách, cơ
chế ưu đãi đầu tư của địa bàn được đầu tư,
điều kiện phát triển về kết cấu hạ tầng, mức độ
hoàn thiện về thể chế hành chính – pháp lý,
khả năng ổn định về mặt chính trị-xã hội, độ
mở cửa nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống
đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động trong một
thời gian dài, nên cần một môi trường pháp lý
ổn định và có hiệu lực là một yếu tố quan
trọng để quản lý và thực hiện đầu tư một cách
có hiệu quả. Môi trường này bao gồm các
chính sách, qui định, luật cần thiết đảm bào sự
nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau
và có tính hiệu lực cao.
Vai trò Cũng như tạo lập vốn đầu tư thu hút
vốn đầu tư có vai trò quan trọng đến tăng
trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động của nó cũng
là gián tiếp, nó không trực tiếp tiến hành đầu
tư mà nó thu hút các nguồn tích lũy trong nền
kinh tế tạo thành vốn đầu tư, vốn đầu tư là yếu
tố quan trọng cho việc thực hiện hoạt động đầu
tư làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Nếu không có hoạt động thu hút vốn thì
nguồn tích lũy trong nền kinh tế không được
đưa vào sử dụng, điều này dẫn đến tình trạng
không có nguồn vốn đầu tư tái sản xuất xã hội
và tất yếu là nền kinh tế sẽ không tăng trưởng.
Mặt khác nếu không có hoạt động thu hút vốn
thì việc tạo lập vốn đầu tư sẽ không còn ý
nghĩa gì nữa, vì vậy thu hút vốn đầu tư là cơ
sở cho tạo lập và là điều kiện cho sử dụng vốn
đầu tư.
3.Sử dụng vốn đầu tư:
Sử dụng vốn đầu tư bao gồm các hoạt động
phân bổ, quản lý và giám sát quá trình chuyển
biến của vốn từ hình thái tiền tệ sang hình thái
nhà kinh tế.
1. Tính thuận chiều trong mối quan hệ
giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư:
Xét trong tiến trình hoạt động và chu chuyển
của luồng vốn, giữa việc tạo lập, thu hút và sử
dụng vốn đầu tư luôn có mối quan hệ thuận
chiều xuyên suốt.
Quá trình tạo lập vốn tạo nên nguồn tích lũy
trong nền kinh tế, đây là nguồn gốc của vốn
đầu tư, muốn có vốn đầu tư thì phải có nguồn
tích lũy này. Để nguồn tích lũy này có thể đưa
vào sử dụng thì phải có một công cụ trung
gian làm nhiệm vụ đưa tiền từ tích lũy sang
đầu tư, đó chính là hoạt động thu hút vốn, như
vậy trong mối quan hệ này tạo lập vốn là điều
kiện tiên quyết cho thu hút vốn và thu hút vốn
là cơ sở cho việc sử dụng vốn. Tính thuận
chiều này tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các
giai đoạn tạo lập, thu hút và sử sụng vốn với
nhau và đảm bảo tính lưu thông của nguồn vốn
đầu tư. Với nguồn vốn tạo lập càng lớn, trong
điều kiện môi trường đầu tư lý tưởng thì việc
thu hút nhiều các nguồn vốn sẽ đem lại hiệu
quả cao trong sử dụng vốn. Tuy nhiên giữa tạo
lập, thu hút và sử dụng vốn lại thường vấp
phải các trở ngại về năng lực đầu tư, môi
trường đầu tư, rủi ro tài chính… trong các hoạt
động của nguồn vốn. Điều này đã gây nên xu
hướng giảm dần về lượng vốn đầu tư trong
suốt quá trình tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
hành trái phiếu, vay ngân hàng ). Sau đó, do
gắn liền với sản xuất kinh doanh, vốn và các
quỹ tiền tệ khác được bổ sung, tái tạo thông
qua việc phân phối doanh thu tiêu thụ sản
phẩm, lập các quỹ bù đắp ( như quỹ khấu hao
tài sản cố định, quỹ bù đắp vốn lưu động) và
tạo lập các quỹ từ lợi nhuận. Mỗi quỹ tiền tệ
trong doanh nghiệp đều có mục đích nhất
định, nhưng tính chất chung của chúng là gắn
liền với sản xuất kinh doanh, chi dùng cho
mục đích sản xuất kinh doanh và phần tiêu
dùng để hình thành thu nhập của những người
tham gia sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
Từ rất nhiều phương thức tạo vốn đó nguồn
vốn được tạo ra là rất lớn. Tuy nhiên lượng
vốn thu hút được thì lại thấp hơn so với nguồn
vốn tạo lập. Mặc dù có nhiều phương thức
khác nhau để tiếp cận các nguồn vốn dầu tư,
nhưng các doanh có thu hút được vốn hay
không lại phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp
đó có hội đủ các điều kiện cần thiết để vay vốn
hay không và có nhận được sự tin tưởng từ
phía các nhà tài trợ vốn hay không. Trong đó
có các điều kiện cần thiết để vay vốn bao gồm:
năng lực tài chính như khả năng huy động vốn
lớn, có khả năng trả nợ cao, khả năng thanh
toán tiện lợi nhanh chóng, cân đối thu chi tốt,
phân phối lợi nhuận hiệu quả …; năng lực
kinh doanh như kỹ năng bán hàng chuyên
nghiệp, khả năng phân phối sản phẩm rộng,
Xét trên tổng thể một quốc gia, việc thu hút
được một lượng vốn lớn chưa đảm bảo được
tính hiệu quả trong sử dụng lượng vốn đó. Bởi
vì khi đó các vấn đề cơ sở hạ tầng, nhân lực,
thủ tục hành chính và sự đồng bộ của thị
trường lại trở thành những thách thức đối với
việc tăng hiệu quả thực tế của việc sử dụng
vốn đầu tư. Đồng thời sự lỏng lẻo cũng như
tiêu cực trong công tác quản lý nguồn vốn của
nhà nước thương dẫn đến tình trạng thất thoát,
lãng phí vốn gây ảnh hưởng rất lớn tới hiệu
quả sử dụng của đồng vốn bỏ ra cũng như chất
lượng dự án thực hiện.
Đặc biệt là sự chậm trễ trong công tác giải
ngân vốn đầu tư cho các dự án. Nguyên nhân
chậm trễ là do bất cập ở nhiều khâu từ vướng
mắc về thủ tục, tư vấn của dự án yếu, khó
khăn trong giải phóng mặt bằng, năng lực nhà
thầu kém, không đảm bảo đủ vốn đối ứng, thời
gian thực hiện các dự án quá dài, năng lực
điều hành của các ban quản lý còn nhiều hạn
chế. Xét tầm vi mô, khi vốn thu hút được đầu
tư vào các dự án thì các doanh nghiệp lại
thường chậm trễ trong tiến độ thực hiện, công
việc giải ngân chậm chạp cùng với những
vướng mắc trong công tác đấu thầu khiến cho
hiệu quả của dồng vốn bỏ ra không cao, tỷ lệ
vốn hoạt động có hiệu quả trong tổng nguồn
vốn thu hút được thường thấp.
Qua việc phân tích xu hướng trên, ta thấy thu
ngoài nhà nước đang dần tăng lên. Điều đó thể
hiện chúng ta đang ngày huy động được nhiều
nguồn lực của đất nước … Ngoài ra chúng ta
còn hình thành cơ cấu vùng kinh tế trọng điểm
của đất nước.
Cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể: giao
thông đường xá cầu cống thuận lơi hơn hiện
đại hơn, hệ thống thông tin liên lạc nhanh
chóng, xã hội được điện khí hóa. Khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển: ngày càng nhiều
nghiên cứa cơ bản và nghiên cứa ứng dụng ra
đời khắc phục đắc lực cho kinh tế xã hội.
chính vì lý do đó mà năng suất xã hội tăng
nhanh do cơ khí hóa tự động hóa, cách thành
tựu khoa học tiên tiến và các phương pháp
quản lý hiện đại.
Nhờ những kết quả trên mà tăng trưởng kinh
tế đạt tốc độ cao, năm sau cao hơn năm trước;
cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ sở hạ
tầng được xây dựng và nâng cấp … Cơ cấu
đầu tư đã dịch chuyển theo hướng tích cực, tập
trung cho những mục tiêu quan trọng về phát
triển kinh tế xã hội; vừa tập trung cho tăng
trưởng kinh tế, vừa quan tâm đến phát triển xã
hội và xây dựng cơ sỏ hạ tầng; vừa tập trung
cho vùng động lực, vừa tăng cho vùng
nghèo.Đặc biệt thể hiện ở đời sống nhân dân
không ngừng nâng cao.Và chính việc sử dụng
hiệu quả vốn đầu tư đã tác động trở lại đối với
Khi tăng trưởng kinh tế cao sẽ đi kèm là chất
lượng cuộc sống không ngừng tăng lên: sẽ có
một bộ phận không nhỏ dân cư có thể tiết
kiệm được một lượng tiền nhất định, lượng
tiền này một phần làm gia tăng trực tiếp lương
vốn được tạo lập, một phần khác nó được đưa
vào đầu tư, trong môi trường kinh tế phát triên
hiệu quả sử dụng của đồng vốn đầu tư được
đảm bảo thì đồng vốn đưa vào đầu tư sẽ sinh
lời, từ đó tạo ra giá trị gia tăng và lại làm tăng
khả năng tạo lập vốn của nền kinh tế.
Thứ hai: Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu
quả thì khả năng thu hút nó càng lớn : Thực
chất của mối quan hệ này nằm trong mối quan
hệ nhân quả của các sự vật. Thứ nhất, với năng
lực tăng trưởng đảm bảo, năng lực tích lũy của
nền kinh tế sẽ có khả năng gia tăng. Khi đó
quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy
động sẽ được cải thiện. Thứ hai, triển vọng
tăng trưởng và phát triển càng cao cũng sẽ là
tín hiệu thu hút các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài.
Đối với các nhà đầu tư trong nước, họ hiểu
rất rõ về môi trường đầu tư, tình hình kinh tế,
xã hội của đất nước mình, và họ sẽ có quyết
định đúng đắn khi tiến hành đầu tư. Khi tạo
được cho các nhà đầu tư trong nước cảm thấy
an toàn khi đầu tư thông qua việc cải thiện môi
trường đầu tư thì sẽ góp phần thúc đẩy các nhà
đầu tư trong nước đầu tư tích cực, việc thu hút
Không một nước nào cho vay không hay là
cho vay mà khả năng trả nợ của nền kinh tế
không được đảm bảo. Bởi thế khi đồng vốn
được sử dụng hiệu quả, đồng nghĩa với việc
nền kinh tế đó đang tăng trưởng và hoàn toàn
sẽ hoàn trả vốn cho nước đã vay, nước cho vay
cũng thu được nhiều ưu đãi của nước đi vat,
khi niềm tin vào khả năng sử dụng vốn thì các
nước sẵn sàng đầu tư hoặc cho nước đó vay
tiền, do vậy chúng ta sẽ thu hút được nhiều
hơn các nguồn vốn từ bên ngoài
III-LẤY THỰC TẾ VN CHỨNG MINH
Thứ nhất: Khả năng tạo lập vốn ngày
càng được cải thiện tạo điều kiện tốt để thu
hút vốn ngày càng nhiều
Từ năm 1986 khi đường lối cơ chế được thay
đổi toàn bộ nền kinh tế đã chuyển sang một
giai đoạn mới. Trước tiên là luật doanh nghiệp
cho phép thành lập các công ty tư nhân, cho
phép phát triển nền kinh tề nhiều thành phần
và do đó nâng cao tính cạnh tranh của các đơn
vị trong nền kinh tế. Nhà nước không can
thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nước do đó các
doanh nghiệp này tự chủ về sản xuất làm ăn
hiệu quả hơn, từ đó nguồn vốn tín dụng tích
lũy mở rộng sản xuất tăng sản lượng ngày
càng tăng. Đó là chưa kể đến khi cho phép các
thành phần kinh tế tư nhân phát triển đã tạo
lập được một nguồn vốn nhàn rỗi đáng kể từ
đồng, bằng 116,2% kế hoạch năm
20 năm đã có hơn 9500 dự án đầu tư nước
ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn
đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng
thêm); riêng năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, chiếm
hơn 20% tổng số FDI trong 20 năm qua.FDI
góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước,
trong thời kỳ 2001-2005 khối doanh nghiệp
FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, 2007 trên 1,5 tỷ
USD; thu hút trên 1,2 triệu lao động trực tiếp
và nhiều triệu lao động gián tiếp, góp phần
tăng thêm các ngành nghề lao động mới, thay
đổi cơ cấu ngành nghề cũng như nâng dần chất
lượng chuyên môn của lực lượng lao động
này.
Thứ ba: Sử dụng vốn chưa hiệu quả hạn
chế khả năng tạo lập thu hút vốn.
Tính theo icor Nếu tính trong thời kỳ
1991-2007 chỉ số ICOR của VN là 4,86 lần so
với 4 lần của Trung Quốc thời kỳ 2001-2006,
4,1 lần của Thái Lan (1981-1995), 4,6 lần của
Malaysia (1981-1995), 3,7 lần của Indonesia
(1981-1995), 3 lần của Hàn Quốc (1961-
1980) và Đài Loan 2,7 lần (1961-1980). Qua
đó cho thấy hiệu quả đầu tư của chúng ta là rất
thấp. Chỉ số ICOR cho chúng ta thấy rằng nó
càng cao thì hiệu quả đầu tư của chúng ta càng
thấp. Trng giai đoạn 1990 -2000 chỉ số ICOR
của chúng ta là 4.1 đến giai đoạn 2001-2005
trung bình là 4.238, đặc biệt năm 2005 là 5 và