ĐỀ CƯƠNG :
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ.
I. TẠO LẬP, THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ.
1. Nguồn vốn đầu tư:
2. Phân loại vốn đầu tư:
3. Tạo lập vốn đầu tư:
4. Thu hút vốn đầu tư:
5. Sử dụng vốn đầu tư:
II. TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA VIỆC SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ ĐẾN CHẤT
LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TÊ.11/18/2008
1. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và do đó tác
động tích cực đến tăng trưởng:
2. Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến năng suất nhân tố tổng hợp và do
đó tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
3. Tác động của của việc sử dụng vốn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH – HĐH:
4. Tác động của hoạt động sử dụng vốn đầu tư đến khả năng nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế:
5. Tác động của vốn đầu tư đến chất lượng và giá thành sản phẩm:
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TẠO LẬP, THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ.
1. Tính thuận chiều trong mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
đầu tư:
2. Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư là cơ sở duy trì sự tăng trưởng kinh tế, đẩy
mạnh tạo lập vốn và tăng khả năng thu hút vốn:
PHẦN II : THỰC TRẠNG TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2008.
I. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM NÓI CHUNG:
1. Đầu tư trong nước :
1.1.Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước:
1.2. Vốn đầu tư từ doanh nghiệp:
1. Giải pháp chung:
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tạo lập vốn:
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư:
4. Giải pháp nâng cao sử dụng nguồn vốn đầu tư nhằm góp phần nâng cao
chất lượng tăng trưởng Việt nam đến 2010, tạo điều kiện tạo lập và thu hút vốn đầu
tư:
4.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và bố trí kế hoạch đầu tư:
4.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước:
4.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn nước ngoài :
4.4 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng suất lao động:
2
Lời mở đầu:
Một nền kinh tế để có thể tồn tại và phát triển thì phải có sự tăng trưởng. Theo nghĩa
chung nhất thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng
thời gian nhất định ( thường là một năm). Tăng trưởng sẽ kéo theo sự phát triển của các yếu
tố khác. Một nền kinh tế muốn có tăng trưởng thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, một trong
những yếu tố quan trọng nhất là vốn đầu tư. Vốn đầu tư là một trong những nhân tố đầu vào
của quá trình sản xuất cũng như mọi hoạt động trong nền kinh tế, nó có vai trò đặc biệt quan
trọng đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy yêu cầu hiểu rõ về vốn đầu tư, các nguồn vốn đầu tư
là vô cùng quan trọng. Một trong những đòi hỏi đó chính là việc nắm bắt rõ các quá trình
tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư, cũng như mối quan hệ giữa chúng. Nắm bắt được
yêu cầu đó nên nhóm chúng em chọn đề tài: “mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử
dụng vốn đầu tư. Lấy thực tế ở Việt nam để chứng minh.”
Trong quá trình hoàn thiện đề tài, chắc chắn sẽ có những thiếu sót do nhân tố khách
quan cũng như các nhân tố chủ quan không thể tránh khỏi. Và để hoàn thành đề tài này
chúng em cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của: PGS-TS Từ Quang
Phương và TS Phạm Văn Hùng.
3
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ
xuất, kết quả do vốn đầu tư đem lại thông qua hoạt động đầu tư đều góp phần tạo ra tiềm
lực mới cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
- Theo mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế: vốn đầu tư có thể xem xét
theo cơ cấu trong nền kinh tế. Vốn đầu tư phân chia theo cơ cầu ngành kinh tế, vùng lãnh
thổ, theo các thành phần kinh tế … Khi nghiên cứu cơ cấu vốn đầu tư theo các tiêu thức này
có thể đánh giá được vai trò của đầu tư trong việc hình thành và chuyển dịnh cơ cấu kinh tế.
- Theo nguồn hình thành: Vốn đầu tư có thể phân thành vốn đầu tư trong nước và vốn
đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trong nước bao gồm khoản tích lũy từ ngân sách, của doanh
nghiệp và tiền tiết kiệm của nhân dân.
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội cũa mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho
các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh, hỗ trợ cho các dự
án công cộng, hoặc chi cho công tác lập và thực hiện các dự án qui hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội của vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
4
Vốn của các doanh nghiệp, bao gồm vốn của các doanh nghiệp nhà nước và các
doanh nghiệp tư nhân hay dân doanh. Các doanh nghiệp sử dụng vốn của mình để thực hiện
các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động khác được
pháp luật cho phép để phục vụ xã hội, cộng đồng.
Nguồn vốn tiết kiệm của nhân dân. Đây là nguồn vốn có tiềm năng lớn. Quy mô
nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, vào trình độ
phát triển của đất nước( ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ
tiết kiệm thấp), tập quán tiêu dùng của dân cư, các chính sách của nhà nước như lãi suất huy
động tiền gửi, thuế thu nhập, các khoản đồng góp đối với xã hội.
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nguồn vốn nước ngoài gồm vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài( FDI – Foreign Direct Investment) và vốn đầu tư gián tiếp( FPI –
Foreign Portfolio Investment).
Tóm lại dù phân chia theo tiêu thức nào thì xét cho cùng vốn đầu tư cũng có nguồn
gốc từ tiết kiệm. Theo J.M. Keynes – nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, trong cuốn “Lý
dân sau khi trừ đi tiêu dùng sẽ là phần tích lũy của nền kinh tế. Như vậy ta có thể tăng tích
lũy thông qua hai cách. Thứ nhất: với điều kiện tổng sản phẩm quốc dân không đổi thì tích
lũy chỉ được tăng lên khi tiêu dùng giảm. Thứ hai: với điều kiện tổng sản phẩm quốc dân
5
thay đổi thì khi tổng sản phẩm quốc dân tăng lên thì tích lũy trong nền kinh tế sẽ tăng với
mức tiêu dùng cố định, hoặc tiêu dùng tăng nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn tốc độ tăng tích lũy.
Như vậy tạo lập qua tổng sản phẩm quốc dân sẽ tạo lập được lượng vốn lớn về mặt chất
cũng như lượng, vì thế nhiệm vụ đặt ra là nên phát huy vai trò của kênh tạo lập này để có
thể thực hiện được các mục tiêu cho đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đứng trên góc độ vi mô có thể tạo lập vốn đầu tư thông qua các doanh nghiệp, các cá
nhân và hộ gia đình. Các nhân tố kinh tế này sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh và sẽ trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, tức là tích lũy của nền kinh
tế sẽ tăng lên. Thực tế ngày càng cho thấy vai trò của các nhân tố này ngày càng quan trọng
trong việc tạo lập vốn, các nhân tố này sẽ là điều kiện cơ bản và lâu dài cho việc tạo lập các
nguồn vốn một cách bền vững.
4. Thu hút vốn đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư bao gồm các hoạt động, biện pháp và chính sách nhằm đưa
nguồn vốn từ tích lũy trong nền kinh tế sang đầu tư.
Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, tuy nhiên việc thu hút vốn đầu tư không phải là dễ dàng mà nó còn phụ thuộc vào
một số nhân tố như sau
Thứ nhất:như chúng ta đã biết, đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại
lợi nhuận trong tương lai, việc bỏ vốn của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc nhiều vào môi trường
đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng. Theo nghĩa chung nhất
môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư. Có
nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có
thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm.
Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng kỉ thuật phục vụ cho
sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảng hàng không,
Điều kiện để thu hút vốn đầu tư:
Thứ nhất, tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế.
Xét trong dài hạn, năng lực tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng xác định triển
vọng huy động các nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả. Vấn đề tăng trưởng ở đây được
nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với cả vốn đầu tư trong nước
cũng như nước ngoài. Nó thể hiện nguyên tắc mang tính chủ đạo trong thu hút vốn đầu tư:
Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. Thứ nhất, với
năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia
tăng. Khi đó quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy dộng được cải thiện. Thứ hai,
triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng là tín hiệu tốt thu hút các nguồn vốn đầu
tư nước ngoài.
Thứ hai, đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Đây được coi là điều kiện tiên
quyết cho mọi ý định và hành vi đầu tư. Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi trường kinh tế vĩ
mô, chính trị xã hội và môi trường kinh doanh ổn định. Đối với vốn đầu tư nước ngoài còn
yêu cầu năng lực trả nợ tối thiểu của nước nhận vốn đầu tư
Thứ ba, xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả.
Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô, để có thể huy động
các nguồn vốn cần có các chính sách và giải pháp hợp lý và đồng bộ trên cơ sở tính toán
tổng hợp đảm bảo khuyến khích, định hướng các hoạt động thu hút và cung ứng vốn
Thu hút vốn đầu tư có vai trò như thế nào?
Cũng như tạo lập vốn đầu tư thu hút vốn đầu tư có vai trò quan trọng đến tăng
trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động của nó cũng là gián tiếp, nó không trực tiếp tiến hành đầu
tư mà nó thu hút các nguồn tích lũy trong nền kinh tế tạo thành vốn đầu tư, vốn đầu tư là
yếu tố quan trọng cho việc thực hiện hoạt động đầu tư làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Nếu không có hoạt động thu hút vốn thì nguồn tích lũy trong nền kinh tế không được
đưa vào sử dụng, điều này dẫn đến tình trạng không có nguồn vốn đầu tư tái sản xuất xã hội
và tất yếu là nền kinh tế sẽ không tăng trưởng. Mặt khác nếu không có hoạt động thu hút
vốn thì việc tạo lập vốn đầu tư sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, vì vậy thu hút vốn đầu tư là cơ
sở cho tạo lập và là điều kiện cho sử dụng vốn đầu tư.
Các công cụ thu hút vốn đầu tư
quy mô tăng trưởng cũng có thể gián tiếp đánh giá được chất lượng tăng trưởng của nền
kinh hay hiệu quả sự dụng vốn của một quốc gia.
G = ∆Y/Y = ∆Y/Y * ∆K/K = ∆Y/∆K*∆K/Y
G = 1/ICOR*I/Y
ICOR = I/∆Y
Trong đó G là tốc độ tăng trưởng kinh tế; ∆Y là mức gia tăng sản lượng; Y là quy mô
sản lượng; ∆K là mức gia tăng vốn đầu tư; K là tổng quy mô vốn đầu tư của nền kinh tế
ICOR phản ánh, để tăng thêm một đơn vị sản lượng cần tăng bao nhiêu đơn vị vốn đầu
tư. Tại mỗi quốc gia, trong một giai đoạn nhất định nếu các biến số khác không đổi, ICOR
gia tăng cho thấy: mỗi đơn vị sản lượng đầu ra cần nhiều vốn đầu tư hơn, do đó, hiệu quả
cận biên của một đơn vị vốn đã bị suy giảm. Ở một mức độ nhất định, điều này phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giảm, chất lượng tăng trưởng có xu hướng đi xuống. Tuy nhiên
để đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn qua ICOR cần phải phân tích phối hợp với các chỉ
tiêu khác như: chỉ tiêu TFP, giá thành sản phẩm, …
ii) Phương pháp phân tích năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Để tính chỉ tiêu TFP có thể áp dụng phương pháp do tổ chức năng suất châu Á đưa ra
với công thức có dạng:
I
TFP
= I
Y
- (α.I
K
+ βI
L
)
Trong đó:
I
Y
là tốc độ gia tăng sản lượng
động tích cực đến tăng trưởng:
Sử dụng hợp lý vốn đầu tư là việc sử dụng đúng mục đích, tiến độ và yêu cầu đầu tư,
được xem xét cả trên phương diện doanh nghiệp và nền kinh tế, liên quan đến mọi khâu
trong quá trình đầu tư, từ việc huy động, phân bổ vốn đến việc quản lý sử dụng. Quá trình
sử dụng vốn đầu tư liên quan trực tiếp đến các chính sách tập trung và phân bổ vốntrong
nền kinh tế. Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phần
làm gia tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng
mức độ đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng, do đó, nâng cao được chất
lượng tăng trưởng. Ngược lại, các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực
quản lý yếu kém có thể dẫn đến sự mất cân đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả và
mức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến những tác
động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế, tạo ra chất lượng tăng trưởng không cao. Chẳng
hạn, với chính sách bao cấp trong đầu tư( qua chế độ cấp phát vốn, tín dụng …) một mặt sẽ
tạo ra sự khan hiếm và lãng phí vốntrong một số đối tượng được bao cấp, phân bổ vốn
không hợp lý và dẫn đễ hiệu quả đầu tư không cao.
Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý hoạt động đầu tư của các cấp.
các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế trong nền kinh tế thị trường có tác động
mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực khác và sau cùng tác động đến
chất lượng tăng trưởng kinh tế.
2. Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến năng suất nhân tố tổng hợp và do
đó tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Năng suất nhân tố tổng hợp ( Total Factor Productivity – TFP) là chỉ tiêu phản ánh
kết quả sản xuất do sử dụng hiệu quả nhân tố vốn và lao động( Các nhân tố hữa hình – được
xác định bằng số lượng), do tác động của các yếu tố vô hình như cải tiến quản lý, đổi mới
công nghệ. Hợp lý hóa sản xuất, nâng cao trình độ lao động … Năng suất nhân tố tổng hợp
cho biết mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các yếu tố đầu vào bao gồm yếu tố
vốn đầu tư, lao động và các yếu tố ngoài hai yếu tố này.
Sử dụng vốn đầu tư ( một nhân tố đầu vào) hiệu quả có ảnh hưởng đến mức tăng
giảm của TFP và do đó, đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Tác động của việc sử dụng vốn
đầu tư dến chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp không chỉ gồm tác động trực tiếp mà còn có
định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, phù hợp với mục tiêu đã xác định
của nền kinh tế. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý, hiệu quả theo cách đầu tư trọng tâm trọng điểm
trên cơ sở qui hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng một cơ chế đầu tư hợp lý có tác dụng quan
trọng trong việc chuyển định, đổi mới cơ cấu kinh tế ngành, vùng, đổi mới cơ cấu theo các
thành phần kinh tế, cơ cấu kih tế thành thị nông thôn … đồng thời góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế cao. Nói cách khác, kết quả của hoạt động sử dụng vốn đầu hợp lý là sự thây
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, phát triển toàn diện hơn và theo hướng
CNH, HĐH. Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
4. Tác động của hoạt động sử dụng vốn đầu tư đến khả năng nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế được đánh giá qua năng
lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp và nền kinh tế tạo ra. Sử dụng vốn
đầu tư bất hợp lý, không hiệu quả, công tác qui hoạch, kế hoạch đầu tư còn nhiều yếu kém
dẫn đến chất lượng thấp, giá thành sản phẩm cao và năng lực cạnh tranh thấp. Trên góc độ
đầu tư, để nâng cao năng lực cạnh tranh, một trong các yếu tố then chốt có tính đột phá là
thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn và tăng cường tính cạnh tranh giã các nguồn vốn huy
động. Bản thân các nguồn vốn, một trong những nguồn lực cơ bản cho đầu tư, khi được đặt
trong môi trường cạnh tranh và có cơ chế huy động và phân bổ vốn theo tín hiệu của thị
10
trường thì hiệu quả đầu tư mới được chú trọng đúng mức, do đó chất lượng tăng trưởng mới
được đề cao.
Đặc tính cố hữu của nhiều nền kinh tế đang phát triển là thiếu vốn, thiếu kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, thiết bị và máy móc lạc hậu dẫn đến năng suất, chất lượng thấp và
giá thành cao. Công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư yếu kém, chưa xuất phát từ nhu cầu thị
trường, khả năng dự báo kém … Do hiệu quả và hiệu lực cảu quy hoạch dẫn đến tính kết
nối, sự liên kết giữa các ngành, các dự án trong quá trình sản xuất hạn chế. Sản phẩm sản
xuất ra bị ứ đọng gây lãng phí các nguồn lực xã hội. Nhiều hàng xuất khẩu là nông, lâm,
thủy sản năng lực cạnh tranh yếu do không có chiến lược đầu tư dài hạn … Tất cả đều là
những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh
tế.
luôn phải đối diện với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ, và không phải là đối thủ nào
cũng dễ chơi. Do đó các doanh nghiệp luôn luôn phải làm mới mình tức là phải đầu tư vào
khoa học công nghệ, quy mô nhà xưởng, con người …, vì vậy yêu cầu về vốn là vô cùng
quan trọng đối với các doanh nghiệp, vốn là chìa khóa cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Trong vốn đầu tư, vấn đề tạo lập, thu hút và sử dụng vốn luôn là vấn đề trọng tâm
được nhà nước và các doanh nghiệp rất quan tâm. Giữa tạo lập, thu hút và sử dụng luôn tồn
11
tại mối quan hệ hữa cơ, không một yếu tố nào có thể tách rời với các yếu tố còn lại. Việc
nắm bắt được mối quan hệ giữa chúng là một bài toàn khó, một yêu cầu bức thiết đối với
các nhà kinh tế.
1. Tính thuận chiều trong mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
đầu tư:
Xét trong tiến trình hoạt động và chu chuyển của luồng vốn, giữa việc tạo lập, thu
hút và sử dụng vốn đầu tư luôn có mối quan hệ thuận chiều xuyên suốt.
Quá trình tạo lập vốn tạo nên nguồn tích lũy trong nền kinh tế, đây là nguồn gốc của
vốn đầu tư, muốn có vốn đầu tư thì phải có nguồn tích lũy này. Để nguồn tích lũy này có thể
đưa vào sử dụng thì phải có một công cụ trung gian làm nhiệm vụ đưa tiền từ tích lũy sang
đầu tư, đó chính là hoạt động thu hút vốn, như vậy trong mối quan hệ này tạo lập vốn là
điều kiện tiên quyết cho thu hút vốn và thu hút vốn là cơ sở cho việc sử dụng vốn. Tính
thuận chiều này tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các giai đoạn tạo lập, thu hút và sử sụng
vốn với nhau và đảm bảo tính lưu thông của nguồn vốn đầu tư. Với nguồn vốn tạo lập càng
lớn, trong điều kiện môi trường đầu tư lý tưởng thì việc thu hút nhiều các nguồn vốn sẽ đem
lại hiệu quả cao trong sử dụng vốn. Tuy nhiên giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn lại
thường vấp phải các trở ngại về năng lực đầu tư, môi trường đầu tư, rủi ro tài chính… trong
các hoạt động của nguồn vốn. Điều này đã gây nên xu hướng giảm dần về lượng vốn đầu tư
trong suốt quá trình tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư
Tạo lập là điều kiện tiên quyết cho việc thu hút vốn đầu tư:
Theo lý thuyết thì tạo lập bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra tích
lũy cho nền kinh tế, mà như chúng ta đã biết đối tượng của thu hút vốn đầu tư chính là
nguồn tích lũy của nền kinh tế, thu hút đưa tích lũy trong nền kinh tế sang đầu tư, vì thế tạo
Thu hút vốn đầu tư là cơ sở cho việc sử dụng vốn đầu tư:
Mục đích chính của việc thu hút vốn đầu tư là đưa tiết kiệm trong nền kinh tế sang
đầu tư. Nền kinh tế sử dụng vốn đầu tư để phục vụ trực tiếp cho quá trình tái sản xuất và tái
sản xuất mở rộng của nền kinh tế, nguồn vốn sử dụng này không phải từ nguồn nào khác
mà chính là từ nguồn vốn thu hút, mà nếu nói rõ hơn nếu không có hoạt động thu hút vốn
đầu tư thì sẽ không có việc sử dụng vốn đầu tư và nền kinh tế sẽ không tăng trưởng.
Việc sử dụng vốn đầu tư chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc thu hút vốn đầu tư: những
rủi ro tài chính do sự biến động của thị trường như giá ngoại tệ lên xuống thất thường, đồng
nội tệ mất giá, thị trường bất động sản thay đổi, tình trạng trượt giá phi mã, … khiến cho
lượng vốn thu hút được không như mong đợi dẫn đến việc sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó
khăn trong khâu phân bổ, quản lý và giám sát vốn, và đặc biết là khâu phân bổ vốn, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản đến hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc
gia.
Xét trên tổng thể một quốc gia, việc thu hút được một lượng vốn lớn chưa đảm bảo
được tính hiệu quả trong sử dụng lượng vốn đó. Bởi vì khi đó các vấn đề cơ sở hạ tầng,
nhân lực, thủ tục hành chính và sự đồng bộ của thị trường lại trở thành những thách thức
đối với việc tăng hiệu quả thực tế của việc sử dụng vốn đầu tư. Đồng thời sự lỏng lẻo cũng
như tiêu cực trong công tác quản lý nguồn vốn của nhà nước thương dẫn đến tình trạng thất
thoát, lãng phí vốn gây ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng của đồng vốn bỏ ra cũng như
chất lượng dự án thực hiện.
Đặc biệt là sự chậm trễ trong công tác giải ngân vốn đầu tư cho các dự án. Nguyên
nhân chậm trễ là do bất cập ở nhiều khâu từ vướng mắc về thủ tục, tư vấn của dự án yếu,
khó khăn trong giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu kém, không đảm bảo đủ vốn đối
ứng, thời gian thực hiện các dự án quá dài, năng lực điều hành của các ban quản lý còn
nhiều hạn chế. Xét tầm vi mô, khi vốn thu hút được đầu tư vào các dự án thì các doanh
nghiệp lại thường chậm trễ trong tiến độ thực hiện, công việc giải ngân chậm chạp cùng với
những vướng mắc trong công tác đấu thầu khiến cho hiệu quả của dồng vốn bỏ ra không
cao, tỷ lệ vốn hoạt động có hiệu quả trong tổng nguồn vốn thu hút được thường thấp.
Qua việc phân tích xu hướng trên, ta thấy thu hút hiệu quả nguồn vốn đóng vai trò
đặc biệt trong tạo lập và sủ dụng vốn có hiệu quả. Nó chính là công cụ hữu hiệu để thực
45 nước và định chế tài chính quốc tế đã cam kết với số vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) lên đến 30 tỉ USD và số vốn giải ngân đạt khoảng 16 tỉ USD. Nguồn vốn này được
ưu tiên sử dụng để hỗ trợ phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế và
xóa đói giảm nghèo. Nhiều công trình quan trọng trong nhiều lĩnh vực
Nhờ những kết quả trên mà tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao, năm sau cao hơn năm
trước; cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ
sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp … Cơ cấu đầu tư đã dịch chuyển theo hướng tích
cực, tập trung cho những mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế xã hội; vừa tập trung cho
tăng trưởng kinh tế, vừa quan tâm đến phát triển xã hội và xây dựng cơ sỏ hạ tầng; vừa tập
trung cho vùng động lực, vừa tăng cho vùng nghèo.
Đặc biệt thể hiện ở đời sống nhân dân không ngừng nâng cao: các chỉ tiêu đánh giá mức
sống như chỉ số HDI bao gồm thu nhập bình quân đầu người, các chỉ số về tuổi thẻ sức
khỏe, giáo dục… Và chính việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đã tác động trở lại đối với quá
trình tạo lập và thu hút vốn thể hiện như sau:
Thứ nhất: Sử dụng vốn hiệu quả vừa là mục tiêu vừa là điều kiện để phát triển
và là cơ sở đảm bảo việc gia tăng khả năng tạo lập các nguồn vốn : Việc sử dụng vốn
hiệu quả sẽ góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế, cụ thể ở đây là sự gia tăng về thu nhập quốc
dân, điều này tạo điều kiện cho việc tạo lập vốn dễ dàng hơn và khả năng tích lũy của nền
kinh tế sẽ có khả năng gia tăng.
Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục do sử dụng hiệu đồng vốn thì tổng GDP của xã
hội ngày càng lớn và tỷ lệ dành để tái đầu tư cũng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP
sẽ liên tục tăng trong cao trong các năm. Và khi có tăng tái đầu tư thì lại duy trì tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế và do đó lại tăng khả năng tạo lập vốn.
Trên góc độ vi mô khi mà 1 doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn vốn sản xuất kinh doanh
thì doanh nghiệp đó sẽ không ngừng tăng doanh thu và lợi nhuận. Trước tiên doanh nghiệp
sẽ trích một phần lợi nhận đó vào các quỹ khấu hoa tài sản cố định, một phần để tái sản xuất
mở rộng , như vậy quy mô vốn sản xuất đã tăng. Mặt khác khi các doanh nghiệp làm ăn
hiệu quả thì lượng thuế mà nhà nước thu được lớn hơn từ đó làm tăng nguồn thu ngân sách
nhà nước.
Khi tăng trưởng kinh tế cao sẽ đi kèm là chất lượng cuộc sống không ngừng tăng lên: sẽ có
Đối với nguồn vốn vay ưu đãi, các nước chỉ cho nước nào vay khi nước đó sử dụng
đồng vốn đạt hiệu quả, bởi vì nhu cầu về vốn hiện nay ở các nước đang phát triển là rất lớn.
Không một nước nào cho vay không hay là cho vay mà khả năng trả nợ của nền kinh tế
không được đảm bảo. Bởi thế khi đồng vốn được sử dụng hiệu quả, đồng nghĩa với việc
nền kinh tế đó đang tăng trưởng và hoàn toàn sẽ hoàn trả vốn cho nước đã vay, nước cho
vay cũng thu được nhiều ưu đãi của nước đi vat, khi niềm tin vào khả năng sử dụng vốn thì
các nước sẵn sàng đầu tư hoặc cho nước đó vay tiền, do vậy chúng ta sẽ thu hút được nhiều
hơn các nguồn vốn từ bên ngoài.
PHẦN II : THỰC TRẠNG TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2008.
I. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM NÓI CHUNG:
Trong giai đoạn này, nước ta đã có nhiều thành tích đáng kể trong thu hút và sử dụng
vốn đầu tư. Trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp
đổ, lại xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu song kinh tế Việt Nam vẫn có những
bước đổi mới và phát triển nhanh chóng và phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế khu
vực và toàn cầu. Đặc biệt về lĩnh vực đầu tư, nước ta đã huy động được một lượng vốn cho
tăng trưởng và phát triển đáng kể ở cả hai khu vực trong và ngoài nước. Tuy nhiên có một
điều khiến chúng ta chưa yên tâm là vốn nước ngoài vẫn chiếm một tỷ trọng quá lớn trong
tổng đầu tư xã hội. Điều này có thể gây ra nguy cơ bị lệ thuộc về kinh tế xã hội bởi các
cường quốc tư bản. Chúng ta hãy xem xét sự thay đổi của khu vực cần hút vốn để thấy được
đầu tư của Việt Nam đã phát triển như thế nào trong giai đoạn đổi mới đất nước 1990-2008.
1. Đầu tư trong nước :
15
Kinh tế nước nhà dần trở nên ổn định sau đợt cải cách rất sáng suốt do Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Linh đứng ra tổ chức vào năm 1986. Sau 20 năm đổi mới, Việt Nam đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế – xã hội: kinh tế tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn 2001-2008 GDP
bình quân tăng trưởng gần 7,6%/năm, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bước đầu
được xây dựng, theo đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, nhiều thành phần kinh tế
cùng phát triển. Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được đẩy mạnh. Cơ cấu
ngành kinh tế đã được chuyển dịch đúng hướng, nhất là sản nghiệp 1 và sản nghiệp 2, theo
8793
2
10020
1
106200
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tháng 8/2008 ước tính đạt 8,5 nghìn tỷ
đồng, bằng 8,7% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, bằng 7,8%;
vốn địa phương đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1%. Tính chung 8 tháng đầu năm, vốn đầu tư
từ ngân sách Nhà nước thực hiện được 56 nghìn tỷ đồng, bằng 57,1% kế hoạch năm, trong
đó vốn Trung ương 17,1 nghìn tỷ đồng, bằng 51,7%; vốn địa phương 38,9 nghìn tỷ đồng,
bằng 59,8%.
Trong 8 tháng, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn thực hiện được 1147,1 tỷ đồng, bằng 68,8% kế hoạch năm; Bộ Công thương 154,2 tỷ
đồng, bằng 65,1%; Bộ Y tế 576,2 tỷ đồng, bằng 61,8%; Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch
268,4 tỷ đồng, bằng 60,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 652,7 tỷ đồng, bằng 58,3%; Bộ Giao
thông Vận tải 2967,2 tỷ đồng, bằng 47,2%; Bộ Xây dựng 78,5 tỷ đồng, bằng 22,3%.
Một số địa phương có tiến độ thực hiện nhanh là: Lâm Đồng 745,6 tỷ đồng, bằng 94,6% kế
hoạch năm; Quảng Trị 644,7 tỷ đồng, bằng 83,4%; Yên Bái 478,9 tỷ đồng, bằng 81,8%;
Thái Nguyên 457,5 tỷ đồng, bằng 72% ; Bà Rịa-Vũng Tàu 1413,2 tỷ đồng, bằng 71,3%;
Ninh Thuận 371,8 tỷ đồng, bằng 70,6%; Đà Nẵng 1605,3 tỷ đồng, bằng 66,1%.
1.2. Vốn đầu tư từ doanh nghiệp:
Nhìn chung vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước đã tăng mạnh trong thời gian vừa
qua. Từ năm 1996-2000, con số này là 25391,8 tỷ đồng, đến giai đoạn 2001- 2005, vốn đầu
tư của doanh nghiệp nhà nước rót vào nền kinh tế là 52205,25 tỷ, kế hoạch năm 2006-2010
là 81180,40 tỷ VND.
16
Tuy nhiên tỷ lệ của vốn đầu tư doanh nghiệp nhà nước so với GDP lại có xu hướng
giảm trong các năm tới.
Số liệu năm 2000 là 9.5%, đến năm 2005 còn 9% và dự tính đến năm 2010 chỉ còn
1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước (4,17 tỷ
USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt 18% so dự kiến là
6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước. Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số
1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2
tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp
và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7% trong giai đoạn
1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương
ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn tăng thêm,
vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất 66,8% trong giai đoạn
1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000, đạt 70,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong
2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 72,1% và 80%.
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng
điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn đầu tư nước ngoài: Vùng trọng điểm phía Nam
17
chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ 1996-2000 và 71,5%
trong giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 71% và 65%.
Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7%; 20,4% ; 21,1% ; 24% và 20%.
Tại Việt Nam có trên 70% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được điều tra có kế
hoạch tăng vốn, mở rộng sản xuất HA tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an
tâm của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.
Về quy mô dự án, qua các thời kỳ, quy mô dự án đầu tư nước ngoài có sự biến động
thể hiện khả năng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với
môi trường đầu tư Việt Nam. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án đầu tư nước
ngoài tăng dần qua các giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài
chính khu vực 1997. Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu
USD/dự án/năm. Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệu USD
trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/dự án trong 5 năm 1996-2000. Điều
này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn 1996-2000
ngạch xuất khẩu của cả nước; tính cả dầu thô tỷ lệ này là 56%. Năm 2006 giá trị xuất khẩu
của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt (nếu tính cả dầu thô) đạt 12,6 tỷ USD, chiếm trên
57% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Năm 2007, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn
18
đầu tư nước ngoài đạt 19,7 triệu USD, nếu tính cả dầu thô thì giá trị xuất khẩu là 27,3 tỷ
USD, chiếm 56,8% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo việc làm và thu nhập ổn định cho
một bộ phận dân cư, tính từ 1988 đến cuối 2007 có trên 1,26 triệu lao động trực tiếp, chưa
kể số lao động gián tiếp khác làm việc trong khu vực dịch vụ mà theo kết quả điều tra của
Ngân hàng Thế giới, cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho khoảng từ 2-3 lao động
gián tiếp khác. Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng tăng
lên qua từng giai đoạn, từ 21 vạn người vào cuối năm 1995 đã tăng lên 37,9 vạn người vào
cuối năm 2000, tăng 80% so với 5 năm trước. Đến cuối năm 2005 đã tăng gấp 2,5 lần so
với 5 năm trước thể hiện số lượng các doanh nghiệp đi vào triển khai dự án tăng lên. Trong
2 năm 2006 và 2007 do lượng dự án vào nhiều và triển khai nhanh nên số lượng lao động
trong khu vực đầu tư nước ngoài tính đến cuối 2 năm này đã tăng 9,9% và 12% so với cuối
năm 2005.
II. Thực trạng tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư:
1. Khả năng tạo lập vốn ngày càng được cải thiện tạo điều kiện tốt để thu hút
vốn ngày càng nhiều.
Hiện nay khả năng tạo lập vốn của nền kinh tế nước ta đã được nâng lên rất nhiều.
Trước đây khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp các doanh nghiệp nhà
nước chiếm hết các thành phần kinh tế chủ chốt của nền kinh tế nhưng lại làm ăn không
hiệu quả, luôn xảy ra tình trạng thua lỗ. Chính vì vậy mà nền kinh tế luôn trong tình trạng trì
trệ, không có khả năng tích lũy, đó là chưa kể đến đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
và chính sách cấm tư nhân hóa do đó người dân không có tiền để đầu tư hoạc có tiền nhưng
đó lại là những đồng tiền nhàn rỗi, kết quả của cơ chế quan liêu bao cấp là nền kinh tế
không thể tăng trưởng được bởi vì khả năng tạo lập vốn của nền kinh tế quá kém, tức là
hoạt động sản xuất kinh doanh chưa tạo ra được giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Tuy nhiên khả năng tạo lập vốn của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay có những
nghiệp và thuỷ
sản
Công nghiệp và
xây dựng
Dịch vụ
1990 131968 42003 33221 56744
1991 139634 42917 35783 60934
1992 151782 45869 40359 65554
1993 164043 47373 45454 71216
1994 178534 48968 51540 78026
1995 195567 51319 58550 85698
1996 213833 53577 67016 93240
1997 231264 55895 75474 99895
1998 244596 57866 81764 104966
1999 256272 60895 88047 107330
2000 273666 63717 96913 113036
2001 292535 65618 106986 119931
2002 313247 68352 117125 127770
2003 336242 70827 129399 136016
2004 362435 73917 142621 145897
2005 393031 76888 157867 158276
2006 425373 79722 174259 171392
Sơ bộ
2007 461443 82436 192734 186273
Nguồn : Tổng cục thống kê
2. Khả năng thu hút vốn ngày càng gia tăng:
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển xã
hội và bảo vệ, cải thiện môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng này, nên trong chiến
lược 10 năm cũng như kế hoạch 5 năm, Đảng và nhà nước luôn đưa ra mục tiêu gia tăng
nguồn vốn đầu tư toàn xã hội và coi đó là một trong mười mục tiêu tổng quát nhất.
vốn ODA cho vay lại đạt 5 nghìn tỷ đồng, bằng 55,6% kế hoạch năm, riêng dư nợ bình
quân hỗ trợ xuất khẩu đạt 9,3 nghìn tỷ đồng, bằng 116,2% kế hoạch năm.
Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế: (tính theo giá thực tế, đơn vị : tỷ VND)
Tổng số
Các thành phần kinh tế
Kinh tế nhà
nước
Kinh tế ngoài
nhà nước
Khu vực có
vốn đầu tư
nước ngoài
1995 72447 30447 20000 22000
1996 87394 42894 21800 22700
1997 108370 53570 24500 30300
1998 117134 65034 27800 24300
1999 131171 76958 31542 22671
2000 151183 89417 34594 27172
2001 170496 101973 38512 30011
2002 200145 114738 50612 34795
2003 239246 126558 74388 38300
2004 290927 139831 109754 41342
2005 343135 161635 130398 51102
2006 404712 185102 154006 65604
Sơ bộ 2007 521700 208100 184300 129300
21
Nguồn: Tổng cục thống kê
2.2.1 Nguồn trong nước:
Huy động vốn qua hệ thống ngân hàng :
Trong điều kiện vốn ngân sách nhà nước có hạn, vốn tự có của doanh nghiệp và
của nó, lãi suất của 100% mệnh giá trái phiếu là 7,125%/năm. So với một số nước có mức
độ tín nhiệm tương đương Việt Nam thì lãi suất trái phiếu của Việt Nam thấp hơn. Cụ thể,
lãi suất trái phiếu cùng kỳ hạn của Phi-lip-pin là 8,075%/năm, của In-đô-nê-xi-a là
7,75%/năm. Toàn bộ số vốn phát hành trái phiếu Chính phủ nói trên được Bộ Tài chính để
Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam vay lại đầu tư cho các dự án đóng tàu
2.2.2 Nguồn nước ngoài:
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA(Official Development Assistance)
Nguồn vốn ODA đã bổ sung một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước để đầu tư
phát triển. Những công trình quan trọng được tài trợ bởi ODA đa góp phần cải thiện cơ bản
và phát triển một bước cơ sở hạ tầng kinh tế, trước hết là giao thông vận tải và năng lượng
điện, góp phần khơi dậy nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.Thông qua các dự án ODA, hệ thống
22
đường bộ được phát triển đáng kể từ quốc lộ 1A, 10, 18, 9, đường xuyên Á (đoạn Thành
phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài), các cầu lớn (Mỹ Thuận, Cần Thơ, Thanh Trì, Bính...); nâng
cấp và mở rộng các cảng biển như Cái Lân (Hải Phòng), Sài Gòn, Tiên Sa (Đà Nẵng), xây
dựng cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, phát triển giao thông nông thôn ở hầu hết các
tỉnh...
Nguồn vốn ODA ngày càng đạt được những nấc thang mới : Đến hết năm 2008 bộ
kế hoạch và đầu tư sẽ cố gắng sử dụng các giải pháp giải ngân được 2 triệu USD nguồn vốn
ODA Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch-Đầu tư, giải ngân ODA năm nay (2008) có những cải
thiện nhất định so với các năm trước, trong đó các dự án ngành điện, giao thông, nông
nghiệp và phát triển nông thôn có mức giải ngân tương đối cao.
Với những nỗ lực đồng bộ của các cơ quan chính phủ, địa phương và nhà tài trợ,
lượng vốn ODA giải ngân trong nửa đầu năm đã đạt 1,1 tỷ USD, bằng 58% kế hoạch năm.
Tuy nhiên, Bộ cũng thừa nhận con số này ở một số dự án trong lĩnh vực phát triển đô thị, y
tế, giáo dục, tài chính, ngân hàng chưa đạt mức đề ra.
Các dự án ODA thời gian này tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng với
trên 22%, tiếp đến là Đông Nam Bộ gần 21%, Bắc Trung Bộ khoảng 16% và Đồng bằng
Cửu Long trên 13%.
FDI góp phần vào mức độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua ở mức độ cao (từ
2002-2004: trên 7,0%, 2005: 8,44%, 2006: 8,17%, 2007: 8,48%); góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (từ năm 2005 đến
nay, công nghiệp, xây dựng chiếm trên 41% GDP, riêng 2007: 41,61% GDP), chuyển giao
công nghệ tạo nên nhiều sản phẩm mới có chất lượng, có hàm lượng công nghệ cao, trong
đó có các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; góp phần nhanh chóng
phát triển các vùng kinh tế trọng điểm kéo theo các vùng phụ cận; góp phần thúc đẩy các
doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp không có FDI) nâng cao khả năng quản trị kinh
doanh, khả năng cạnh tranh; góp phần nâng cao khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả lao
động, vốn, tài nguyên,...
Với 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, FDI là cầu nối quan trọng
giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới ( không chỉ về kinh tế tiếp cận và mở rộng thị
trường, mà còn về phát triển du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế,...); nói cách khác FDI góp phần
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế và các lĩnh vực khác trong
khu vực và thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay thu hút FDI cũng đạt được một số thành tựu đáng kể
25