Bộ khoa học và công nghệ Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nớc
"Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số
loại máy gieo, máy cấy phù hợp với kỹ
thuật canh tác lúa ở Việt nam"
Mã số: KC-07-25
Thuộc chơng trình :
"Chơng trình Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn"
Mã số: KC-07
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Cơ điện NN & Công nghệ sth
Địa chỉ: Số 54 Ngõ 102, đờng Trờng Chinh, Đống Đa, Hà Nội
Cá nhân chủ trì đề tài: TS. Lê Sỹ Hùng
6433
20/7/2007
ngầm để lúa phát triển kịp thời vụ (mầm lúa vẫn có thể phát triển trong nớc, tuy nhiên rất
chậm). Việc gieo lúa trên đất khô hiện không còn tồn tại ở miền Nam.
Khác với gieo thẳng, khâu cấy lúa ở miền Bắc đợc chia làm hai công đoạn là gieo mạ và
cấy. Mạ đợc gieo và nuôi dỡng ở ruộng ngoài đồng (gọi là mạ dợc). Khi 5ữ6 lá thì mạ
2
đợc nhổ lên, làm sạch đất khỏi rễ rồi đem cấy trên ruộng nớc đã cày bừa kỹ. Hiện nay tất cả
các công việc từ làm mạ đến cấy còn hoàn toàn làm bằng tay. Công việc vừa nặng nhọc vừa
tốn nhiều công. Nhổ mạ và cấy chiếm khoảng 30-35 công/ha. Thời vụ cấy ở cả 2 vụ đều rơi
vào lúc thời tiết khắc nghiệt, vụ lúa mùa thì cấy vào lúc trời oi nóng nhất, vụ lúa xuân thì cấy
vào lúc trời rét và ma phùn.
Đề tài KC-07-25 "Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số loại máy gieo, máy cấy phù
hợp với kỹ thuật canh tác lúa ở Việt Nam" đặt ra nhằm giải quyết yêu cầu cấp thiết nêu
trên với các mục tiêu cụ thể và cũng là các sản phẩm chính của đề tài gồm :
- Xây dựng quy trình cơ giới hoá canh tác phù hợp với quy trình công nghệ gieo hạt
thành hàng, thành khóm cho vùng đồng bằng sông Cửu Long và quy trình công nghệ sản
xuất mạ thảm và máy cấy cho đồng bằng sông Hồng;
- Thiết kế, chế tạo và ứng dụng vào sản xuất máy gieo lúa thành hàng;
- Thiết kế, chế tạo và ứng dụng vào sản xuất máy gieo lúa thành khóm;
- Thiết kế, chế tạo và ứng dụng vào sản xuất máy cấy lúa mạ thảm.
Trên cơ sở các mục tiêu đặt ra, đề tài đã triển khai thành 3 đề mục thực hiện trong
thời gian 20 tháng.
Đề mục 1
: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy gieo lúa thành hàng phù hợp với kỹ
thuật canh tác lúa ở Việt Nam.
Đơn vị thực hiện: Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long.
Thời gian: từ 1/2004 đến 10/2005.
Đề mục 2
: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy gieo lúa thành khóm phù hợp với kỹ
thuật canh tác lúa ở Việt Nam .
4
PhÇn I
Tæng quan t×nh h×nh, néi dung vµ
ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu
5
Chơng I
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
và trong nớc
1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế gới và Việt Nam
năm 2004. Các nớc sản xuất lúa gạo nhiều nhất ở Châu á gồm có 8 nớc là ấn Độ,
Trung Quốc, Inđônesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản, Mianmar. Trong đó ở
khu vực ASEAN có tập quán sản xuất từ lâu đời với diện tích trồng lúa nớc là 42,743
triệu ha, chiếm tỷ lệ 26,4% so với toàn thế giới và 29,8% so với châu á . Tình hình sản
xuất lúa năm 1995 và 2004 ở khu vực ASEAN thể hiện ở bảng 1.2.
6
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất lúa khu vực ASEAN
1995 2004
Các nớc
ASEAN
Diện tích
(nghìn
ha)
Năng
suất
(tấn/ha)
Sản
lợng (nghìn
tấn)
Diện tích
(nghìn ha)
Năng
suất
2127
17978
10021
22053
24966
2300
11753
820
670
6000
4000
9800
7400
2.5
4.52
3.29
3.26
3.83
3.55
2,57
4.80
4715
53123
2698
2184
22980
14200
25186
35520
Tổng 40267 131.765 42.743 160.606
Sản lợng lúa ở Việt Nam những năm gần đây đợc thể hiện trong bảng 1.4
Bảng 1.4 Sản lợng lúa cả năm (nghìn tấn):
Năm Tổng Lúa đông xuân Lúa hè thu Lúa mùa
1999 31.393,8 14.103,0 8.758,3 8.532,5
2000 32.529,5 15.571,2 8.625,0 8.333,3
2001 32.108,4 15.474,4 8.328,4 8.305,6
2002 34.447,2 16.719,6 9.188,7 8.538,9
2003 34.518,6 16.822,9 9.390,0 8.305,7
1.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng máy gieo lúa trên thế giới và VN
1.2.1. Tình hình cơ giới hoá khâu gieo lúa trên thế giới
ở các nớc Châu Âu, Châu Mỹ, Châu úc lúa mì là chính, lúa nớc chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
(khoảng 2%) và đợc canh tác chỉ bằng gieo thẳng trên đất khô, sau khi lúa mọc mới cho nớc
vào, ở đây do trình độ thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá cao cho nên thích hợp cho việc gieo
thẳng, với mức cơ giới hoá toàn bộ diện tích từ lâu, hoặc đợc gieo vãi bằng máy bay (ở Mỹ) hoặc
đợc gieo thành hàng bằng máy gieo do máy kéo lớn kéo(ở Nga, ý). ở Trung Quốc, phần diện
tích lúa gieo thẳng khô (chủ yếu là ở miền Bắc) đã đợc cơ giới hoá gần toàn bộ diện tích, họ
dùng nguyên mẫu máy gieo lúa mì ở ngay địa phơng với cơ cấu gieo hạt kiểu trục cuốn để gieo
thẳng lúa khô. Còn gieo thẳng lúa đất ớt thì dùng cả công cụ kéo tay và máy chạy động cơ với
đa dạng nhiều kiểu. Tốc độ cơ giới hoá gieo thẳng ở Trung Quốc tăng rất nhanh, trong 8 năm từ
1991 1998 đã tăng 160%, trong khi đó tốc độ cơ giới hoá khâu cấy chỉ tăng 76%. Thái Lan, ấn
Độ, Philipin và nhiều nớc khác đã dùng máy gieo thẳng lúa đất ớt chạy động cơ. ở một số nớc
Châu á nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hiện nay đã phát minh ra máy cấy và dây truyền sản
xuất mạ thảm, nên đã đi theo con đờng cấy mạ thảm, ở Trung Quốc bớc đầu từ bỏ con đờng
cơ giới hoá cấy mạ dợc và đi theo con đờng cấy mạ thảm.
8
- ở nam á, đặc biệt là Xri-lan-ca, gieo thẳng chiếm phần lớn diện tích, góp phần tăng
nhanh sản lợng thu hoạch. Gieo thẳng trên ruộng chủ động tới tiêu, thuận ma hay không
thuận ma cũng đều cho kết quả tốt. Những yêu cầu kĩ thuật nông học để đảm bảo gieo thẳng
cũng đang đợc nghiên cứu trong các chơng trình của quốc gia và quốc tế. Nhiều giống lúa
Trong những năm 1971, một số hợp tác xã đã thực hiện gieo vãi lúa trên diện tích rộng và
đạt kết quả nh sau:
Huyện Mỹ Đức (Hà Sơn Bình) vụ xuân năm 1973 đã thực hiện 2.700 mẫu (trên
800 ha) lúa gieo vãi đạt trung bình gần 30 tạ/ha. Huyện Văn Lâm (Hải Hng) gieo vãi
9
3.500 mẫu (trên 1000 ha) đạt năng suất bình quân 27 tạ/ha. Các huyện Kim Động, Phù
Cừ, Cẩm Giàng (Hải Hng) cũng đã thực hiện gieo vãi lúa có kết quả. Huyện Yên Khánh
(Hà Nam Ninh) từ mấy năm nay đã có kinh nghiệm gieo thẳng lúa trên diện tích rộng; có
hợp tác xã thực hiện tới 100% diện tích. Các tỉnh Nghệ An và Quảng Bình cũng thực hiện
gieo vãi lúa trên nhiều diện tích và đạt kết quả tốt. Riêng hợp tác xã Đại Phong (Quảng
Bình) đã gieo 50 ha giống Nông nghiệp 8 đạt năng suất bình quân trên 30 tạ/ha. Nông
trờng Tam Đảo, nông trờng Thành Tô và nhiều nông trờng khác cũng đã có nhiều kinh
nghiệm gieo thẳng lúa theo hình thức gieo khô hoặc gieo ở ruộng nớc, kết hợp cơ giới
hoá, chỉ đầu t khoảng 60 70 công/ha, năng suất đạt bình quân 30 tạ/ha, có năm cao hơn
trong vụ mùa.
ở đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền Trung chủ yếu là gieo thẳng trên
diện tích lớn, diện tích lúa sạ lan ở miền Nam khoảng 4,5 triệu ha.
Cho đến nay nớc ta cũng cha nhập một kiểu máy gieo lúa nớc chạy động cơ nào
từ nớc ngoài.
Viện Cơ Điện NN từ nhiều năm nay đã nghiên cứu công cụ và máy gieo thẳng lúa
cho cả hai miền Bắc vàNam. Điển hình là: Đã thiết kế chế tạo công cụ gieo lúa xuân kéo
tay với mã hiệu VNN-67 (Viện NN năm 1967), gieo hạt có mầm thành từng khóm nh
cấy lúa, Công cụ đơn giản rẻ tiền (hầu hết bằng gỗ) chất lợng gieo tốt, đợc nông dân
hoan nghêng, đã phổ biến rộng trong một số tỉnh miền Bắc, phục vụ phong trào gieo lúa
thẳng những năm 1967-1970. Nhng sau đõ không đợc dùng nữa vì lúa xuân không gieo
thẳng nữa chuyển toàn bộ sang cấy. Sau ngày giải phóng miền Nam, những năm 78-82,
Viện cơ điện đã thiết kế chế tạo đa vào thử nghiệm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (nông
trờng Mỹ Lâm và Vĩnh Điền, tỉnh Kiên Giang) máy sạ lúa trên đất khô XL-10, kiểu đĩa
ly tâm, treo sau máy bơm lớn (MT3.Styer) với bề rộng 10m và máy gieo lúa thành hàng
1.3. Các phơng pháp gieo lúa ở Việt Nam
1.3.1. Gieo vi ( gieo sạ)
Hình thức sạ là hạt giống đợc sạ trên mặt ruộng bùn nhuyễn. Hạt chìm vào trong
đất bùn nhờ vào trọng lợng của hạt rơi tự do xuống mặt bùn. Do trọng lợng hạt giống
nhỏ nên khả năng đợc vùi lấp là rất khó kiểm soát. Hơn nữa hạt giống lúa nớc đã đợc
ngâm để nẩy mầm đã có rễ, do đó lại càng khó chìm sâu trong bùn. Sạ không hàng lối rất
khó kiểm soát khoảng cách giữa các hạt và hoàn toàn chỉ áng chừng khi ngời đi sạ ném
các hạt giống xuống mặt ruộng, do đó chất lợng sạ kém, mật độ phân bố hạt không đều,
chỗ quá dày, chỗ quá tha, làm cho lúa phát triển không đồng đều, năng suất lúa không
cao. Hơn nữa lúa mọc không thành hàng nên không thể diệt cỏ bằng nông cụ mà phải
dùng hoá chất gây ô nhiễm môi trờng. Hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long phổ biến là
theo hình thức gieo vãi bằng tay (sạ lan), công việc rất nặng nhọc, năng suất thấp, Chất
lợng sạ kém, phụ thuộc nhiều vào độ thuần thục của mỗi ngời. ở các nớc phát triển
không dùng hình thức gieo vãi cho các loại cây trồng chính mà chỉ dùng gieo cỏ trên
những cánh đồng không bằng phẳng.
1.3.2. Gieo hàng
Gieo hàng là cách đặt hạt giống thành hàng dọc (hàng sông) với khoảng cách nhất
định. Khi gieo hàng, ngời ta dễ dàng kiểm soát đợc lợng hạt giống phải gieo. Thí
nghiệm của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long so sánh giữa lúa gieo hàng và lúa sạ lan
đã khẳng định sự u việt hơn hẳn của lúa gieo hàng, mật độ hạt gieo phân bố đều, không
khí thông thoáng tốt, tiếp thu ánh sáng tốt làm cho cây lúa phát triển tốt nên năng suất lúa
tăng (15-20%) tiết kiệm giống (40%), diệt cỏ dễ hơn, do đó hình thức này đang đợc ứng
dụng rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh miền Trung. 11
1.3.3. Gieo hốc
Là hình thức gieo mà cây lúa mọc thành khóm nh lúa cấy, mật độ hạt phân bố
đều, không khí thông thoáng tốt, tiếp thu ánh sáng tốt hơn so với gieo hàng và gieo vãi,
tạo điều kiện cho cây lúa đẻ nhánh. Ta đã biết cây lúa là cây a ánh sáng, cờng độ ánh
1.4.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng máy cấy lúa trên thế giới
1. Tình hình sản xuất mạ khay và cấy máy tại Nhật Bản
Nhật Bản là nớc đầu tiên trên thế giới nghiên cứu một phơng pháp làm mạ thảm
hoàn toàn khác hẳn với phơng pháp làm mạ dợc cổ truyền và rất phù hợp cho máy cấy
12
có năng suất cao, chất lợng cấy tốt, có thể áp dụng cơ giới hoá toàn bộ cho quá trình từ
làm mạ đến máy cấy và đã thành công.
Quá trình sản xuất mạ thảm của Nhật Bản là: Dùng đất bột khô trộn với nớc phân
dải lên khay nhựa sau đó gieo thóc giống đã nứt nanh với mật độ rất dày, tới nớc sau đó
phủ một lớp đất mỏng. Xếp các khay trồng lên nhau trong nhà ẩm từ 2ữ3 ngày. Khi mạ
mọc nh mũi chông thì mang mạ ra ruộng nuôi mạ. Hàng ngày tới nớc và phòng trừ sâu
bệnh. Khi mạ đã đạt đợc nh yêu cầu nông học thì mang mạ ra ruộng để cấy mà không
cần phải nhổ mạ. Có thể sản xuất mạ non 2,5ữ2,7 lá, mạ trung (từ 3ữ4 lá) để thích hợp với
từng vùng ruộng đất khác nhau bằng cách thay đổi mật độ gieo và thời gian nuôi mạ.
Vì mạ khay gieo dày nên tiết kiệm đợc diện tích gieo mạ, tiết kiệm giống tiết kiệm
công chăm sóc vì mạ non khi cấy có bầu đất nên không mất thời gian phục hồi, cây phát
triển nhanh và khoẻ, đẻ nhánh nhiều.
* Quá trình phát triển máy cấy lúa tại Nhật Bản.
Nhật Bản là nớc có nền kinh tế phát triển, là nớc tiên phong trong lĩnh vực nghiên
cứu phát triển máy cấy, là nớc đầu tiên trên thế giới phát minh ra máy cấy. Ngay từ
những năm cuối của thế kỷ XVIII Nhật Bản đã nghiên cứu và chế tạo thành công những
chiếc máy cấy đầu tiên và đến năm 1960 con số đó đã lên đến hơm 300 máy. Đó là thời
điểm xuất phát sớm nhất của máy cấy Nhật Bản.
Trớc đây do phơng thức canh tác cổ truyền từ bao đời nay là mạ dợc nên Nhật
Bản cũng đã mất nhiều thời gian và công sức vào nghiên cứu và phát triển cơ giới hoá việc
nhổ mạ dợc và cấy mạ dợc. Máy cấy mạ dợc thơng phẩm hoá sớm nhất vào năm
1964, tiếp sau các máy rửa sạch rễ mạ, máy nhổ mạ cũng suất hiện trên thị trờng. Nhng
máy cấy mạ dợc không nâng cao năng suất lao động nên đến năm 1970 Nhật Bản đã
ngừng sản xuất loại máy này.
Chi phí cấy lúa ( giờ/ha) 118 64 44 38
Máy cấy mạ thảm Nhật Bản là loại máy cấy chuyên dùng; gọn nhẹ; vật liệu sử dụng
cho máy cấy chủ yếu là plastic và hợp kim nhôm đúc áp lực cao nên công nghệ chế tạo
máy cấy cũng đòi hỏi công nghệ cao .
Máy cấy lúa mạ thảm có nhiều loại: 2 hàng, 4 hàng ngời lái lội ruộng; máy 4 hàng ,
6 hàng, 8 hàng ngời ngồi lái. Xu hớng máy cấy 2 hàng ngày càng giảm và máy cấy 6, 8
hàng ngày càng tăng; máy cấy mạ non và máy cấy mạ trung. Máy cấy mạ thảm bắt đầu
nghiên cứu từ năm 1960 thì 15 năm sau đếm năm 1986 đã đợc nông dân chấp nhận rộng
rãi, hơn một triệu cái, cơ giới hoá làm mạ và cấy máy đã đạt 80% tổng diện tích lúa. Sau
đó số lợng máy cấy tiếp tục tăng để hoàn thành cơ giới hoá làm mạ non và cấy lúa vào
năm 1990.
14
mạ băng giảm công tiếp mạ.
2. Tình hình cơ giới hoá sản xuất mạ và cấy lúa ở Hàn Quốc
Lúa là cây trồng chính của Hàn Quốc, lúa nớc chiếm tỉ lệ diện tích cũng nh thu
nhập lớn trong các loại cây trồng, nó đợc trồng hầu hết ở các vùng. Hàn Quốc có 1,16
triệu ha trồng lúa (chiếm 60% diện tích đất nông nghiệp) các trang trại của Hàn Quốc
thuộc loại trang trại nhỏ, các trạng trại có diện tích trên dới 1 ha chiếm 60ữ70%. Lao
động nông nghiệp là 2,2 triệu ngời (chiếm 10,5%) và 1,44 triệu hộ nông nghiệp, trong
đó 89% lao động thuần tuý và 41% bán nông nghiệp.
Hàn Quốc là nớc có điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi cho việc sản xuất lúa nớc, cho
năng suất rất cao. Ruộng cấy lúa của Hàn Quốc đợc chuẩn bị rất kỹ trớc khi cấy.
Hàn Quốc là nớc có tốc độ phát triển kinh tế rất mạnh nên có điều kiện để phát
triển cơ giới hoá nhanh. học tập công nghệ của Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã hoàn thành
cơ giới hoá sản xuất mạ và cấy lúa vào những năm 80 (sau Nhật Bản khoảng 10 năm).
Năm 1998 Hàn Quốc có 375 nghìn máy cấy lúa và cơ giới hoá 98% diện tích . Đến nay,
Hàn Quốc cũng đã đang áp dụng công nghệ cao trong sản xuất mạ cấy và cấy lúa nhằm
tăng năng suất lao động, tăng năng suất lúa.
Đầu những năm 1970 sau khi khảo nghiệm và đánh giá mức độ phù hợp cơ giới hoá
làm mạ và cấy lúa của Nhật Bản trong điều kiện nông nghiệp Hàn Quốc. Các Công ty máy
cấy đã nhanh chóng chế tạo dây chuyền tự động hoá sản xuất mạ và máy cấy phù hợp với
điều kiện của Hàn Quốc và phổ biến nhanh trong sản xuất. Hiện nay có 5 Công ty chế tạo
máy cấy, hàng năm chế tạo 40.000 máy cấy và hàng chục nghìn liên hợp sản xuất mạ
khay. Máy cấy của Hàn Quốc chủ yếu là máy cấy 4 hàng ngời lội ruộng và 6 hàng ngời
ngồi lái và công nghệ chế tạo máy cấy cũng không khác nhiều của Nhật Bản.
Bảng 1.8: Số lợng máy cấy và diện tích cấy máy hàng năm ở Hàn Quốc
Năm 1977 1980 1985 1990 1996
Số lợng máy cấy
121 11061 42138 138405 271051
Diện tích cấy máy
ruộng
30
11,8; 13,1; 14,7 93; 84; 75
PA 600D-P 6 hàng ngồi
lái
30
11,3; 12,8; 14,6 97; 86; 76
Kukie
LT-4F-D2S 4 hàng, lội
ruộng
30 10,8; 11,3; 13,2;
13,9
99; 94; 81; 77
RP-600N 6 hàng ngồi
lái
30 12,3; 13,1; 13,6;
14,5
99; 84; 81; 76
LG
GP 401A 4 hàng, lội
ruộng
30 10; 12; 14 110; 92; 79
GPR 680P 6 hàng ngồi
lái
30 11; 12,8; 14,6 100; 86; 75
ASIA
Năm
Số TT sản
xuất mạ
Số Hộ nông dân
đợc cung cấp mạ
Diện tích lúa cấy
đợc (ha)
Tỉ lệ (%)
1973 7
1974 23
3.486
4.233 0,4
1975 45 8.237
9.885
2,0
1976 83 17.162 20.115 4,0
1977 227
46.498
50.609 11,0
1978 352 67.880 76.597 17,0
1979 447 72.190 81.311 18,0
1980 549 12.430 113.406 25,0
1981 673 149.000 169.546 37,0
1982 842 234.600 215.500 47,0
1983 972 297.500 282.250 62,0
1984 1.082 307.191 295.392 64,0
1985 1225 322.265 299.839 65,0
1986 1145 315.432 311.524 68,0
Nhờ có các Trung tâm sản xuất mạ, các chủ trang trại cỡ lớn không còn bận tâm đến
khâu sản xuất mạ, lo lắng về thời tiết giá rét. Còn với các hộ nông dân cỡ nhỏ thì có thêm
ngời ngồi lái. Máy cấy đã đợc phổ biến rộng rãi trong những năm 80. Năm 1994 Đài
Loan có 80.830 máy cấy và đã cơ giới hoá hầu hết 98% diện tích cấy lúa. Máy cấy của
Đài Loan chủ yếu nhập của Nhật Bản và một số sản xuất trong nớc. Mức độ phát triển
máy cấy tăng hàng năm từ 2ữ5 nghìn chiếc
Bảng 7: Số lợng máy cấy hàng năm của Đài Loan
Lợng máy cấy tăng hàng năm
Năm
Nhập khẩu Sản xuất tại Đài Loan Tổng
Số lợng máy cấy
tính đến nay
1982 1472 4100 5572
1983 25 4847 4872 45605
1984 171 3746 3917 50477
1985 143 3446 3583 5439457977
1986 375 3058 3433 61410
1987 567 2233 2800 64210
1988 382 1894 2276 66486
1988 1040 1650 2290 69176
1990 1237 1803 3040 72216
1991 791 726 1523 73739
1992 2286 825 2678 79048
1993 1345 437 1782 80830
4. Tình hình sản xuất mạ thảm, máy cấy ở Trung Quốc
Lúa là cây lơng thực chính của Trung Quốc. Năm 2004 tổng diện tích trồng lúa của
Trung Quốc là 29,4 triệu ha ( đứng hàng thứ 2 thế giới) và sản lợng lúa là hơn 200 triệu
tấn ( đứng hàng đầu thế giới) và đợc trồng hầu hết ở các tỉnh từ phía Bắc xuống phía
Nam.
19
khay.
b. Tình hình cơ giới hoá cấy lúa ở từng vùng của Trung Quốc.
Trung Quốc là nớc đang phát triển cơ giới hoá cấy lúa, đến nay Trung Quốc đã cơ
giới hoá cấy lúa hơn 1 triệu ha và chiếm hơn 3% tổng diện tích trồng lúa và có trên
900.000 máy cấy lúa.
Các tỉnh phía bắc chỉ cấy một sụ lúa một năm do rét đậm về mùa đông, nên thời kỳ
làm mạ và cấy lúa vào tháng 5 và tháng 6 khi nhiệt độ ẩm và nóng nên làm mạ rất dễ
20
dàng, mặt khác ở đây ruộng rộng và ngời ít, bình quân 1,5ữ4,5 ha/1hộ nên rất thuận tiện
cho việc cơ giới hoá cấy lúa. Tuy các tỉnh phía bắc chỉ chiếm 10% tổng diện tích trồng lúa
của Trung Quốc nên tỉ lệ cơ giới hoá cấy lúa lại rất cao nh tỉnh Cát lâm làm tỉ lệ cấy máy
là: 32,8% , tỉnh Nội Mông tỉ lệ cấy máy là 34,8%
Các tỉnh ở phía nam là vựa lúa chính của Trung Quốc có thể trồng lúa đợc 2 vụ do
mùa đông ít rét hơn nhng ruộng đất ở đây ít và manh mún bình quân 0,5ữ1 ha/ 1 hộ và
mật độ dân c ở đây đông cơ giới hoá cấy lúa còn thấp, bình quân diện tích nh tỉnh
Giang Tô tỉ lệ cấy máy là 0,65%, tỉnh triết Giang 0,18%, tỉnh An Khánh 0,73%, tỉnh Hồ
Nam 0,36 %, tỉnh Quảng Tây 0,1 %. Còn nhiều tỉnh có diện tích lớn nhng vẫn cha áp
dụng cơ giới hoá khâu cấy nh tỉnh Quảng Đông, tỉnh Tứ Xuyên, tỉnh Hà Nam, tỉnh Trùng
Khánh.
c. Tình hình nghiên cứu, chế tạo máy cấy của Trung Quốc.
Trung Quốc là nớc nghiên cứu máy cấy từ rất sớm từ những năm 50 nhng chỉ
nghiên cứu chế tạo máy cấy mạ dợc, điển hình là máy cấy mạ dợc Đông Fong 10 hàng
trong những năm 60, 70 nhng không phát triển đợc, chất lợng cấy cha tốt, năng suất
cấy thấp và vẫn phải tốn công nhổ mạ. Sau đó Trung Quốc cũng nghiên cứu và chế tạo
máy cấy mạ thảm theo công nghệ của Nhật Bản và đến năm 1982 Trung Quốc đã chọn
đợc mẫu máy cấy mạ thảm riêng của mình . Máy cấy lúa 6 hàng 2TZ-9356 và máy cấy
lúa 8 hàng 2 ZT-7358 của Trung Quốc là loại máy cấy lúa đơn giản hơn nhiều so với máy
cấy lúa của Nhật Bản trên cơ sở kết hợp phần di động đơn giản của máy cấy mạ dợc đông
fong của Trung Quốc với phần cấy dùng theo kiểu cơ cấu 4 khâu của Nhật Bản, nên máy
5. Tình hình sản xuất mạ khay và cấy máy tại các nớc khác ở châu á:
Các nớc khác ở châu á nh ấn độ, Thái Lan, Philipphin, Nepan.v v cũng đã đầu
t vào nghiên cứu thử nghiệm thiết kế chế tạo mẫu máy cấy thủ công và máy cấy có động
cơ của các nớc tiên tiến nhng đến nay vẫn cha có nớc nào phát triển đợc vẫn đang
trong giai đoạn thăm dò.
Nhận xét:
Cho đến nay ba nớc Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc đã giải quyết xong cơ giới hoá
sản xuất mạ thảm và máy cấy đồng bộ. Trung Quốc đang phát triển với tốc độ chậm hơn.
- Các nớc này có các Trung tâm sản xuất mạ thảm áp dụng cơ giới hoá đồng bộ từ
gieo mạ, làm đất cho đến chăm sóc, vận chuyển. Ngoài ra còn sản xuất mạ thảm theo quy
mô nhỏ có tính chất gia đình ở những trang trại trồng lúa lớn giảm chi phí vận chuyển và
tận dụng sức lao động tại chỗ
- Các thiết bị làm mạ thì có nhiều hình thức khác nhau: Có thể là công cụ và máy
nhỏ lẻ cho đến thiết bị đồng bộ quy mô năng suất cao và tiện lợi cho ngời sử dụng.
- Kỹ thuật làm mạ: Đã làm mạ đạt đợc chất lợng cao với nhiều kiểu mạ: mạ non và
mạ trung bình
- Máy cấy: Có nhiều loại máy cấy theo hàng: 2 hàng, 4 hàng, 6 hàng, 8 hàng, và có
loại máy cấy ngời lái lội ruộng và loại ngời lái ngồi trên máy lái. Máy cấy do các Công
ty chế tạo máy cấy chế tạo với công suất hàng nghìn máy cấy hàng năm và công nghệ chế
tạo máy cao, chất lợng máy cấy tốt và liên tục đợc cải tiến để ngày càng hoàn thiện hơn.
22
*Tóm lại:
- Máy cấy mạ thảm là máy cấy tiên tiến hiện nay cho năng suất cao và chất lợng
tốt.
- Công nghệ sản xuất mạ thảm hoàn toàn khác với công nghệ sản xuất mạ dợc cổ
truyền, dễ cơ giới hoá nhng yêu cầu kỹ thuật làm mạ cao, chi phí đầu t ban đầu lớn.
- Để chất lợng cấy máy tốt, yêu cầu đòi hỏi phải giải quyết tốt đồng bộ nhiều khâu
từ quy hoạch đồng ruộng, làm nhuyễn phẳng đất, tới tiêu phải chủ động, đặc biệt làm mạ
cho máy cấy phải thật tốt
Chất lợng cấy bằng máy cấy mạ thảm tốt, ít bị bỏ sót mạ, cây ít bị dập nát, mạ cấy có
23
bầu đất và mạ non 2ữ3 lá nên mạ không bị tổn thơng sau khi cấy , phát triển nhanh, đẻ
nhánh khoẻ và cho năng suất lúa tăng.
Năm 1979 Viện đã nghiên cứu cải tiến phơng pháp sản xuất mạ thảm của Nhật gieo
mạ vào các khung gỗ và lót đáy bằng ni lông, thiết kế chế tạo hệ công cụ gieo phủ đất vào
khung gỗ, công cụ gieo mộng mạ phủ đều hơn gieo tay và cho năng suất cao. Hệ thống
công cụ và phơng pháp làm mạ cải tiến này đơn giản, gía thành rẻ phục vụ cho máy cấy
mạ thảm. Cũng trong năm 1979 Viện cũng đã thiết kế cải tiến một mẫu máy cấy lúa 8
hàng MC-8 trên cơ sở ghép phần di động đơn giản của máy cấy mạ đợc Đông Fong
Trung Quốc với bộ phận của máy cấy mạ thảm của máy cấy 4 hàng YP-40 của Nhật Bản,
máy này có kết cấu đơn giản hơn máy Nhật Bản, chất lợng cấy tốt và đã tăng đợc mật
độ cấy lúa tới 40 khóm/m
2
cho phù hợp với mật độ cấy của nớc ta. Máy cấy MC-8 đã
đợc thử nghiệm và cấy thử nhiêu vụ, mỗi vụ vài ha ở Viện cây lơng thực và thực phẩm-
Hải Dơng. Đây cũng là đề tài mang tính chất thăm dò ban đầu để tạo ra mẫu máy và xem
xét khả năng ứng dụng của phơng pháp cấy mạ bằng công nghệ sản xuất mạ thảm mới.
Mục tiêu nhằm phổ biến cơ giới hoá đồng bộ tất cả các khâu sản xuất lúa nớc của Nhật
Bản ở Việt Nam. Phối hợp với Bộ nông nghiệp & PTNT và VIện Cơ điện nông nghiệp và
công nghệ sau thu hoạch, ba Công ty sản xuất máy nông nghiệp của Nhật Bản KUBOTA,
MEIWA, MTTSHUBíHI, đã xây dựng 1 mô hình trình diễn cơ giới hoásản xuất lúa từ
năm 1991ữ1993 tại Mỹ Văn- Hải Dơng. áp dụng cơ giới hoá 100% các khâu bằng cơ
giới hoá từ khâu làm đất đến thu hoạch, làm sạch trên cánh đồng ruộng đợc quy hoạch
lại 4ha, trong đó có một hệ thống thiết bị đồng bộ sản xuất mạ khay và chống rét cho mạ
khay, máy cấy lúa. Hầu hết các máy móc thiết bị vật t, kỹ thuật phục vụ cho mô hình
này nh phân bón, giống, thuốc bảo vệ thực vật đợc đa từ Nhật sang.
Kết quả 3 năm thí nghiệm trình diễn cho thấy: Hệ thống máy móc và thiết bị phát huy
đợc hiệu quả , chất lợng làm việc tốt, năng suất máy cao, năng suất lúa các vụ đều tăng
Số
TT
Công việc
Cho 1 sào Bắc bộ
(giờ công)
Cho 1 ha ruộng
(giờ công)
Tỉ lệ % cho toàn
bộ công việc
I Năng suất cấy máy 0.27 7.5
II Chi phí công cấy toàn bộ 3.897 108.25 100
1 Trong đó:
2 - Chuẩn bị mạ 1.018 28.278 26.1
3 - Chở mạ bằng xe ngựa 0.287 7.972 7.4
4 -Tiếp mạ 0.546 15.167 14.0
5 - Lái máy cấy và phụ máy 0.546 15.167 14.0
6 - Cấy dặm và cấy đầu bờ 1.5 41.667 38.0
Chú thích:
- Khâu chuẩn bị mạ còn tốn khá nhiều lao động cho gieo mạ vào khung gỗ, tốn nhiều
công bóc mạ và xén rễ xung quanh thảm mạ
- Việc cấy dặm và cấy đầu bờ tốn nhiều công lao động do mạ và ruộng cấy cha đợc tốt
nên không bảo đảm đợc yêu cầu kỹ thuật cho máy cấy tốt.
- Sau những kết quả bớc đầu thí nghiệm sản xuất mạ khay và cấy máy. Viện đã xác định
việc sản xuất mạ khay cho cấy tay phải đi trớc một bớc và làm tiền đề cho việc phát
triển và ứng dụng sản xuất mạ cho cấy máy từ năm 2001 Viện đã thực hiện dự án: Xây
dựng một cơ sở sản xuất mạ khay tại hợp tác xã Đồng Nguyên- Huyện Từ Sơn Bắc Ninh
và giao cho t nhân quản lý và có thể sản xuất mạ phục vụ cấy 200ữ250 mẫu lúa một vụ.