Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 1
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hòa nhập vào xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi
mới với phương châm đa phương hóa đa dạng hóa trong quan hệ kinh tế, từng
bước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Sau hơn 10 năm đổi mới, nền công nghiệp
của Việt Nam đã phát triển với tốc độ mạnh mẽ. Trong sự phát triển mạnh mẽ
đó, từ một nước công nghiệp đi lên Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, ngành công
nghiệp chế biến Lương thực – Thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp
phát triển nhanh nhất với nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng. Trong các
ngành công nghiệp chế biến đó, ngành công nghiệp sản xuất nước giải khát của
Việt Nam nói chung và của TpHCM nói riêng là một trong những ngành có tốc
độ phát triển rất nhanh. Từ năm 2001 - 2005 tốc độ gia tăng bình quân hàng năm
là 10%. Theo số liệu của cục thống kê Tp HCM, tốc độ phát triển giá trò sản xuất
công nghiệp của ngành chế biến thực phẩm và đồ uống của Tp HCM vào năm
2005 tăng 107,3 so với năm 2004. Ngành sản xuất nước giải khát là một trong 6
ngành có doanh thu từ 100 đến 333 triệu USD.
Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng về sản lượng sản xuất và chất lượng
sản phẩm, đóng góp khá lớn cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước; ngành
sản xuất nước giải khát cũng đã gây tác động và ảnh hưởng xấu đến môi trường,
đặc biệt là gây ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước. Tuy vậy, các
giải pháp giải quyết các vấn đề ô nhiễm hiện này của các doanh nghiệp thường
là xử lý cuối đường ống. Các giải pháp xử lý cuối đường ống vừa đắt tiền vừa
không mang lại hiệu quả lâu dài, thậm chí nằm ngoài khả năng của một số doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Một cách tiếp cận mới trong giải quyết các vấn đề ô nhiễm
môi trường hiệu quả và phù hợp đó là các giải pháp sản xuất sạch hơn (SXSH).
Áp dụng các giải SXSH không những cải thiện vấn đề môi trường mà còn mang
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
chất lượng, điều kiện làm việc và môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 3
Đề tài áp dụng phương pháp luận đánh giá SXSH một cách linh hoạt dựa
vào tình hình thực tế của nhà máy, thể hiện tính mới, tính sáng tạo của đề tài so
với phương pháp đánh giá SXSH chung.
1.3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nội dung đồ án tốt nghiệp chủ yếu nghiên cứu các vấn đề:
- Tổng quan về SXSH, tình hình áp dụng SXSH tại Việt Nam và trên thế
giới.
- Khái quát hoạt động của Nhà máy sản xuất nước giải khát cao cấp Yến
Sào Khánh Hòa.
- Tìm hiểu quy trình công nghệ chế biến nước giải khát cao cấp Yến sào
Khánh Hòa và hiện trạng môi trường tại Nhà máy.
- Đề xuất các giải pháp SXSH áp dụng cho Nhà máy.
- Dự báo và đánh giá kết quả thực hiện.
1.4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm Vi Nghiên Cứu
Do thời gian nghiên cứu chỉ có 3 tháng và kinh nghiệm thực tế không có, đề
tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp SXSH cho
Nhà máy sản xuất nước giải khát cao cấp Yến Sào Khánh Hòa” chỉ được nghiên
cứu ở các khía cạnh:
-Làm thế nào để giảm thiểu lượng nước thải sản xuất.
-Tìm cách giảm chi phí và tiết kiệm năng lượng.
Các đề xuất có vốn đầu tư thấp hoặc không cần vốn đầu tư. Một số giải pháp
mang tính lâu dài cần có vốn đầu tư cao và đòi hỏi trình độ chuyên môn trong lắp
đặt và vận hành nên chỉ có tính tham khảo. Khi nhà máy có nhu cầu cần thực
hiện các giải pháp cần xem xét và tính toán cụ thể.
1.4.2 Thời Gian Nghiên Cứu
-Ngày bắt đầu: 01/10/2007
2.1.1 Khái Niệm Về SXSH
Theo UNEF – Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc thì “ Sản xuất sạch
hơn là việc áp dụng liên tục một chiến lược môi trường kết hợp mang tính phòng
ngừa được áp dụng cho sản xuất, sản phẩm và các dòch vụ nhằm tăng hiệu quả
tổng thể và giảm nguy cơ đối với con người cũng như môi trường”. Nó khác với
phương thức quản lý môi trường truyền thống là “kiểm soát ô nhiễm”- nghóa là
cách tiếp cận “phản ứng và xử lý” sau khi có sự việc xảy ra, còn sản xuất sạch
hơn phản ánh triết lý “thường thức và phòng ngừa” trước khi hoạt động. Theo
cách đònh nghóa như vậy, sản xuất sạch hơn chính là cách tiếp cận mới và có tính
sáng tạo đối với sản phẩm và quá trình sản xuất. Cụ thể :
• Đối với quá trình sản xuất, SXSH bao gồm việc bảo tồn nguồn nguyên
liệu và năng lượng, loại bỏ nguyên liệu độc hại, làm giảm chất thải và chất phát
thải.
• Đối với việc thiết kế và phát triển sản phẩm, SXSH bao gồm việc làm
giảm tác động xấu tới toàn bộ chu trình của sản phẩm: từ khai thác nguyên liệu
tới việc thải bỏ cuối cùng.
• Đối với ngành dòch vụ, SXSH bao gồm sự kết hợp các nội dung về môi
trường vào việc thiết kế và thực hiện các nhiệm vụ.
Sản xuất sạch hơn ( Cleaner Production- CP) là công cụ giúp doanh nghiệp tìm ra
các phương thức sử dụng nguyên nhiên vật liệu, năng lượng và nước một cách tối
ưu, đồng thời giúp giảm thiểu chi phí hoạt động, phế thải và ô nhiễm môi trường.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 6
Bằng cách khảo sát các quy trình sản xuất một cách hệ thống, từ nguyên liệu đầu
vào cho đến sản phẩm đầu ra, SXSH có thể giúp các doanh nghiệp đề ra những
giải pháp tiết kiệm rất thực tế (từ dễ đến khó), để từ đó tiết kiệm chi phí cho
doanh nghiệp và góp phần bảo vệ môi trường.
SXSH có thể được áp dụng cho các ngành khai thác nguyên liệu, chế tạo,
nông nghiệp, thủy sản, giao thông, du lòch, bệnh viện, sản xuất năng lượng và các
hệ thống thông tin.
quốc gia. Nhanh chóng ban hành các chính sách khuyến khích chuyển giao công
nghệ sạch và các hướng dẫn thực hiện SXSH cho các ngành cụ thể.
Nhận thức của cộng đồng và thông tin về SXSH: Để tạo sự hiểu biết rộng rãi
trong tất cả các thành phần xã hội về SXSH cần tiến hành rộng rãi các chương
trình truyền thông, đào tạo và tập huấn về SXSH, truyền bá những thành công
của các doanh nghiệp đã áp dụng SXSH trong thời gian qua. Đồng thời thiết lập
một mạng lưới trao đổi thông tin về SXSH trên quy mô lớn.
Phát triển nguồn nhân lực và tài chính cho SXSH: Đây là những yêu cầu quan
trọng nhất để có thể thúc đẩy việc triển khai SXSH trong thực tế cuộc sống.
Nguồn lực ưu tiên bao gồm các cơ quan và chuyên gia tư vấn, các cơ quan đào tạo
nguồn lực tài chính có thể được xây dựng từ ngân sách nhà nước, các loại thuế,
phí, quỹ và các nguồn hỗ trợ quốc tế.
Phối hợp giữa nhận thức và khuyến khích: Để SXSH được thúc đẩy một cách
hiệu quả, cần kết hợp các yếu tố như: các quy đònh pháp lý, công cụ kinh tế và
các biện pháp giúp đỡ hỗ trợ, khuyến khích áp dụng SXSH. Một mô hình rât đáng
được xem xét và nhân rộng là lập quỹ môi trường ưu tiên cho doanh nghiệp vay
với lãi xuất thấp để thực hiện các dự án SXSH.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 8
2.1.3 Phương Pháp Luận Đánh Giá SXSH
Đánh giá SXSH được chia thành 6 bước đặc trưng được minh họa trong hình
dưới đây.
Hình 1: Quy trình thực hiện SXSH
SXSH là một quá trình liên tục. Khi đánh giá SXSH kết thúc, đánh giá tiếp
theo có thể được bắt đầu để cải thiện hiện trạng tốt hơn nữa hoặc tiếp tục với
phạm vi được chọn khác.
X Bước 1: Khởi động gồm 3 nhiệm vụ
Thành lập đội SXSH
Liệt kê các bước công nghệ
- Giảm chất thải tại nguồn
- Tái sinh chất thải
- Cải tiến sản phẩm
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 10
Hình 2 : Sơ đồ phân loại các giải pháp SXSH
X Giảm Chất Thải Tại Nguồn :
Quản lý nội vi: Là một loại giải pháp đơn thuần nhất của SXSH. Quản lý nội
vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi xác đònh
được các giải pháp.
Kiểm soát quá trình tốt hơn: Để đảm bảo các điều kiện sản xuất được tối ưu
hóa về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải. Các thông số
của quá trình sản xuất nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ…, cần được giám sát
và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt.
Thay đổi nguyên vật liệu: Là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng bằng
các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường. Thay đổi nguyên liệu còn có thể
PHÂN LOẠI CÁC GIẢI PHÁP SXSH
Giảm chất thải tại nguồn
Thay đổi nguyên liệu
Tuần hoàn
Qua
û
n lý nội vi
Kiểm soát quá trình tốt
Cải tiến sản phẩm
Thay đổi sản phẩm
Tận thu, tái sử dụng tại
chỗ
Cải tiến thiết bò
Công nghệ sản xuất
nhỏ. SXSH giúp các doanh nghiệp tăng lợi nhuận, giảm chất thải. Vì vậy khi áp
dụng SXSH ta có các lợi ích như sau :
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 12
¾ Giảm chí phí sản xuất: SXSH giúp làm giảm việc sử dụng lãng phí
nguyên vật liệu, năng lượng trong quy trình sản xuất, thông qua việc sử dụng
nguyên vật liệu và năng lượng một cách hiệu quả hơn.
¾ Ngoài ra áp dụng SXSH còn có nhiều khả năng thu hồi và tái tạo, tái sử
dụng các phế phẩm, tiết kiệm được nguyên vật liệu đầu vào và chi phí xử lý.
¾ Giảm chi phí xử lý chất thải: SXSH sẽ làm giảm khối lượng nguyên vật
liệu thất thoát đi vào dòng thải và ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn, do đó sẽ làm
giảm khối lượng và tốc độ độc hại của các chất thải cuối đường ống vì vậy chi phí
liên quan đến xử lý chất thải sẽ giảm và chất lượng môi trường của nhà máy cũng
được cải thiện.
¾ Cơ hội thò trường mới được cải thiện: Nhận thức về các vấn đề môi
trường của người tiêu dùng ngày càng tăng về các vấn đề môi trường, tạo nên
nhu cầu về các sản phẩm xanh trên thò trường quốc tế. Điều này mở ra một cơ hội
thò trường mới và sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao với giá thành cạnh
tranh hơn nếu tập trung nỗ lực vào SXSH.
¾ SXSH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện hệ thống quản lý môi
trường theo tiêu chuẩn ISO 14000, chứng chỉ ISO 14000 mở ra một thò trường mới
và khả năng tiếp cận thò trường xuất khẩu tốt hơn.
¾ Cải thiện hình ảnh doanh nghiệp: SXSH phản ánh bộ mặt của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp áp dụng SXSH sẽ được xã hội và các cơ quan chức
năng có cái nhìn thiện cảm hơn vì đã quan tâm đến vấn đề môi trường.
¾ Tiếp cận các nguồn tài chính tốt hơn: Các dự án đầu tư cho SXSH bao
gồm các thông tin về tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế, môi trường. Đây là cơ sở
cho việc tiếp nhận các hỗ trợ của ngân hàng hoặc các quỹ môi trường. Các cơ
quan tài chính quốc tế đã nhận thức rõ các vấn đề bảo vệ môi trường và xem xét
các đề nghò vay vốn từ gốc độ môi trường.
- Thiếu hệ thống quy đònh có tính chất pháp lý khuyến khích, hỗ trợ việc bảo
vệ môi trường nói chung và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, áp dụng SXSH nói
riêng.
- Thiếu sự quan tâm về SXSH trong chiến lược và chính sách phát triển công
nghiệp và thương mại.
- Chưa tổ chức thúc đẩy SXSH đi vào thực tiễn hoạt động công nghiệp.
- Luật môi trường chưa có tính nghiêm minnh, việc cưỡng chế thực hiện luật
môi trường chưa chặt chẽ. Các quy đònh về môi trường còn quá tập trung vào xử
lý cuối đường ống.
Về Kỹ Thuật :
-Thiếu các phương tiện kỹ thuật để đánh giá SXSH hiệu quả.
-Năng lực kỹ thuật còn hạn chế.
-Hạn chế trong tiếp cận thông tin kỹ thuật, thiếu thông tin về công nghệ tốt
nhất hiện có và công nghệ hấp dẫn về mặt kinh tế.
Các Cơ Quan Tư Vấn
Thiếu các chuyên gia tư vấn về SXSH cho các ngành công nghiệp khác nhau.
2.1.6 Tình Hình Áp Dụng SXSH Ở Việt Nam Và Trên Thế Giới :
2.1.6.1 Trên Thế Giới :
Từ trước những năm 1980, cách tiếp cận và ứng phó với các vấn đề ô nhiễm
theo hướng chính “kiểm soát ô nhiễm” hay còn gọi là “phản ứng và xử lý”. Trên
thực tế, mọi giải pháp xử lý chất thải trên được thực hiện sau khi đã có chất thải,
là hình thức chuyển trạng thái ô nhiễm từ dạng này sang dạng khác sao cho giảm
về lượng cũng như mức độ ô nhiễm và đôc hại.
Trong vòng những năm 80 trở lại đây “Sản xuất sạch hơn” được áp dụng
rộng rãi ở các nước trên thế giới với mục đích giảm phát thải vào môi trường tại
nguồn trong các quá trình sản xuất. SXSH là cách tiếp cận chủ động, theo hướng
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 15
“Dự đoán và phòng ngừa” ô nhiễm từ chất thải phát sinh trong các sản xuất công
nghiệp.
hơn 50% nước tiêu thụ, giảm 26% năng lượng tiêu thụ, giảm 10% lượng hơi tiêu
thụ… Với tổng số tiền tiết kiệm trên 500.000USD.
2.1.6.2 Ở Việt Nam
SXSH được biết đến hơn 10 năm nay, năm 1998, dưới sự hỗ trợ của UNIDO
và UNEP Trung tâm sản xuất sạch quốc gia tại Việt Nam đã được thành lập.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, ngày 22/09/1999, Bộ trưởng Bộ
Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường đã ký vào Tuyên ngôn quốc tế về SXSH,
thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc phát triển đất nước theo hướng bền
vững hai năm sau (11/1998) khái niệm SXSH Việt Nam ra đời.
Theo báo cáo của Cục Bảo Vệ môi trường có gần 28.000 doanh nghiệp hoạt
động trong các ngành nghề có khả năng gây ô nhiễm môi trường như: sản xuất
hóa chất và tẩy rửa, sản xuất giấy, dệt nhuộm, thực phẩm, thuộc da, luyện kim,…
đã được thông báo về chương trình này. Nhưng đến nay số lượng các doanh
nghiệp tham gia SXSH chỉ khoảng 199 doanh nghiệp trên 30 tỉnh thành (danh
sách 199 doanh nghiệp đã triển khai áp dụng SXSH ở Việt Nam được đính kèm
phụ lục 1), con số này còn quá nhỏ so với số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
hiện có ở nước ta. Trong khi tiềm năng tiết kiệm cho các ngành còn rất lớn. Hầu
hết các doanh nghiệp khi áp dụng SXSH đều giảm được từ 20 – 35% lượng chất
thải, tiết kiệm được trên 2-3 tỷ đồng/năm là phổ biến, thậm chí đã có 3 doanh
nghiệp giảm trên 50% lượng nước thải và hóa chất. Sau đây là bảng thống kê số
lượng các doanh nghiệp ở các tỉnh thành trong nước tham gia SXSH từ năm 1997
đến năm 2006:
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 17
Bảng 1: Danh sách số lượng doanh nghiệp thực hiện SXSH trong các tỉnh
STT Tỉnh/Thành phố Số doanh nghiệp
1 Đồng Nai 4
2 Vónh Phúc 3
3 Hà Tây 3
4 Phú Thọ 21
33 Quãng Bình 1
34 Tiền Giang 1
Nguồn: thống kê từ Trung Tâm SXSH Việt Nam (năm 2007)
2.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT NƯỚC GIẢI KHÁT Ở VIỆT
NAM
2.2.1 Lòch Sử Về Nước Giải Khát :
Từ lâu, việc ngâm mình trong suối nước khoáng được xem là tốt cho sức khỏe,
qua đó, các nhà khoa học cũng nhanh chóng phát hiện ra carbon dioxide (CO
2
) có
trong bọt nước khoáng thiên nhiên.
Loại nước giải khát không ga (CO
2
) đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 17 với
thành phần pha chế gồm nước lọc, chanh và một chút mật ong. Năm 1676, Công
ty Compagine de Limonadiers tại Paris (Pháp) độc quyền bán các loại nước giải
khát.
Đến năm 1767, tiến só Joseph Priestley – một nhà hóa học người Anh – đã
pha chế thành công loại nước giải khát có ga. Ba năm sau, nhà hóa học Thụy
Điển
Torbern Bergman phát minh loại máy có thể chế tạo nước có ga từ đá vôi bằng
cách sử dụng acid sulfuric. Máy của Bergman cho phép sản xuất loại nước
khoáng nhân tạo với số lượng lớn.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 19
Năm 1810, bằng sáng chế Mỹ đầu tiên cho các loại máy sản xuất nước
khoáng nhân tạo đã được trao cho Simons và Rundell ở Charleston thuộc nam
Carolina (Mỹ). Tuy nhiên, mãi đến năm 1832 loại nước khoáng có ga mới trở nên
phổ biến nhờ sự ra đời hàng loạt của loại máy sản xuất nước có ga trên thò trường.
Theo các chuyên gia y tế, thức uống bằng nước khoáng thiên nhiên hay nhân tạo
2.2.2 Lòch Sử Hình Thành & Phát Triển Ngành Sản Xuất Nước Giải Khát Ở
Việt Nam.
Ngành sản xuất nước giải khát ở nước ta có quá trình phát triển lâu dài, từ
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Song đặc biệt mười năm trở lại đây, do chính
sách đổi mới, mở cửa của nước ta; đời sống của các tầng lớp dân cư đã có những
bước cải thiện quan trọng; lượng khách du lòch, các nhà kinh doanh, đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam tăng nhanh, càng thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất
nước giải khát Việt Nam.
Do đó chỉ trong thời gian ngắn, ngành sản xuất nước giải khát đã có bước phát
triển quan trọng thông qua việc đầu tư khôi phục sản xuất của các nhà máy sản
xuất nước giải khát sẵn có và xây dựng thêm các nhà máy mới trực thuộc Trung
ương, đòa phương, các liên doanh với nước ngoài và mở ra các cơ sở sản xuất của
các thành phần kinh tế vào lónh vực này.
Sự phát triển này mang lại những thành tựu lớn, nhưng cũng có những hạn
chế, tiêu cực.
Những thành tựu phát triển của ngành sản xuất nước giải khát
Có tốc độ tăng trưởng từ 1991 – 2000 bình quân trên 10%/năm. Từ chỗ năm 1938
có nhà máy nước khoáng Vónh Hảo và 1952 có nhà máy nước ngọt Chương
Dương, thì nay có 204 cơ sở sản xuất nước giải khát, có năng lực 1008 triệu
lít/năm. Năm 1999 sản xuất trên 450 triệu lít. Bình quân tiêu thụ 5 lít/người/năm.
Trong đó:
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 21
• Nước ngọt pha chế: 3,35 lít/người/năm(chủ yếu là Coca – Cola và
Pepsi - Cola)
• Nước khoáng và nước lọc: 1,49 lít/người/năm.
• Nước quả: 0,16 lít/người/năm.
Rõ ràng ngành sản xuất nước giải khát đã đáp ứng yêu cầu của người tiêu
dùng do kinh tế phát triển và nước ta lại có khí hậu nhiệt đới nóng nhiều. Nó còn
đẩy lùi hàng ngoại tràn vào và nhập khẩu nhưng sản lượng ít hơn.
kòp, dẫn đến buôn lỏng quản lý tiêu chuẩn, chất lượng vệ sinh môi trường và thất
thu thuế.
Nhiều người cho rằng sản xuất nước giải khát hiện nay dễ tiêu thụ, không
phải hoàn toàn vậy. Với nước ngọt pha chế mới đạt 45% và nước khoáng, nước
tinh lọc đạt 43% công suất thiết kế, trừ công ty nước giải khát Chương Dương và
nước khoáng Lavie đã đạt trên 90%. Hai hãng có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm
60% thò phần nước giải khát có gaz là Coca-Cola và Pepsi-Cola cũng chỉ mới đạt
40% công suất thiết kế.
Do phát huy công suất thấp, nên doanh thu thấp, lợi nhuận và nộp ngân sách
bò hạn chế. Chất lượng sản phẩm kém, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
là điều đáng lo ngại.
Cũng chính sự phát triển tràn lan các cơ sở sản xuất nước giải khát, nhất là các
thành phần kinh tế, chất lượng, giá cả lại không được quản lý dẫn đến sự cạnh
tranh quyết liệt trên thò trường.
Với nước giải khát, để chiếm lónh thò trường, cốt làm sao tiêu thụ được sản
phẩm, hai hãng nước ngọt lớn Coca-Cola, Pepsi-Cola thi nhau hạ giá bán sản
phẩm. Tiếp đó là hiện tượng nhãn mác “ăn theo”.
Tóm lại sự phát triển của ngành sản xuất nước giải khát thời gian qua rất
nhanh chóng, trở thành một ngành công nghiệp đồ uống, đáp ứng yêu cầu của
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Vinh Quy
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 23
người tiêu dùng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội. Song những mặt hạn chế,
tiêu cực sớm được tổ chức quản lý khắc phục trong Chiến lược Quy hoạch tổng
thể phát triển ngành đến năm 2010 và đònh hướng đến năm 2020, chắc chắn
ngành còn đóng góp to lớn hơn trong công nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
đất nước.
2.2.3 Các Loại Nước Giải Khát Đang Được Sản Xuất Và Sử Dụng Tại Việt
Nam
Hiện nay dựa vào thành phần nguyên liệu ta có thể phân loại nước giải khát
theo nhiều cách.Theo độ cồn có: đồ uống có cồn (bia, rượu) và đồ uống không
SVTH: Nguyễn Phương Chi Trang 25
Dung dòch nước giải khát được chiết vào chai đã được tráng qua bằng nước
Clo. Chai được rửa sạch và đưa đến máy làm đầy và đóng chai. Sau đó sản phẩm
được đưa ra thò trường tiêu thụ.
Các thiết bò sử dụng trong ngành sản xuất nước giải khát được thể hiện trong
bảng 2 sau đây:
Bảng 2 : Các thiết bò máy móc sử dùng trong ngành sản xuất nước giải khát
STT Tên thiết bò
1 Máy lọc bẩn cơ học
2 Bồn nấu phối trộn
3 Máy súc rửa
4 Máy đóng chai
5 Lò hơi
2.2.5 Những Vấn Đề Môi Trường Đồng Hành Với Quá Trình Sản Xuất
Nước Giải Khát
2.2.5.1 Tải lượng và các tác nhân gây ô nhiễm phát sinh từ hoạt động sản
xuất nước giải khát
Cũng như một số ngành công nghiệp khác, việc tạo ra các loại sản phẩm đa
dạng và phong phú đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần đem lại
công ăn việc làm cho người lao động và đóng góp vào ngân sách của nhà nước,
thì ngành sản xuất nước giải khát cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường.
• Nước thải từ nhà máy sản xuất nước giải khát chứa nồng độ cao các chất
hữu cơ cũng như các chất tẩy rửa thừa. Các chất hữu cơ tồn tại ở cả dạng lơ lửng
lẫn dạng không tan. Lượng chất gây ô nhiễm chủ yếu được tạo ra trong quá trình
vệ sinh thiết bò và rửa chai lọ. Nước thải từ quy trình rửa chai lọ trước kia bò coi là
nguồn gây ô nhiễm chủ yếu, vì người ta cho rằng chúng chứa cặn bã và dung dòch
tẩy rửa. Vệ sinh kho chứa tạo ra nước thải acid và kiềm. Do vậy pH có thể dao