ĐỀ TÀI
Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Nhân Dân Xã Mễ Sở -
Huyện Văn Giang – Tỉnh Hưng Yên
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đổi mới nền kinh tế của đảng và nhà nước trong những năm qua,
hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đã thực hiện chiến lược đổi mới mạnh mẽ
các hoạt động của mình, đạt được những thành tích có ý nghĩa về nhiều mặt. Hệ
thống ngân hàng Việt nam đã trải qua một thời kỳ đổi mới tuy chưa dài nhưng đã
góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá hiện đại hoá. Song cơ chế thị trường có sự tác động thường xuyên
của quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Trong hoàn cảnh hệ
thống pháp luật chưa được hoàn chỉnh, quản lý nhà nước kém hiệu quả, chúng ta
chưa tích luỹ được bao nhiêu, do đó những vấp váp của các đơn vị kinh doanh là
rất khó tránh khỏi, hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng trong bối cảnh
đó, nhất là chất lượng và hiệu quả của công tác tín dụng còn nhiều hạn chế, đòi hỏi
tìm kiếm biện pháp tháo gỡ có hiệu quả cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Trong năm 2011 cùng với các nước trên thế giới Việt Nam đã phải cố gắng
rất nhiều để trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Qua đây, ta đã thấy được
tầm quan trọng của tín dụng trong vai trò là “đòn bẩy” của nền kinh tế cũng như là
một công cụ đắc lực để hỗ trợ cho Nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát,
ổn định giá cả của nền kinh tế. Do vậy theo dự đoán nhu cầu về vốn trong thời kỳ
hậu khủng hoảng sẽ ngày gia tăng để đáp ứng nhu cầu phục hồi sản xuất kinh
doanh cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Vì vậy nên
kinh tế sẽ cần không ít vốn để đáp ứng nhu cầu cần thiết này.Mà nơi đến của các
doanh nghiệp không đâu khác chính là các tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên trong thời qua, đặc biệt là thời kỳ khủng hoảng vấn đề tín dụng tại
các tổ chức tín dụng trong nước đã bộc lộ những yếu kiếm nhất định nên hoạt động
tín dụng đã gặp không ít những khó khăn và rủi ro thường xuyên rình rập. Mà hoạt
động tín dụng lại mang lại thu nhập chủ yếu cho các tổ chức tín dụng. Chính vì
vậy, làm thế nào để phân tích một cách chính xác, khoa học các nguyên nhân phát
Chương III. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại quỹ tín dụng
xã Mễ Sở
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1. Khái quát về quỹ tín dụng nhân dân
1.1.1. Khái quát về đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân
Khái niệm của quỹ tín dụng nhân dân
QTDND cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên trong địa bàn tình
nguyện thành lập và hoạt động.ở Việt Nam, theo quy định của nghị định
48/1996/NĐ -CP ngày 13/08/1996 của Chính phủ, QTDND có mục tiêu chủ yếu là
tương trợ giữa các thành viên.
Nội dung của nghị định 48/1996/NĐ-CP nêu rõ: “QTDND là loại hình tổ
chức tín dụng hợp tác, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các
thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, giúp nhau
thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời
sống. Hoạt động của QTDND cơ sở là phải đảm bảo bủ đắp chi phí và có tích luỹ
để phát triển”
- Đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân
QTDND cơ sở được xây dựng tại địa bàn xã, phường, liên xã, liên phường, cụm
kinh tế có đủ điều kiện, là một tổ chức không chỉ về kinh tế mà còn là tổ chức xã
hội gồm những người trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ làng xóm gần
gũi, huyết tộc, dòng họ, tự trọng cao. Mỗi quỹ là một đơn vị hạch toán độc lập, tự
chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi trực tiếp giao dịch với khách hàng và thành viên.
QTDND cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ
trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Điều đó được hiểu rằng,
QTDND cơ sở không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích tương thân, tương ái
mà chỉ là phương tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực như huy
động, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác. Đây là mục tiêu chủ yếu
được chi phí và có tích luỹ. Vì vậy các chi phí dịch vụ của QTDND cơ sở tiết kiệm
hơn, ít rủi ro hơn.
Cán bộ của QTDND cơ sở là những người ở tại địa phương hoạt động tại chỗ,
đã quen với phong tục tập quán, hiểu rõ về khách hàng, thành viên nắm bắt nhanh
được chủ trương, chính sách đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương đó nên thuận
lợi hơn nhiều so với các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn.
1.1.1.2. Vai trò của quỹ tín dụng nhân dân.
Hơn 20 năm đổi mới của đất nước, mô hình hệ thống QTDND nói chung và
QTDND cơ sở nói riêng tuy còn rất non trẻ và khó khăn nhưng đã bước đầu thể
hiện vai trò của mình trong từng địa phương và cộng đồng xã hội.
- Trước hết đối với địa phương QTDND cơ sở ra đời đã góp phần cung cấp
các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho thành viên và dân cư trên địa bàn.
Bất cứ người dân nào từ 18 tuổi trở lên không vi phạm pháp luật đều được
quyền gia nhập QTDND cơ sở và sẽ được hưởng các sản phẩm dịch vụ của
QTDND cơ sở. Với tư cách vừa là thành viên, vừa là khách hàng, QTDND cơ sở
vừa là người quản lý một phần tài sản của thành viên, vừa là nhà cung cấp vốn cho
người dân trên địa bàn nên đảm bảo tính ổn định và lâu dài, mặt khác qua hoạt
động của QTDND cơ sở, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân, của thành viên
được nâng lên, những đồng vốn nhàn rỗi, vốn tiết kiệm được huy động để đưa vào
đầu tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch vụ tại các địa
phương. Thông qua các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin của QTDND
mà nhận thức của thành viên cũng được nâng lên, các tệ nạn cho vay nặng lãi, hụi
họ được hạn chế đến mức tối đa; ý thức sử dụng vốn; kinh doanh; phát triển sản
xuất … được cải thiện rõ rệt. Tỉnh Thanh Hoá là một minh chứng hiện nay có 42
QTDND với gần 40.000 thành viên tham gia tương ứng với gần 40.000 hộ gia
đình, vì thông thường mỗi hộ có một người đại diện chủ hộ tham gia thành viên
QTDND cơ sở. Bình quân mỗi QTDND cơ sở trên địa bàn là 883 hộ được hưởng
dịch vụ ngân hàng của QTDND cơ sở. Điều đó sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn, tạo
thêm nguồn lực mạnh mẽ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
Đặc biệt góp phần hổ trợ tích cực cho địa phương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây
thành viên. Đối với nguồn vốn huy động tiết kiệm, QTDND cơ sở được nhận tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành viên và người ngoài thành viên kể
cả cá nhân và tổ chức kinh tế kể cả trong địa bàn và ngoài địa bàn. QTDND cơ sở
được vay vốn từ các nguồn vốn dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ,
… Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, được nhận vốn điều hoà từ Quỹ
tín dụng Trung ương và được khai thác các nguồn khác như: Vốn tài trợ của các tổ
chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, các nguồn vốn uỷ thác cho vay…. theo
quy định của ngân hàng Nhà nước.
- Thứ hai, cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở:
Hoạt động cho vay theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn về vốn giữa
QTDND cơ sở với các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp theo nguyên tắc hoàn trả
cả vốn và lãi.Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của QTDND
cơ sở, đem lại nguồn thu nhập chính cho QTDND cơ sở và cũng là hoạt động có
rủi ro tiềm ẩn cao nhất. Có thể nói rằng hoạt động thành công của một QTDND cơ
sở tuỳ thuộc vào hoạt động cho vay. Hoạt động cho vay được an toàn sẽ đảm bảo
cho sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng nói riêng và thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung. Vì vậy QTDND cơ sở nói riêng và các tổ chức tín dụng
nói chung khi cho vay luôn đặt ra cho mình mục tiêu là phải đảm bảo an toàn
nguồn vốn đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời của nguồn vốn đó.Đối với
QTDND cơ sở, đối tượng cho vay phải là thành viên của QTDND cơ sở theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước. Đây là điểm khác biệt nhất so với các tổ chức tín
dụng khác.
- Thứ ba, chăm sóc thành viên:
Khác với các tổ chức tín dụng khác, QTDND cơ sở ra đời là do thành viên tự
nguyện góp vốn và gia nhập, họ vừa là chủ vừa là khách hàng, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, nên giữa QTDND cơ sở với thành viên có mối quan hệ rất khăng khít, gần
gủi và luôn gắn bó với nhau. Vì vậy, QTDND cơ sở thực hiện tốt công tác chăm
sóc thành viên: Thăm hỏi lúc thành viên ốm đau, hoạn nạn, chia sẻ khi thành viên
gặp khó khăn, tư vấn về quản lý kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình… Chính vì
vậy cán bộ QTDND cơ sở ngoài trình độ về chuyên môn, cần phải có trình độ hiểu
sử dụng giá trị của vốn tín dụng, vốn vay được sử dụng trực tiếp để mua
hang hóa ( nếu vay bằng tiền ) hoặc dược sử dụng trực tiếp để thỏa mãn
nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của người đi vay. Song người
đi vay không có quyền sở hữu fias trị của vốn vay mà chỉ được sử dụng
tạm thời trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa người cho vay
và người vay.
3. Giai đoạn hoàn trả tín dụng - kết thúc một vòng tuần hoàn tín dụng: Vốn
tín dụng sau khi đưa vào sản xuất trở về hình thái tiền tệ - vốn, được
người đi vay trả lại cho người cho vay gồm phần gốc và lãi. Như vậy vốn
đưa vào hoạt động tín dụng đã sinh lợi cho người sở hữu nó. Rõ rang ở
đây sự hoàn trả tín dụng là sự quay trở về của giá trị. Đó là sự vận động
của một lượng giá trị. Sự hoàn trả theo đúng nghĩa của nó luôn được bảo
toàn về mặt giá trị cộng với phần tăng thêm.
- Hoạt động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả.
Qua phần trình bày ở trên đã cho ta thấy rõ một đặc điểm của tín dụng. Cùng
với đó là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, gắn với nền kinh tế hang hóa,
không tính đến chế độ chính trị xã hội ở đó. Tuy nhiên tồn tại trong những
phương thức sản xuất xã hội khác nhua thì tín dụng cũng mang bản chất khác
nhau do chế độ chính trị ở đó chi phối. Riêng đối với nền kinh tế trong thời khỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các tổ chức tín dụng đều hoạt động theo quy luật
chung là: có vay, có trả, có lợi tức, song chúng ta không chỉ vì mục đích lợi tức
mà còn vì mục đích chủ yếu là thúc đẩy nề sản xuất phát triển mạnh mẽ hơn
theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đồng thời từng bước thỏa mãn nhu cầu
ngày càng tăng của nhân dân, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân.
1.2.2. Vai trò của tín dụng
1.2.2.1. Vai trò tích cực
1. Hoạt động tín dụng đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh và nhu cầu tiêu dùng cho các cá nhân trong nền kinh tế.
Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các xí nghiệp. Việc phân phối
kinh tế khác. Bên cạnh đó nhà nước cần tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành
kinh tế mũi nhọn vì phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành
kinh tế khác.
5. Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các xí
nghiệp:
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là hoạt động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức. Vì
vậy, hoạt động của tín dụng đã góp phần kích thích sử dụng vốn vay có hiệu quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì các xí nghiệp phải tôn trọng hoạt động tín
dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đúng thời hạn và tôn trọng các điều kiện
khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Bằng các tác động như vậy, đòi hỏi xí nghiệp
phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng
vòng quay của vốn tạo điều kiện để nâng cao doanh lợi xí nghiệp.
1.2.2.2. Mặt tiêu cực
Tín dụng phát triển nhưng không được kiểm soát chặt chẽ theo khuôn khổ pháp
lý thì sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ, từ quy mô và phạm vi hẹp đến quy
mô lớn trên phạm vi rộng, gây hậu quả nặng nề cho nền kinh tế xã hội.
Với sự phát triển của tín dụng có thể làm gia tăng phân hóa giàu nghèo.
1.2.3. Các hình thức tín dụng
1.2.3.1. Theo thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn
Các khoản vay có thời hạn cho vay tới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp
sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của
cá nhân.
- Cho vay trung hạn
Các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng, được sử
dụng để đầu tư mua sắm các tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công
nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và
thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn
Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên và thời hạn tối đa
Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các nhà
doanh nghiệp và cá nhân.
Trong nền kinh tế ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian, trong quan
hệ tín dụng nó vừa là người cho vay đồng thời là người đi vay. Với tư cách là
người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân hoặc phát
hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội. Với tư cách
người đi vay ngân hàng cung cấp tín dụng cho các nhà doanh nghiệp và cá nhân.
Khác với tín dụng thương mại, được cung cấp dưới hình thức hàng hóa, tín
dụng ngân hàng được cung cấp dưới hình thức tiền tệ
- Tín dụng nhà nước
Là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người đi vay. Chủ thể trong tín dụng
nhà nước bao gồm: người đi vay là Nhà nước Trung ương và địa phương, người
cho vay là dân chúng, các tổ chức kinh tế và nước ngoài. Mục đích vay là bù đăó
khoản bội chi của ngân sách nhà nước.
1.3. Nâng cao chất lượng tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
1.3.1. Quan niệm về nâng cao chất lượng tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân
1.3.1.1. Quan niệm
Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hang phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của quỹ tín dụng, hay chất lượng
tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín thể hiện ở sự
phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
1.3.1.2. Sự cần thiết phải tăng cường chất lượng tín dụng
- Đối với nền kinh tế xã hội
Khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời thì quan hệ tín dụng cũng được hình
thành và phát triển. Nền kinh tế ngày càng phát triển bao nhiêu sẽ kéo theo thị
trường tài chính tiền tệ cũng phát triển một cách tương ứng. Trong nền kinh tế thị
trường, tiền tệ là một phạm trù kinh tế, mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá,
và nó là yếu tố cần thiết của quá trình sản suất. Trong điều kiện đó, chất lượng tín
dụng ngày càng được quan tâm bởi lẽ:
Chất lượng tín dụng được bảo đảm và nâng cao là điều kiện cho TCTD
mặt của nền kinh tế - xã hội, điều đó cũng có thể hiện chất lượng hoạt động tín
dụng trong nền kinh tế thị trường.
- Đối với khách hàng
Chất lượng tín dụng cao sẽ tạo điều kiện cho TCTD mở rộng thị trường,
cung cấp tín dụng kịp thời, đáp ứng yêu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của
khách hàng. Đồng thời đảm bảo cho khoản tiền gửi của khách hàng được an toàn.
Chất lượng tín dụng được đảm bảo có nghĩa là TCTD phải thường xuyên
tiến hành việc kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn tín dụng của khách hàng.
Thông qua đó, cùng với khách hàng uốn nắn và chấn chỉnh kịp thời những thiếu
sót trong hoạt động tài chính và kinh doanh của khách hàng. Do vậy, việc nâng cao
chất lượng tín dụng góp phần phát triển chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như
làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của khách hàng.
- Đối với các tổ chức tín dụng
Nâng cao chất lượng tín dụng tức là tăng khả năng quay vòng vốn tín
dụng, góp phần mở rộng được các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách hàng
cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng cho một khách hàng. Như vậy, không
những duy trì được mối quan hệ với những khách hàng truyền thống mà còn mở
rộng, thu hút thêm những khách hàng mới. Đó cũng là cách để các ngân hàng
thương mại mở rộng thị trường, nâng cao được lợi nhuận.
Chất lượng tín dụng nâng cao sẽ giảm được chi phí nghiệp vụ, chi phí quản
lý, và đặc biệt là giảm được những chi phí, thiệt hại rất lớn do không thu hồi được
khoản tín dụng. Như vậy, sẽ gia tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ
mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, tăng thêm lợi nhuận cho hệ thống ngân
hàng thương mại.
Tóm lại, nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa thật to lớn. Đối với ngân
hàng thì đó là vì sự tồn tại, phát triển. Với khách hàng thì đó là khả năng mở rộng
sản xuất. Xét trên tầm vĩ mô thì nâng cao chất lượng tín dụng là để đảm bảo cho
nền kinh tế xã hội luôn phát triển ổn đinh. Với sự phát triển và sản xuất lưu thông
hàng hoá ngày càng tăng, hoạt động tín dụng cần phải được phát triển tới mức độ
nào đó sao cho phù hợp, nhằm đáp ứng được những nhu cầu giao dịch cũng ngày
1.3.2.4. Dư nợ và kết cấu dư nợ
Dư nợ là tổng số dư nợ qua các hình thức cấp tín dụng mà khách hàng còn nợ
lại ngân hàng tại một thời điểm. Kết cấu dư nợ là tổng số nợ được phân chia theo
tỷ lệ các hình thức cấp tín dụng, theo thời hạn cho vay, theo đơn vị tiền tệ, theo
ngành hoặc theo thành phần kinh tế…Chỉ tiêu này phản ánh quy mô tín dụng của
TCTD cho nền kinh tế theo số dư mà tại một thời điểm. So sánh dư nợ với thị phần
tín dụng của TCTD cho ta biết dư nợ của TCTD là cao hay thấp. Trên thực tế, thị
phần tín dụng của một TCTD thường phản ánh số lượng khách hàng trung thành,
uy tín của TCTD, sự tác động của TCTD đối với địa phương và nền kinh tế… Do
đó, nếu thị phần tín dụng của TCTD cao thì tương xứng với nó phải là dư nợ lớn.
1.3.2.5. Vòng quay vốn tín dụng
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín
dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng
quay vốn tín dụng nhanh nên TCTD đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp, mặt khác TCTD có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy,
hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng
tín dụng càng cao. Ngược lại, vòng quay vốn tín dụng thấp thể hiện vốn tín dụng
luân chuyển chậm, hiệu quả vốn tín dụng thấp.
1.3.2.6. Hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với
khả năng đáp ứng của bản thân TCTD cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế
chưa. Trên cơ sở đó, các TCTD có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của
mình. Từ đó, có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách
hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất
có thể.
1.3.2.7. Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi
người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho TCTD đúng hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng dư nợ quá hạn trong tổng dư nợ
• Trong năm nhóm nợ trên, NQH là các khoản nợ được phân vào loại từ
nhóm 2 đến nhóm 5 và nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5. Đồng thời thỉ lệ
nợ xấu trong tổng dư nợ vào khoảng từ 2%-5% là một tỷ lệ chấp nhận được, NQH
từ 6-12 tháng là nợ có vấn đề. Nợ trên 12 tháng được gọi là nợ khó đòi
1.3.2.8. Tỷ trọng thu nhập
Tỷ trọng thu nhập là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín
dụng, nó cho biết tỷ lệ phát sinh từ hoạt động cho vay trên một đơn vị thu nhập là
bao nhiêu. Với cùng một mức thu nhập, nếu TCTD nào càng giảm được chi phí
đầu vào thì tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ TCTD hoạt động tốt. Đồng thời, ta thấy
rằng nếu các TCTD chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn
thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp
cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa
khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của TCTD.
Vậy đánh giá thu nhập từ hoạt động tín dụng sẽ cho ta thấy rõ hơn được các
khoản vay mà TCTD cho vay là lành mạnh, hiệu quả hay không.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
1.4.1. Các nhân tố khách quan
1.4.1.1. Môi trường pháp lý
Các nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đẩy đủ
và thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành
pháp luật và trình độ dân trí. Môi trường pháp lý tạo hành lang cho hoạt động kinh
doanh tín dụng. Hoat động kinh doanh tín dụng hoạt động trong hành lang hẹp
được kiểm soát chặt chẽ bởi Nhà nước vì đây là lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm
cần phải kiểm soát hậu quả của nó, tuy vậy không phải là không còn nhiều bất cập.
Môi trường pháp lý còn nhiều chỗ lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, nhiều sơ hở. Ví dụ, hiện
nay ở nước ta chưa hình thành thị trường bất động sản có tổ chức nên các tổ chức
tín dụng gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xác định giá trị bất động sản thế
chấp để cho vay vốn.
1.4.1.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh doanh còn chưa ổn định. Các chính sách và cơ chế quản lý
như mua hàng chịu nhưng đòi mãi không chịu trả tiền dẫn tới khách hàng của Quỹ
tín dụng có thể gặp khó khăn khi đến hạn trả nợ Quỹ tín dụng. Ví dụ như các hộ
kinh doanh vật liệu xây dựng, xưởng cơ khí nếu không bán chịu thì hàng hoá chậm
tiêu thụ nhưng nếu bán chịu thì khách hàng trì trệ không chịu trả tiền, trong khi đó
vốn sản xuất kinh doanh của xưởng cơ khí có vay Quỹ tín dụng.
1.4.2. Nhân tố chủ quan
1.4.2.1. Chất lượng công tác thẩm định hồ sơ vay vốn
Quỹ tín dụng thẩm định hồ sơ vay vốn nhằm rút ra những kết luận chính xác về
tính khả thi, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của phương án kinh
doanh để ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay. Mặt khác, thẩm định hồ sơ là
cơ sở để Quỹ tín dụng xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp
lý, tạo điều kiện cho dự án hoạt động có hiệu quả tối ưu.
Do đó, công tác thẩm định hồ sơ vay vốn nếu được thực hiện một cách nghiêm
túc, chặt chẽ, cẩn thận với chất lượng cao sẽ mang lại các quyết định chính xác,
hạn chế được rủi ro đảm bảo khả năng thu hồi vốn cho vay và lợi nhuận cho Quỹ
tín dụng.
Trái lại, nếu chỉ thẩm định một cách qua loa, hình thức, thiếu cẩn thận sẽ dẫn
đến sự "lựa chọn đối nghịch", cho vay những dự án khả năng hoàn vốn thấp bởi vì
những cá nhân với những phương án đầu tư rủi ro cao nhất là những người sẵn
sàng vay nhất kể cả với lãi suất cao. Họ sẽ trở nên giàu có nhanh chóng nếu thực
hiện thành công một cuộc đầu tư rủi ro cao nhưng đối với Quỹ tín dụng khả năng
phương án đầu tư không thành công là rất cao và Quỹ tín dụng sẽ không được
thanh toán.
Một sai lầm thường gặp khi thẩm định hồ sơ là định giá tài sản cầm cố chênh
lệch so với giá trị thực tế của nó. Giá trị của tài sản thế chấp, cầm cố là cơ sở để
Quỹ tín dụng xác định số tiền cho vay, là vật đảm bảo Quỹ tín dụng thu hồi vốn
đầu tư khi khách hàng mất khả năng trả nợ. Định giá tài sản thế chấp quá cao sẽ
dẫn tới quyết định cho vay quá nhiều không phù hợp với khả năng trả nợ của khách
hàng.
Ngược lại, định giá tài sản quá thấp thì khách hàng không vay được đủ lượng
1.4.2.3. Kiểm soát nội bộ
Các quy chế, thể lệ cho vay và các nguyên tắc cho vay nếu cán bộ tín dụng
không nắm vững sẽ gây nên tổn thất, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Do đó
công tác kiểm soát nội bộ giúp cho cán bộ tín dụng làm đúng cơ chế, đúng pháp
luật nếu phát hiện sai sót lệch lạc sẽ có biện pháp hạn chế hoặc ngăn ngừa tổn thất.
1.4.2.4. Chính sách tín dụng không hợp lý. Ngoài ra trong thể lệ cho vay có
những sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn.
1.4.2.5. Người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho người
vay khi người này không có khả năng trả nợ.
Chương II. Thực trạng nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín
dụng xã Mễ Sở
2.1. Khái quát về Quỹ tín dụng xã Mễ Sở
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Quá trình hình thành
Từ những năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước đến nay
kinh tế trong xã ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
trong xã được cải thiện rõ rệt.
Phương hướng của Đảng uỷ -UBND xã Mễ Sở là phát triển đa dạng hoá
ngành nghề, phát huy thế mạnh nội lực trên địa bàn, đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế.Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều loại hình sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, do đó nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh đòi hỏi ngày càng cao.
Để tạo điều kiện thuận lợi nhanh chóng về các thủ tục vay, đáp ứng nhu cầu
về tính thời cơ trong sản xuất kinh doanh của nhân dân, (trong khi đó Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Quỹ huyện Văn Giang chưa đáp ứng được
nhu cầu vay vốn của nhân dân trong xã, còn nặng về khâu thủ tục.) Vì thế trong địa
bàn xã vẫn còn tình trạng cho vay nặng lãi gây ảnh hưởng rất lớn đến việc phát
triển kinh tế của mỗi hộ gia đình nói riêng và của địa phương nói chung.
Để khắc phục tình trạng trên, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế địa
phương phát triển thuận lợi và bền vững, đoàn cán bộ gồm các đồng chí lãnh đạo
Đảng uỷ-HĐND-UBND xã đã đi khảo sát và học tập một số nơi có quỹ tín dụng
nhiên việc nhận tiền gửi ngoài địa bàn bị giới hạn theo quy định của
ngân hàng nhà nước.
Sau hơn 10 năm hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân xã Mễ Sở đã dành được
nhiều thành tựu nổi bật ở nhiều mặt như: trở thành nơi đáng tin cậy đối với nhân
dân trong xã cũng như khu vực lân cận để gửi vốn cũng như là nơi nhân dân tìm tới
để vay vốn. Điều này góp phần giảm bớt tình trạng vay nặng lãi diễn ra trong thời
gian trước đó, nhờ điều này đã khiến cho cuộc sống của người dân trở nên tốt đẹp
hơn, nhiều gia đình thoát khỏi cảnh khó khăn nhờ những đồng vốn kịp thời để
tham gia sản xuất kinh doanh.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
- Hội đồng quản trị:
Đó là một bộ phận không thể thiếu được trong bộ máy hoạt động của quỹ
tín dụng vì đó là lòng cốt ban điều hành quỹ. Các thành viên tham gia hội đồng
quản trị có quyền và nghĩa vụ đưa quỹ hoạt động ngày một tốt hơn đồng thời các
thành viên có quyền góp vốn khi có yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân trung
ương. Trong quá trình hoạt động của quỹ hàng tháng hội đồng quản trị được phép
yêu cầu các ban ngành như ( ban kiểm soát, bộ phận kế toán, cán bộ tín dụng, giám
đốc ) họp mặt để báo cáo kết quả hoạt động trong tháng và đưa ra ý kiến về tình
hình kinh tế tại địa phương, nguồn vốn của qu, sự biến động của kinh tế thị trường
đồng thời hội đồng quản trị đưa ra phương hướng hoạt động cho tháng tiếp theo.