BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC NÂNG CAO - Pdf 15



  



 !
Huế, 2/2014
"
#$"%& '
"( )*$+$,-./$0.)12
- Theo nghĩa gốc Hán, triết là trí, bao gồm cả sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng, đạo lý.
- Theo nghĩa gốc Hy Lạp, triết có nghĩa là yêu mến sự thông thái.
- Từ thế kỷ VItcn cho đến thế kỷ XVIII loài người đã quan niệm triết học là khoa học
của mọi khoa học, là khoa học đứng trên mọi khoa học. Bởi thế, bất cứ ai thông thạo bất cứ
môn khoa học nào cũng được gọi là nhà hiền triết hoặc nhà thông thái. Người ta đã xem đối
tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của triết học là bao gồm mọi đối
tượng, phương pháp và đặc điểm của mọi khoa học cụ thể.
- Thế kỷ XIX, người đầu tiên tách triết học ra khỏi các khoa học cụ thể khá thành
công nhưng trên lập trường duy tâm khách quan là G.V.F.Hêghen. Người hoàn thành sự
nghiệp đó là C.Mác và Ph.Ăngghen.
- Theo quan điểm mác-xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là
khoa học về những biện pháp chung nhất, những nguyên tắc chung nhất, những con đường
chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới.
- Khái niệm triết học dù ở phương Đông hay phương Tây, dù có biến đổi theo lịch sử
nhưng bao giờ cũng bao gồm hai yếu tố: Một là yếu tố nhận thức, tức sự hiểu biết của con
người về thế giới, sự giải thích thế giới hiện thực bằng hệ thống tư duy. Hai là yếu tố nhận
định, tức sự đánh giá, nhận xét về mặt đạo lý và thái độ hành động đối xử của con người đối
với thế giới.
- Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có những đặc điểm riêng:
+ Nó là một trong những hình thái ý thức cổ xưa nhất và quan trọng nhất. Vai trò của

trình phát triển từ cổ đại đến hiện đại đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau: cổ đại, tầm
thường, cơ học, máy móc nói chung là duy vật siêu hình, và duy vật biện chứng.
Ngược lại, các nhà triết học Duy tâm lại khẳng định ý thức có trước và quyết định đối
với vật chất. Trong tiến trình phát triển của mình, chủ nghĩa duy tâm cũng đã trãi qua nhiều
hình thức khác nhau: duy cảm chủ quan, duy lý, nhị nguyên, duy thức, duy ngã nói chung
là duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan.
Mặt thứ hai giải quyết về vấn đề nhận thức luận: tất cả các nhà triết học đều phải trả
lời câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không? Tùy theo câu trả lời của các
nhà triết học mà các triết thuyết đã chia thành hai phái: Khả tri (luận) gồm các nhà triết học
trả lời con người có khả năng nhận thức thế giới. Thông thường họ là các nhà triết học duy
vật và các nhà triết học duy tâm chủ quan. Bất khả tri (luận) gồm các nhà triết học trả lời con
người không có khả năng nhận thức thế giới. Thông thường họ là các nhà triết học duy tâm
khách quan.
Trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, lịch sử triết học chỉ ra Triết học có
hai nguồn gốc: Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy vật là mối liên hệ của nó với các
thành tựu của các khoa học cụ thể. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng
xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Nguồn gốc
nhận thức của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với các đấng siêu nhiên, hoặc tuyệt
đối hóa một hay một số yếu tố nào đó của ý thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm
thông thường là mối liên hệ của nó với các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ, giai
cấp thống trị đang trên đà tan rã trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử.
<( ;$=)>7+?=)*=2789+./@+?./$0.)12
Xuất phát từ bản chất của triết học, khi giải quyết vấn đề cơ bản bản chất của thế giới
có vận động và phát triển không, nếu có thì do những nguyên nhân và theo những xu hướng
nào, mà trong triết học đã có hai phương pháp cơ bản biện chứng và siêu hình. Hai phương
pháp này đối lập nhau về cách nhìn nhận thế giới.
Phương pháp biện chứng xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng
buộc lẫn nhau, và luôn vận động, và luôn phát triển. Trong sự phát triển của mình, phương
pháp biện chứng đã có những hình thức khác nhau là: Biện chứng cổ đại, biện chứng duy
tâm, biện chứng duy vật.

duy tâm, bằng cách này hay cách khác chống những quan điểm khoa học tự nhiên tiên tiến,
căm thù chủ nghĩa vô thần, bảo vệ mê tín.
Mặc dù xuất hiện trong điều kiện các tri thức khoa học sơ khai triết học Hy-La cổ đại
đã đề cập tới những vấn đề cơ bản của thế giới quan dù chỉ ở trạng thái mầm mống. Trong
những hình thái muôn vẻ của tư tưởng triết học Hy-La cổ đại đã có mầm mống của tất cả các
kiểu thế giới quan sau này. Nói chung duy vật thời này mang tính tự phát, và biện chứng sơ
khai. Dù sao họ cũng đã khẳng định thế giới vật chất tồn tại khách quan không do thần thánh
hoặc một lực lượng siêu nhiên nào tạo nên. Thế giới vật chất xuất hiện từ vật chất, từ những
nguyên thể vật chất đầu tiên như nước, lửa, không khí, nguyên tử. Quan niệm duy vật thô sơ
này đã có tác động lớn trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thần học cổ
đại.
Thời này chủ nghĩa duy tâm cũng có nhiều trào lưu khác nhau: Duy tâm khách quan
(trường phái Platôn); duy tâm chủ quan (trường phái Pitago); chủ nghĩa hoài nghi (trường
phái Acađêmi); chủ nghĩa bất khả tri (Pirông). Họ luôn gắn với tín ngưỡng tôn giáo, và
thường được giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ tinh thần của mình.

Ông hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, tâm lý học, toán học,
sinh vật học, vật lý, mỹ học,ngôn ngữ, kỹ thuật, âm nhạc. Mác, Ăng ghen coi ông là bộ óc
bách khoa toàn thư đầu tiên trong số những người Hy Lạp cổ đại.
Về triết học, ông coi nguyên tử là bản nguyên thế giới. Nguyên tử là hạt vật chất cực
nhỏ, không thấy được, không thể phân chia, không mùi, không vị, không âm, không sắc,
không khác nhau về chất chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế. Mỗi nguyên tử có một
hình thức nhất định, vô hạn về số lượng, vô hạn về hình thức. Sự vật khác nhau là do nguyên
tử cấu tạo được sắp xếp theo những hình thức khác nhau. Mọi biến đổi của sự vật, thực chất
là sự thay đổi trình tự sắp xếp của nguyên tử cấu tạo. Nguyên tử là bất biến, và biến đổi
không ngừng.
Ông phỏng đoán, vận động không tách rời vật chất. Hoạt động của nguyên tử là vĩnh
cửu. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, ông đã nêu ra khái niệm không gian. Không gian là
gián đoạn và có thể phân chia vô cùng tận.
Đặc điểm chủ nghĩa duy vật của ông là quyết định luận chống lại mục đích luận. Ông

như bản chất chân thực của phái Pitago, ông đã chia thế giới làm hai loại: Thế giới ý niệm
tồn tại chân thực, bất biến, vĩnh viễn, tuyệt đối là cơ sở tồn tại của thế giới sự vật cảm tính.
Thế giới sự vật cảm tính tồn tại không chân thực, luôn biến đổi và phụ thuộc và thế giới ý
niệm, là cái bóng của ý niệm, do các ý niệm sinh ra. Như vậy, theo Platôn, ý niệm là cái có
trước, là cái nguyên mẫu và là bản chất của mọi sự vật, còn mọi sự vật đều là cái có sau, là sự
mô phỏng, là bản sao của các ý niệm; bất kỳ sự vật nào cũng đều xuất hiện trong mối liên hệ
với các ý niệm. Ý niệm là các khái niệm, tri thức được khách quan hóa, chúng không được
sinh ra, mất đi từ cái gì đó, mà tồn tại mãi mãi như thế từ xưa đến nay.
Tuy đứng trên lập trường duy tâm khách quan trong quan niệm về thế giới, coi sự vật
chỉ là cái bóng của ý niệm. nhưng lịch sử ghi nhận triết học của ông đóng vai trò quan trọng
trong việc nghiên cứu bản chất của khái niệm cũng như trong việc phát triển tư duy lý luận,
thực hiệh một bước tiến trong việc chuyển triết học từ tư duy ẩn dụ tới tư duy khai niệm, tức
là giải thích thế giới, giải thích một hiện tượng phải tìm hiểu nó ở mức độ khái niệm, mức độ
tư duy lý luận.
():+?)K;X$+)N$,+./H+?2UPM!H
 !"
“Kinh viện” theo tiếng Latinh là trường học - Schola, nó chỉ bàn đến những vấn đề
viễn vông tách rời cuộc sống hiện thực. Về thực chất, chủ nghĩa kinh viện là nghệ thuật tranh
luận, lập luận không quan tâm đến nội dung của cuộc tranh cãi. Cái mà các nhà kinh viện
quan tâm là “định nghĩa”, “đối chiếu”,”phân mục”, v.v Họ tranh cãi nhau rất lâu về những
đề tài “Chuột có mắt hay không?”, “hoa hồng trên Thượng giới có gai khôn ?” v.v Đầu tiên
Y
triết học kinh viện được giảng trong các trường trung học, từ giữa thế kỷ XII được giảng
trong các trường đại học.
Quá trình phát triển của chủ nghĩa kinh viện có thể chia làm ba thời kỳ: thời kỳ đầu
(từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII), thời kỳ hưng thịnh (thế kỷ XIII), thời kỳ suy tàn (thế kỷ XIV-
XV).
Vấn đề mối quan hệ giữa lý trí và niềm tin tôn giáo là vấn đề trung tâm chú ý của các
nhà kinh viện. Họ có niềm tin tôn giáo giữ vị trí hàng đầu trong quan hệ với lý trí. Xuất phát
từ quan điểm đó, họ giải quyết các vấn đề triết học có liên quan, trong đó, quan trọng nhất là

nó, sự phong phú và hoàn thiện của nó đều được quyết định bởi sự thông minh của trời. Mọi
cái trên thế giới đều sắp xếp theo các bậc thang tôn ti trật tự, bắt đầu các sự vật không có linh
hồn, tiến qua con người, tới các thiên thần, các thánh, và sau cùng đến các bản thân chúa
Trời. Mỗi bậc ở dưới đều cố gắng đạt tới bậc trên; còn toàn bộ hệ thống thì mong muốn tiến
tới chúa Trời. Do đó, chúa Trời, Thượng đế là mục đích tối cao, là “quy luật” vĩnh cửu đứng
trên mọi cái, thống trị mọi cái, là hình thức thuần túy tước bỏ vật chất, là nguyên nhân tác
động cuối cùng của thế giới. Con người cũng do chúa Trời tạo ra “theo hình dáng của mình”,
sống trên trái đất - trung tâm của vũ trụ. Mọi cái trong tự nhiên đều thích ứng với con người
như thế nào là do chúa Trời quy định: mặt trời cho con người ánh sáng và sưởi ấm, mưa rơi
để làm cho đất đai của con người có nước; còn động đất và bão lụt phá hoại là do chúa Trời
trừng phạt tội lỗi của con người. Theo Tô-mát Đa-canh, đẳng cấp của mỗi người trong xã hội
a
là do Trời sắp đặt, nếu người nào vượt lên cao hơn đẳng cấp của mình là có tội lỗi. Chính
quyền nhà vua là do “ý của Trời”, thân xác con người phải phục tùng chính quyền nhà vua,
còn quyền lực tối cao bao trùm hết thảy, thì thuộc về Giáo hội.
Trong việc giải quyết vấn đề bản chất của cái chung. Tô-mát Đa-canh đứng trên lập
trường duy thực ôn hòa, Ông cho rằng, cái chung tồn tại trên ba phương diện: 1) nó tồn tại
trước sự vật trong trí tuệ chúa Trời như là một mẫu mực lý tưởng của các sự vật riêng lẻ; 2)
cái chung được tìm thấy trong các sự vật, nó chỉ tồn tại khách quan khi nó chứa đựng các sự
vật riêng lẻ; 3) cái chung được tạo bằng con đường trừu tượng hóa của trí tuệ con người từ
các sự vật riêng lẻ.
Để chứng minh chúa Trời là động lực ban đầu, nguyên nhân ban đầu, cái tất nhiên
ban đầu, sự hoàn thiện tuyết đối và là nguyên nhân tạo ra sự hợp lý của giới tự nhiên, Tô-mát
Đa-canh nêu ra những lý lẽ như sau: Thế giới không vận động vĩnh cửu, cần phải có động lực
ban đầu; nguyên nhân tác động không phải là vô tận, cần có nguyên nhân đầu tiên; mọi sự
vật của thế giới là ngẫu nhiên, cần có cái tất nhiên tuyết đối; sự hoàn thiện của các sự vật có
các giai đoạn khác nhau, cần phải có một thực thể hoàn thiện tuyệt đối; tính hợp lý của giới
tự nhiên không thể giải thích bằng nguyên nhân tự nhiên, cần phải tồn tại một thực thể lý trí
siêu tự nhiên điều chỉnh thế giới.
Về lý luận nhận thức, Tô-mát Đa-canh áp dụng học thuyết về “hình dạng” của

của con người. Nhưng theo Đun X-cốt, chỉ có những sự vật đơn nhất và cá biệt mới là thực
b
tại cao nhất. Ông được coi là nhà duy danh nổi tiếng nhất của chủ nghĩa kinh viện giai đoạn
hưng thịnh.
G/$0.)12PM!H.)0XcdTd
())* +,-. .
Vào thế kỷ XVII, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nhiều nước Tây Âu đã
hình thành hầu hết trong lòng xã hội phong kiến. Đi liền với thực tế lịch sử đó là việc phát
hiện ra Châu Mỹ và con đường hàng hải vòng quanh Châu Phi tạo cho giai cấp tư sản đang
lên môi trường hoạt động mới. Thị trường Ân Độ và Trung Hoa rộng lớn, việc chiếm Châu
Mỹ làm thuộc địa, việc buôn bán với các nước thuộc địa, việc tăng thêm số phương tiện trao
đổi và số lượng hàng hóa đã đem lại cho thương nghiệp và công nghiệp hàng hải một đà phát
triển chưa từng có, do đó đã làm cho yéu tố cách mạng phát triển nhanh chóng trong lòng xã
hội phong kiến đang suy tàn.
Xét về toàn bộ và suy diễn đến cùng thì sự xuất hiện của phương thức tư bản chủ
nghĩa đã dẫn tới những hệ quả tất yếu về mặt xã hội và sự phát triển của khoa học trên những
nét cơ bản dưới đây:
Một là: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thỏa mãn với những kiến thức
khoa học tự nhiên còn ở tình trạng chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, chưa cụ thể đã có từ trước.
Người ta không thể dưa vào kinh nghiệm đi biển thông thường và dùng thuyền gỗ để chuyển
chở khối lượng hàng hóa lớn vượt các đại dương, trái lại, cần có kỹ thuật đóng tàu mới, có
máy móc mới để sản xuất và trao đổi được nhiều hàng hóa hơn, tăng được nhiều lợi nhận hơn
cho các nhà kinh doanh. Thực tế đó đòi hỏi khoa học tự nhiên như cơ học, toán học, thiên
văn học và về sau cả vật lý học, hóa học, sinh vật học phải có bước phát triển mới.
Trước đây, tri thức của các lĩnh vực khoa học nói trên còn là một bộ phận trực tiếp
trong các hệ thống triết học. Đến thời kỳ này nảy sinh nhu cầu là các ngành khoa học cụ thể
tách ra khỏi triết học và trở thành những ngành khoa học độc lập; dùng phương pháp nghiên
cứu thật chi tiết, thật cụ thể nhằm phát hiện những thuộc tính, những quy luật của vật chất
như tính năng, tác dụng, độ bền vật liệu Từ đó xuất hiện một phương pháp mới trong khoa
học tự nhiên - phương pháp thực nghiệm hiện đại của khoa học. Trên mức độ nhất định, vào

Trước sự thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa duy vật ở thế kỷ XVII, trước tinh thần nhân
bản của các nhà khai sáng lúc đó, giám mục Béc-cli có tham vọng “khôi phục trên toàn thế
giới cái tinh thần đức hạnh đã bị xuyên tạc”.
Béccli là đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Ông có nhiều tác phẩm
như “Kinh nghiệm của thuyết thị giác mới” (1709), “Bàn về những nguyên tắc của nhận thức
con người” (1710) v.v Có thể khái quát, những nội dung chính của triết học Béc-cli như
sau:
Một là, phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất.
Điểm xuất phát của triết học Béc-cli là kinh nghiệm cảm tính hiểu theo nghĩa là tổng
hợp những biểu tượng hay những cảm giác. Theo ông, những cảm giác này không phản ánh
thực tại khách quan, mà chính chúng là thực tại khách quan chân chính. Ông viết:”Tôi không
phải cho rằng sự vật biến thành biểu tượng, mà nói đúng hơn là cho rằng biểu tượng biến
thành sự vật” .
Béc-cli đã sử dụng quan điểm của Lốc-cơ trong việc phân chia “đặc tính có trước” và
“đặc tính có sau” của sự vật, bác bỏ khuynh hướng duy vật của Lôccơ và từ đó đi đến chủ
nghĩa duy tâm, lẫn lộn cả “đặc tính có trước” và “đặc tính có sau” với cảm giác của chúng ta.
Ông nói: “Nếu biểu tượng biến thành sự vật, mà biểu tượng thì không tồn tại ngoài trí óc, cho
nên sự tồn tại của chúng là ở chỗ được tri giác hay được nhận thức, và do đó, nếu trong hiện
thực chúng không được tôi trí giác hay không có ở trong trí óc một tính thần nào khác, thì tức
là chúng không tồn tại, hoặc tồn tại trong trí óc một tinh thần vĩnh viễn nào đó ”. Thực chất
luận điểm này là: tồn tại là được tri giác; cái gì ngoài tri giác là không tồn tại, triết học Béc-
cli là duy ngã luận: ngoài cá nhân “Tôi” ra không còn gì cả, tất cả mọi sự vật họp thành vũ
trụ đều phụ thuộc vào tri giác của “Tôi”, nếu “tôi” không tri giác hay cảm giác thì chúng
không tồn tại.
Đồng thời, ta cũng thấy, ở Béc-cli có sự chuyển từ lập trường duy ngã sáng chủ nghĩa
duy tâm khách quan. Ông thừa nhận ngoài sự tồn tại của cá nhân “tôi”, và sự tồn tại của
những “tinh thần” của người khác còn có “một tinh thần vĩnh viễn” - thượng đế. Điều này
được thể hiện rõ ràng khi ông cho rằng triết học của ông sẽ là vô ích nếu như nó “không gợi
cho các độc giả thực tâm tin vào sự hiện diện và kính nể chúa và sự hoàn thiện tối cao của
bản chất con người là ở việc nhận thức và thực hiện các giáo lý trong Phúc âm”. Trong cuốn

động thì có cả ở vật đang vận động lẫn vật đang đứng yên”. Ông cho rằng, chính quá trình
vận động và phát triển của giới tự nhiên mà những gì không thích nghi và chọn lọc đã giúp
cho nó ngày càng hoàn thiện. Từ đó ông đi đến tư tưởng cho rằng, kết cấu và trạng thái của
sinh vật là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên. có thể nói, với quan niệm
này, Đi-đơ-rô là tiền thân của học thuyết tiến hóa của Đác-uyn.
Những quan điểm về bản thể luận trên đây của Đi-đơ-rô rất gần với quan điểm duy
vật hiện đại.
Về lý luận nhận thức, Đi-đơ-rô đã xây dựng lý luận nhận thức trên lập trường duy
vật. Ông cho rằng, cơ thể con người là khí quan vật chất của tư duy, ý thức và các quá trình
tâm lý. Ông khẳng định: “Không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì
cả”. Bước chuyển tiếp vô tri, vô giác tới khả năng cảm giác, tư duy đều gắn liền với quá trình
phát triển của cấu trúc vật chất từ vô cơ, hữu cơ, đến sự sống và cơ thể con người.
Đi-đơ-rô là nhà duy lý kiểu mới, đề cao khả năng nhận thức cảm tính trong quá trình
nhận thức. Ông nói: “Phương pháp triết lý đúng đắn đã và sẽ phải là ở chỗ sao cho kiểm tra
trí tuệ bằng trí tuệ, sao cho bằng trí tuệ và thực nghiệm kiểm soát các cảm tính, bằng cảm
tính nhận thức giới tự nhiên, nghiên cứu giới tự nhiên để sáng chế các công cụ, dùng các
công cụ để tìm tòi và hòan thiện các tri thức”.
Về quan điểm chính trị-xã hội, Đi-đơ-rô cho rằng, bộ mặt trí tuệ và đạo đức của con
người là do môi trường và hoàn cảnh xã hôi tạo nên, chứ không phải do Thượng đế. Thượng
đế chỉ là sự thần thành hóa các điều kiện sống hiện thực của con người, chỉ có khoa học mới
vũ trang cho chúng ta quan niệm đúng về thế giới, làm cho con người lớn mạnh thêm, còn
tôn giáo thì chỉ đem lại những điều ảo tưởng, làm cho con người mềm yếu đi.
Đi-đơ-rô mới chỉ nhìn tôn giáo ở nguồn gốc tâm lý sợ chết của con người, chứ không
nhìn thấy cơ sở kinh tế-xã hội của sự tồn tại tôn giáo. Ông viết: “Hãy xóa bỏ nỗi lo sợ địa
ngục của người theo đạo cơ đốc, thì sẽ xóa bỏ được tín ngưỡng của anh ta”.
Đứng trên quan điểm về xã hội khế ước, Đi-đơ-rô đòi thực hiện cai trị theo dân chủ tư
sản, mở mang hệ thống giáo dục trong nhân dân, và cần phải xây dựng các đạo luật tiến bộ,
còn “các đạo luật dốt nát đó là những cái làm trụy lạc chúng ta”.
Tóm lại, sự đối lập trên tất các lĩnh vực trong triết học giữa Đi-đơ-rô và Béc-cli là
cuộc đấu tranh điển hình đầu tiên của triết học xung quanh vấn đề cơ bản của triết học trong

thống (hình thức) triết học của ông lại cực kỳ duy tâm, rối rắm và kéo theo những kết luận
chính trị phản tiến bộ.
Đề caovai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là một thực thể hoạt
động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học là một đặc điểm của triết học cổ
điển Đức. Trong đó thành tựu cơ bản là đã khẳng định: con người là chủ thể, đồng thời là kết
quả của quá trình hoạt động của chính mình; tư duy và ý thức của con người chỉ có thể phát
triển trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới; lịch sử phát triển của nhân loại
là một quá trình phát triển biện chứng. Tuy nhiên, họ đã thần thánh hóa trí tuệ và sức mạnh
của con người tới mức coi con người là chúa tể của tự nhiên.
Tiếp theo tư tưởng biện chứng trong triết học thời cổ đại, triết học cổ điển Đức xây
dựng phép biện chứng trở thành phương pháp luận triết học đối lập với phương pháp tư duy
siêu hình trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Giả thuyết tinh vân về sự
hình thành vũ trụ của Cantơ; việc phát hiện ra những quy luật và phạm trù cơ bản của phép
biện chứng làm cho phép biện chứng trở thành một khoa học đã thực sự mang ý nghĩa cách
mạng trong triết học.
<()J+?5V$8$]HQH4.[l22:;./$0.)122U5$]+j2%;+.7m^?)n+mo)78*2)
(8"97'
Thời kỳ trước phê phán (1746-1770)
Ông tự nhận mình là người tiếp tục công việc của các nhà duy vật cổ đại như
Đêmôcrít, Êpiquya. Quan điểm duy vật trong triết học tự nhiên của Can-tơ thể hiện ở những
luận điểm chủ yếu dưới đây:
""
Can-tơ cho rằng, thế giới của chúng ta là thế giới vật chất luôn luôn vận động và biến
đổi không ngừng, mọi sự vật đều liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua lực hút và
lực đẩy. Ông viết: “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới vật chất từ nó, nghĩa là, hãy
cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ ra cho các bạn thấy, thế giới phải ra đời từ vật chất như thế nào”.
Can-tơ cho rằng, không thể chỉ dùng sức hút mà giải thích được nguồn gốc thế giới.
Vì chỉ có một mình sức hút có tác dụng thì thế giới vật chất bao giờ cũng ở trạng thái đứng
im mãi mãi. Bên cạnh sức hút còn có sức đẩy ra. Chính sự tương tác giữa sức hút và sức đẩy
làm cho vật chất vận động và vật chất không hình mới biến thành những thiên thể hình cầu.

tiên nghiệm. Theo ông mọi sự vật trong thế giới tồn tại dưới dạng đơn nhất, cá biệt và hỗn
độn. Tri thức kinh nghiệm cảm giác chỉ nắm bắt được những hiện tượng riêng biệt, lộn xộn.
Tri thức tiên nghiệm có sẵn trong ý thức đem lại trật tự cho mớ tri thức kinh nghiệm cảm
giác lộn xộn ấy và đem lại những mối liên hệ nhân quả tất nhiên, tính phổ quát, tính tất yếu
của thế giới hiện tượng. Như vậy theo ông, thế giới tồn tại khách quan, nhưng quy luật của
thế giới lại là sản vật của ý thức. Ở điểm này ông là nhị nguyên luận.
Về nhận thức luận
Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng ông đang đi gần tới phép biện chứng. Ông vạch ra
rằng, bất cứ lúc nào khi lý trí bắt đầu nghiên cứu thế giới khách quan tất yếu đụng phải mâu
thuẫn, do đó các mâu thuẫn là bản chất khách quan của lý tính con người. Ông đặt ra những
vấn đề còn bỏ ngõ trong các cuộc tranh luận về bản chất tư duy, và những vấn đề mang tính
"3
nghịch lý trong quá trình nhận thức. Đây là một thành tựu rất quan trọng của nhận thức triết
học, bởi vì bằng điều đó vận động của tư duy được đề cao.
Về đạo đức học
Ông theo lập trường duy lý. Ông viết “các nguyên lý cảm tính nói chung không thích
hợp để có thể xây dựng các quy luật đạo đức vào chúng”. Theo ông, chỉ có lý tính là nguồn
gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý và chuẩn mực đạo đức. Tự do là phạm trù trung tâm trong
đạo đức của ông. Theo ông, ý chí tự do và ý chí tuân theo các quy luật của đạo đức là như
nhau.
Về quan điểm chính trị-xã hội
Theo ông, xã hội là phương thức tồn tại của con người như một chủ thể, trong đó
bằng hoạt động của mình, con người ngày càng phát triển những khả năng và bản chất của
mình, và thực hiện các lý tưởng đạo đức của mình. Ông khẳng định, mâu thuẫn xã hội là
động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Sự xung đột giữa các tầng lớp, các đẳng cấp xã hội là
phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Can-tơ mong muốn xây dựng một thế giới hòa
bình, hữu nghị, vĩnh viễn không có chiến tranh. Theo ông chiến tranh phá hoại những chuẩn
mực đạo đức của con người. Ông kêu gọi các quốc gia đoàn kết xây dựng một liên bang,
trong đó mỗi dân tộc vẫn được bảo đảm tự do và độc lập về chính trị. Theo ông, chỉ có hình
thức nhà nước cộng hòa là phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Sứ mệnh của nhà nước,

"<
của mỗi cá nhân được ông coi là sự tái diễn tư duy của toàn nhân loại, trãi qua các thời kỳ
khác nhau giống như sự phát triển của bào thai từ tiền thủy, sinh vật đến con người.
Như vậy, khởi điểm là tinh thần và kết thúc của sự phát triển cũng là tinh thần, chỉ
khác điểm khởi đầu là tinh thần thế giới, hay ý niệm tuyệt đối còn kết thúc là tinh thần tuyệt
đối tồn tại ở mỗi cá nhân con người. Theo ông giai đoạn cao nhất là lúc ý niệm tuyệt đối kết
thúc quá trình tự nhận thức của nó dưới hình thức tôn giáo, nghệ thuật và triết học.
Phép biện chứng duy tâm của Hêghen
Những luận điểm về phép biện chứng của triết học Hêghen có cả trong ba phần,
nhưng trong lôgíc thể hiện rõ nhất, quan trọng nhất. Luận điểm xuyên suốt toàn bộ phép biện
chứng của ông là: “Tất cả cái gì là hiện thực, đều là hợp lý và tất cả cái gì là hợp lý, đều là
hiện thực”. Luận điểm của ông không chỉ muốn bảo vệ và duy trì mọi cái hiện đang tồn tại,
thừa nhận về mặt triết học nền chuyên chế, nhà nước quý tộc Phổ, mà điều cơ bản nhất không
phải những gì hiện đang tồn tại cũng đều là hiện thực. Tính hiện thực chỉ thuộc về những gì
đồng thời là tất yếu: “Tính hiện thực, trong sự phát triển của nó, tự biểu lộ ra là tính tất yếu”.
Như vậy theo ông, hiện thực không phải là tồn tại nói chung, mà là tồn tại trong tính
tất yếu của nó, đó là “hiện thực trong sự phát triển. Xa rời tư tưởng này thì mọi ý niệm, lý
tưởng chỉ là những điều ảo tưởng, và triết học là một hệ thống những điều bịa đặt rỗng
tuếch”.
Ông đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình
bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, tức là trong sự vận
động, biến đổi và phát triển không ngừng. Đó là ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng của
triết học Hêghen.
Trong lôgíc học, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như lượng-chất, phủ định,
mâu thuẫn mà còn nói đến các quy luật: lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại; phủ định
của phủ định, và phần nào về quy luật mâu thuẫn. Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận
động phát triển của tư duy, của khái niệm.
Biện chứng của khái niệm trong khoa học lôgíc của ông bao gồm những điểm sau:
Một là, những khái niệm không những khác nhau mà còn làm trung giới cho nhau, tức có liên
hệ với nhau. Hai là, mỗi khái niệm đều phải qua một quá trình phát triển được thực hiện trên

Theo ông, lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan trong hoạt
động của con người. Ông cũng cho rằng, sự phát triển tự do của con người là chuẩn mực ưu
việt của thời đại này so với thời đại khác, của dân tộc này so với dân tộc khác. Nhưng ông
hiểu tự do một cách duy tâm: Tự do thể hiện trong sự hiểu biết và làm theo ý chúa; lịch sử
toàn thế giới là lịch sử tiến bộ trong ý thức tự do. Dù vậy, ở mức độ nhất định nó toát lên tư
tưởng sâu sắc: Tự do cũng như trình độ giải phóng con người, làm cho “con người là chúa tể
số phận và sứ mạng của mình”, là một xu hướng phát triển của nền văn minh nhân loại.
(<=>74#''
Ông là nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức. Bậc tiền bối của triết học
Mác. Ông đã làm phong phú chủ nghĩa duy vật một cách sáng tạo vào những năm bốn mươi
của thế kỷ XIX.
Về triết học duy vật nhân bản
Ông thực hiện phê phán triết học duy tâm khách quan của Hêghen đã coi thường con
người sống, không biết cảm giác là nguồn gốc của nhận thức. Ông lấy con người sống, con
người có cảm giác làm điểm xuất phát cho triết học duy vật của mình. Theo ông nhiệm vụ
của triết học phải đem lại cho con người một quan niệm mới về chính bản thân mình, tạo
điều kiện cho con người hạnh phúc.
Ông quan niệm con người như một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham
muốn, có ước mơ, là một bộ phận của giới tự nhiên, và xét theo bản chất nó là tình yêu
thương. Ông lấy tình yêu thương giữa nam và nữ làm kiểu mẫu của bản chất yêu thương.
Nhưng ông đã không thấy được phương diện xã hội của con người. Quan niệm con người của
ông là trừu tượng, bị tách khỏi những điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử. Vì thế khi nghiên
cứu những vấn đề về đời sống xã hội, ông rơi vào quan điểm duy tâm, bộc lộ tính trừu tượng
của cái gọi là con người cụ thể của ông.
Xuất phát từ lý luận nhân bản, ông đã xây dựng lý luận về bản thể, về nhận thức và về
xã hội.
Quan niệm về tự nhiên
Ông là nhà duy vật triệt để. Sau khi bác bỏ học thuyết của Can-tơ - học thuyết cho
rằng tự nhiên là do ý thức của con người cấu tạo nên - và bác bỏ học thuyết của Hêghen - học
thuyết cho rằng tự nhiên là một sự tồn tại khác của tinh thần thế giới, ông bảo vệ và chứng

Việc Phơbách phê phán thần học và tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong lịch sử tư
tưởng triết học tiên tiến. Ông cho rằng chính con người đã bày ra thần thánh bằng cách trừu
tượng hóa bản chất con người của mình, rồi cho rằng thần thánh cũng có bản chất ấy. Họ
tuyệt đối hóa, thần thánh hóa đặc tính của con người. Sau khi bác bỏ tôn giáo cũ, Phơbách đã
tuyên bố một tôn giáo mới không có chúa - tôn giáo tình yêu. Ông đã hạ thần học xuống trình
độ nhân bản học và nâng nhân bản học lên trình độ thần học.
W(+))>p+?./`2.$0=2:;./$0.)122U5$]+j250+[`)q+).)#+)./$0.)12
A*2
Ngoài những yếu tố duy lý, ảo tưởng, phi lịch sử, phi giai cấp, đạo đức học của Can-
tơ chứa đựng nhiều tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Nó là sự kết tinh những giá trị đạo đức chung
của nhân loại. Trong quan điểm chính trị xã hội của ông cũng thể hiện một lý tưởng nhân đạo
cao cả, có ý nghĩa định hướng cho các mối quan hệ quốc tế và tiến trình lịch sử. Nó đặt nền
móng cho quan điểm duy vật lịch sử của Mác.
Vai trò lịch sử của triết học Hêghen là ở chỗ đã phát triển phép biện chứng. Những
vấn đề cốt lõi nhất của phép biện chứng hiện đại đã được ông đề cập đến một cách bao quát
và nhiều điểm sâu sắc. Mác, Ăngghen đã đánh giá cao vai trò ý nghĩa của triết học Hêghen,
cho dù triết học của ông là duy tâm, phương pháp biện chứng và hệ thống triết học của ông
có mâu thuẫn.
Phơbách là nhà duy vật nổi tiếng đầu tiên trong hàng ngũ những nhà triết học trong
những năm bốn mươi của thế kỷ XIX. Chính ông đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật của thế
kỷ XVII-XVIII, và đã làm phong phú một cách sáng tạo thế giới quan duy vật. Dù còn nhiều
hạn chế, nhưng triết học của ông là chiếc cầu nối, là suối lửa để từ triết học Hêghen bước
sang, chảy qua để đến với thế giới quan duy vật biện chứng triệt để cả trong tự nhiên, xã hội
và tư duy.
Nói chung triết học cổ điển Đức là một trong các tiền đề lý luận quan trọng để ra đời
triết học Mác.
G'ors
Với tư cách là một khoa học lịch sử triết học, lịch sử triết học phương Đông có đầy đủ
những đặc điểm, tính chất, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết học. Tuy
"a

năng động. Thông thường các triết thuyết Ân Độ phát triển về sau thường chỉ là bằng cách
này, hoặc cách khác làm rõ hơn ý của các bậc tiền bối mà thôi. Đây chính là sự phản ánh
những yếu tố đã chi phối sự phát triển chậm chạp của Ân Độ cổ-trung đại.
Những tư tưởng triết học Ấn Độ và Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, dần hòa
quyện vào tư tưởng và văn hóa dân tộc. Lịch sử triết học cho thấy cần phải xử lý đúng đắn
mối quan hệ giữa “cái dân tộc” và “cái quốc tế”, làm cho những tư tưởng triết học của Việt
Nam ngày càng phong phú, sống động hơn trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển chung
của thế giới, nhằm đạt tới một nền văn minh hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc.
"()*$_>t2N6[`)q+).)#+)N#=)*../$]+2:;./$0.)12D+I2UT./H+?5V$
Triết học Ấn Độ ra đời trên cơ sở của một nền văn minh cổ nhất của loài người,
những truyền thống hàng ngàn năm của nó bắt nguồn từ thế kỷ XV TCN-X SCN vẫn được
bảo tồn cho đến ngày nay. Có thể chia lịch sử các học thuyết Ấn Độ thành hai thời kỳ:
- Thời kỳ Veda (XV TCN-VII TCN).
- Thời kỳ cổ điển hay còn gọi là thời kỳ Phật giáo- Balamôn (VI TCN đến thế kỷ X
SCN).
Cũng có quan niệm triết học Ấn Độ cổ-trung đại là phát triển trong khoảng từ thế kỷ
VI TCN đến thế kỷ XV SCN.
(? *@>A1:9B%::88
"b
Veda bắt nguồn từ căn tự “vid” có nghĩa đen là “hiểu biết”, “tri thức”. Veda cũng
được dùng chung với ý nghĩa là “kinh thánh”. Đối với các trường phái chính thống Veda là
những tri thức cao cả, thiêng liêng.
Trong cụ thể, Veda là một khối lượng các tác phẩm văn học được sáng tác trong
khoảng thời gian trên dưới 2000 năm, không đồng nhất về nội dung và văn phong. Cùng với
sự hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ, từ thế kỷ X TCN. Thánh kinh Veda là triết lý tôn giáo
đa thần, mà bộ phận mang tính triết học nhiều nhất là Upanshad. Đạo Balamôn dựa trên triết
lý của Upanishad và chế độ phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã của Ấn Độ cổ, là tôn giáo thờ một
thần: Tinh thần tối cao, toàn năng, tuyệt đối, sáng tạo ra tất cả và chi phối tất cả - Thần
Brahman. Đây là hình thức ban đầu của đạo Hinđu và ảnh hưởng lớn đến thế giới quan triết
học Ấn Độ cổ đại.

dạy của thánh.
+ Yajur-Veda gọi là Tế tự Veda. Nó là sự tập hợp những công thức khấn bái dùng
trong lễ nghi hiến tế. Đây là bộ kinh dành cho Hành lễ sư (Adhvaryu). Bộ này gồm 2 bộ
(Đen: Krispa và Trắng: Sukla). Bộ Trắng chỉ có các thần chú và các công thức sử dụng cho
các nghi lễ. Bộ Đen là những ý kiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó.
Thần chú trong Yajur-Veda bao gồm cả thơ và văn xuôi mang tính công thức khấn
bái dùng trong nghi lễ hiến tế. Các công thức này thường không có nghĩa. Nếu có thì là sự vô
lý hỗn loạn nên được coi là có sức mạnh ma thuật.
"e
Các hành lễ sư phải thuộc lòng các công thức trong thánh kinh này. Thánh kinh này
dạy những thể thức hành lễ, cúng bái, cách bày các loại tế khí, các đồ lễ lên bàn thờ và cách
dâng đồ lễ khi cúng tế.
+ Atharva-Veda là tập các thần chú ma thuật dùng cho các sự khẩn cầu khác nhau,
tách riêng với ba bộ kinh trên. Nó gồm 731 bài văn vần là những lời khấn bái mang tính bùa
chúa, phù phép, ma thuật nhằm đem lại những điều tốt lành cho bản thân và người thân, gây
tai họa cho kẻ thù. Atharva-Veda buổi sơ khai của đạo Balamôn được coi là thánh kinh quan
trọng nhất. Về sau, Rig-Veda thay thế vị trí của nó, nó dược xếp xuống hàng thứ tư trong
thánh kinh Veda chuyên dùng cho giới thầy pháp, thầy tu.
Trên cơ sở của thánh kinh Veda, đặc biệt là Rig-veda, Veda giáo đã hình thành, đây là
hình thức tôn giáo cổ nhất của Ấn Độ. Tôn giáo này thờ cúng thiên nhiên với các vị thần
tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên đa dạng, huyền diệu biểu hiện những tín ngưỡng,
phù phép, lễ nghi, truyền thuyết của thổ dân Dravidian mà chủ yếu là những tộc người Arian
hệ Ấn-Âu. Tôn giáo này tin và giải thích rằng trong vũ trụ đồng thời tồn tại ba lực lượng liên
quan nhau là Thần linh, Con người và Ac quỷ tương ứng với ba thế giới của vũ trụ là Thiên
giới, Trần thế và Địa ngục.
Thần linh trong Veda ngụ khắp ba cõi của vũ trụ. Thần linh rất phong phú đa dạng và
chia nhau chi phối mọi hoạt động của vũ trụ theo nguyên lý Rita (nghĩa đen là chân xác, thích
hợp, là trật tự vận hành của vũ trụ vạn vật). Theo họ, hiện thân của Thượng đế toàn năng là
Trời hay thiên giới (Dyaus), không giới hạn, chứa đựng toàn vũ trụ. Cùng với Trời là cha, là
khí dương, là tinh thần có Aditi là mẹ, là khí âm, là vật chất (vô tận). Do nguyên lý âm

sẽ được thần linh chấp nhận lễ và ban ân huệ đúng như cầu nguyện. Tất cả những linh
nghiệm, ứng báo đó đều do nguyên lý tối cao mà ra.
Dưới cái vỏ thần bí, đầy ắp các yếu tố thần thoại - tôn giáo, kinh Brahmanna cũng chỉ
ra cách lý giải căn nguyên và quá trình hình thành vũ trụ: Đi từ đơn giản đến phức tạp, từ
thấp đến cao. Vạn vật sinh, diệt, nóng, lạnh đều do âm - dương, đực-cái giao hợp trong
không gian, thời gian mà tồn tại mãi mãi. Căn nguyên của sự tồn tại mãi mãi này đều được
quy về “nguyên lý chủ đề tối cao” - Thần Brahman. Tưởng rằng nhất thần nhưng trên thực tế
họ tôn sùng ba vị thần đại diện cho một lực lượng tối cao, trừu tương, khái quát chi phối sự
hình thành, tồn tại, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ. Ba vị thần ba xu hướng, nhưng chỉ là sự
thể hiện của một quá trình thống nhất của vũ trụ: Thần sáng tạo Brahma, thần hủy diệt Shiva
còn gọi là Tamas, thần bảo vệ Vishnu còn gọi là thần Sattava (thuần khiết, tính tĩnh).
Khi bàn về con người, kinh Brahmanna cho rằng, giữa mỗi kiếp người luôn có cái
duyên ràng buộc. Càng tu nhân, tích đức, làm nhiều điều thiện thì càng tạo ra nhiều những
nhân duyên tốt của hạnh phúc, cực lạc cho kiếp sau. Điều đó chỉ có thể thực hiện và đạt được
hiệu quả ứng nghiệm hiện tại nếu con người kính cẩn, tôn sùng, siêng năng khấn bái, chiêm
nghiệm sự linh báo ở thần linh.
+ Aranyaka-Veda là sự kế tiếp sự phát triển của Brahmanna. Nó có tên gọi là “Kinh
rừng” (Sấm lâm thư). Tập này tính triết học còn rất ít. Nó chủ yếu giải thích ý nghĩa huyền
bí, bí truyền của những lễ nghi và phát hiện những ý nghĩa triết lý cao siêu. Muốn được bí
truyền các tăng đồ phải vào sâu trong rừng, núi rậm, u tịch, vắng lặng và đem hết tâm trí ra
mà suy tư trong nhiều năm. Những cao tăng thấu đạt nghĩa lý siêu hình, uyên thâm của thánh
kinh Vêđa được tôn trọng ngang gần giới Balamôn.
+ Upanishad là tập muộn nhất và có nhiều tri thức triết học hơn cả. Nó là những lời
bình giải tôn giáo - triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa của từng cuộc tế lễ, về những lẽ
huyền bí sâu kín trong các kinh cầu nguyện, các bài thần chú và về những điều chủ yếu trong
các bài thần chú. Upanishad nghĩa là tư tưởng bí mật, là ngồi xung quanh ai đó để trao đổi
riêng. Nó có 18 tập với 200 bài kinh, được biên soạn qua những niên đại khác nhau từ thế kỷ
X đến thế kỷ VI TCN. Trong đó có các bộ kinh quan trọng như: Brithda aranyaka,
Chandogya, Isha, Katha
Nội dung Upanishad là sự giải phóng tư duy người Ấn Độ cổ, nó biểu hiện những

cho tất cả các trường phái triết học duy tâm và tôn giáo của Ấn Độ sau này, đặc biệt là đối
với đạo Balamôn và Hindu.
Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thậm chí trái ngược nhau khi cho rằng
Upanishad là cơ sở của những quan điểm khác nhau của các trường phái triết học khác nhau.
Chẳng hạn: Vedanta chỉ dựa vào Upanishad, nó không nghi ngờ Sama-veda và Brahmanna-
veda nhưng đã lờ đi. Mimansa cố đưa những chứng cớ phức tạp để chứng minh Upanishad là
đúng, là vĩnh hằng nhưng trên thực tế nó ủng hộ những quan điểm triết học mà Upanishad
chống lại. Cái say mê của Mimansa là nghi lễ, là những điều cấm kỵ. Điều này đúng ở Yajur-
veda và Brahmanna-veda chứ không thể là của Rig-veda và Upanishad. Tuy vậy, triết lý
Veda và Upanishad cùng với đạo Balamon là hệ tư tưởng thống trị trong đời sống tinh thần
người Ấn Độ cổ đại. Uy thế của nó mạnh đến mức nó được mệnh danh là tư tưởng triết học
chính thống của Ấn cổ. Tất cả những trào lưu vô thần, duy vật, chống lại uy thế của nó đều bị
coi là tà giáo, là không chính thống.
"(3`5\$_O=N6./$0.)12?$J;nL;+.;Nu$HLL;);
( +5:9B
Vedanta có nghĩa là kết thúc veda. Nó được coi như là sự kế tục giai đoạn cuối vùng
của veda. Vedanta đã phát huy những tư tưởng triết học trong Upanishad, kinh chủ yếu của
Vedanta là Vedanta-sutra được coi là của Badarayana, nhưng cho đến nay ta vẫn chưa có tiểu
sử của người này. Bộ chú giải kinh này có nhiều tác giả, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau. Ta
chỉ biết nó được xếp là đối lập với Samkhuya, như vậy rất có thể nó ra đời từ thế kỷ VII
TCN.
Nội dung triết học của Vedanta nhìn chung là duy tâm rất trung thành với Upanitshad.
Cụ thể:
Do nội dung của Upanishad không thống nhất nên trước hết Vedanta là sự hệ thống
hóa, thống nhất các quan điểm triết học chứa đựng trong Upanishad. Điều này thể hiện rõ
trong kinh vedanta-sutra (còn gọi là Brahmanna-sutra). Nói chung có thể chia thành hai
thuyết chính:
(("C+D"C6:9B:9BEFB> 
Phái này còn gọi là lý thuyết ảo ảnh, coi Brahman là tồn tại tuyệt đối, nó đồng nhất
với cái “tôi” (Atman) với nghĩa là ý thức thuần túy. Theo họ, thế giới vật chất tuyệt đối

nguyên. Nếu có điều khác biệt thì là ở chỗ: nếu nhất nguyên chỉ thừa nhận duy nhất Brahman
tồn tại, hiện hữu thì họ thừa nhận có 3 thực thể tồn tại là Brahman, linh hồn cá thể (Atman)
và thế giới vạn vật. Cụ thể:
+ Theo họ, Brahman là đấng sáng tạo tối cao duy nhất, toàn năng, toàn đức mà ngoài
Vishnu (thần bảo vệ tồn tại, thuần khiết còn gọi là Sattva) không có thần nào sánh kịp.
Brahman sáng tạo ra tinh thần, kết hợp tinh thần thành linh hồn cá thể (thực thể linh hồn) sau
đó tạo ra thế giới vật chất. Brahman là cái có trước thế giới, là cái tạo ra thế giới. Mọi sự vật
hiện tượng và thế giới đều là hiện thực của Brahman.
+ Theo họ, 3 thực thể luôn tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc quy định nhau. Trong
đó, thực thể tối cao là Brahman, có quyền uy toàn năng, vừa sáng tạo duy nhất đối với linh
hồn và thế giới vạn vật. Thế giới vật chất, thể xác là thực thể thấp nhất, luôn thụ động. Còn
linh hồn là hiện thân của Brahman nó trú ngụ hội nhập trong thể xác và làm chủ thể xác.
+ Khi bàn về con người, nội dung tư tưởng triết học của phái này vẫn là giải thoát
luận. Theo họ, linh hồn cá biệt là một bộ phận và cùng một thể với Brahman. Nhưng linh hồn
có tư duy ý tưởng để sinh ra ý thức, nhận thức chỉ huy hành vi, hành động của thể xác. Từ
đó, họ cho rằng ý thức, hành vi cũng như hành vi có ý thức của con người đều phải nhận biết
rõ bản chất, nguồn gốc của mình là thành tâm, thiện ý, tôn sùng, kính yêu đấng sáng tạo
Brahman. Tức phải nổ lực để linh hồn của mình hòa nhập với Brahman, là giải thoát linh hồn
khỏi thực thể thấp nhất - vật chất.
+ Nhìn chung, tư tưởng triết học của phái không nhị nguyên phân lập hướng con
người vào quy y, vào “tín ngưỡng tâm” thờ hai thần nhất thể Brahma (sáng tạo, toàn năng) và
Vishnu (bảo vệ, thuần nhất).
((:LK":9BMNHIO L"PH#
QPhái đồng nhất trong sự khác nhau, coi Brahman và Atman là thống nhất về bản
chất, đều là tinh thần. Nhưng Atman trú ngụ trong vạn vật còn Brahman khách quan, độc lập
với con người, giữa Brahman và Atman được ví như biển và sóng biển.
33
+ Nhất nguyên có giới hạn (không nhị nguyên có phân lập ở thế kỷ IX) coi Brahman
là cái tồn tại tuyệt đối, toàn năng, sáng tạo. Đồng thời tồn tại linh hồn (cita), và vật chất
(acita) nhưng sự tồn tại của chúng là tồn tại trong Brahman.

Theo truyền thuyết, Phật có tới 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm con của vua
Sakya. Trong những tiền kiếp trước ông là những con người, hoặc là những con vật, đều đầy
lòng từ-bi-hỷ-xả, sẵn sàng hy sinh vì đồng loại. Kiếp gần nhất của ông là voi trắng 6 ngà.
Khi mới sinh ra, Phật có 32 dị tướng (tam thập nhị), 82 đặc điểm phi thường (bát thập
nhị chủng hảo) trong đó có việc vừa được sinh ra đã đi dược bảy bước, và đã được tiên đoán
là sẽ thành Hoàng Đế trị vì thiên hạ, nếu không thì cũng là đức Phật cứu nhân độ thế. Phật
được vua cha cưới vợ cho vào năm 19 tuổi. Năm 29 tuổi, khi đã có một con trai, ông xuất gia
tu hành theo phương pháp khổ hạnh, hành khất về phương Nam. Ông thiền định khổ hạnh
trong 6 năm, đến mức thân hình gầy yếu chỉ còn da bọc xương, nhưng vẫn không đắc đạo.
Ông đã suy nghĩ “ta tu khổ hạnh, ép xác như thế này mà không thấy đạo, thì cách tu của ta
chưa phải, chi bằng ta phải theo trung đạo, tức không say mê việc đời, mà cũng không quá
khắc khổ ”. Năm đạo sỹ cùng tu hành với Tất Đạt Đà, tưởng ngài thoái chí, nên bỏ ngài mà
đi tu chỗ khác. Còn lại một mình, một buổi trưa sau khi tắm rửa xong và uống một cốc sữa
của người chăn bò đưa cho, ông cảm thấy khoan khoái, tinh thần tỉnh táo hẳn lên, ông một
mình đến ngồi dưới gốc cây bồ đề (Bobdi - Tấtbatla) thiền - tịnh trong 49 ngày thì quả nhiên
giác ngộ, thấy được căn nguyên sinh-thành-biến-hóa của vạn vật, vũ trụ, nhân sinh; tìm ra
3<
nguồn gốc của nổi khổ và phương pháp trừ nổi khổ cho sinh linh. Ông xuất gia ngày 8/2/595
(535) TCN, giác ngộ thành Phật ngày 8/12/589 (529) TCN. Ông đã truyền đạo của mình
trong 45 năm nữa, và nhập Niết bàn 15/2/543 (483) TCN.
Từ khi ra đời cho đến nay Phật giáo đã trải qua 4 lần kết tập (Đại hội).
+ Kết tập lần 1 được tổ chức sau khi Phật tịch khoảng 100 ngày (khoảng thế kỷ V
TCN), do Đại Ca Diếp triệu tập và làm chủ tọa. Đại hội này kéo dài 7 tháng, có 500 tỳ kheo
tham dự. Tại Đại hội này, Ananđa kể lại lời Phật dạy về giáo lý. Ưu Bà Ly kể lại lời Phật nói
về giới luật tu hành. Đại Ca Diếp kể về những lời luận giải của Phật về giáo lý và giới luật.
Như vậy, về nguyên tắc tam tạng của Phật giáo được khởi soạn từ đây, nhưng tất cả đều
không được ghi bằng văn tự.
+ Kết tập lần 2, được tiến hành khoảng thế kỷ IV TCN, kéo dài 8 tháng, với 700 tỳ
kheo tham dự. Đại hội lần này, chủ yếu giải quyết những bất đồng về việc thực hành giới luật
và luận giải kinh điển. Đại hội này, đánh dấu cho việc tách Phật giáo thành 2 phái: Thượng

Phật giáo ở Ấn Độ. Nhưng từ thế kỷ III TCN trở đi, Phật giáo đã nhanh chóng lan nhanh trên
phạm vi thế giới, trở thành một trong ba tôn giáo thế giới lớn nhất.
#. B"MMR +574S6J #0
Tư tưởng triết học Phật giáo được chứa đựng trong “Tam tạng”. Kho kinh điển này
gồm hơn 8400 cuốn, thuộc tiếng Paly (Nam Ấn) và Sanskrit (Bắc Ấn). Ngoài ra sự phát triển
3W
của Tiểu thừa và Đại thừa đã làm phong phú thêm những tư tưởng triết học sơ kỳ của Phật
giáo. Dù sao, tư tưởng cốt lõi cũng không ngoài phạm vi những tư tưởng sơ kỳ sau đây:
4(2S!"J+ T U"
b1.1) Lý “nhân duyên khởi”
Nguyên lý “Nhân duyên khởi” coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên nhân tự thân,
không do một đấng thần linh nào tạo ra cả. Sự đa dạng của tồn tại là do “Nhân duyên” tạo ra:
nhân duyên hội thì sự vật tạo ra. Nhân duyên hết thì sự vật không còn.
“Nhân duyên” quan hệ chặt chẽ với “nhân quả”. Nhân là nghiệp lực. Quả là nghiệp
lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên.
“Nhân duyên khởi” và “nhân quả” là nguyên lý phổ biến tuyệt đối của mọi tồn tại.
“Duyên” ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh ra cái mới, vừa là kết quả của quá
trình biến đổi cái cũ trước đó. Nhân nhờ duyên mà thành quả, quả nhờ duyên mà thành nhân
mới, nhân mới nhờ duyên thành quả mới, Quá trình cứ thế nối nhau vô cùng, vô tận mà thế
giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa không ngừng.
Lýnhân duyên giải thích căn nguyên biến hóa vô thường của vạn pháp. Tất cả vạn
pháp không thoát ra được sự chi phối của luật nhân quả. Cái gì tác động ở vật gây ra kết quả
gọi là nhân. Cái gì kết tập lại từ nhân gây ra gọi là quả. Duyên là sự tương hợp, là điều kiện
giúp cho sự khởi sự của vạn pháp. Có lục nhân, tam duyên, tứ duyên và thập nhị nhân duyên.
Lục nhân gồm: 1) Tương ứng nhân: nhân của tâm vương và tâm sở tương ứng nhau
mà có (Tâm vương là cái tâm làm chủ cái thức, tâm sở là cái tâm đã thụ tưởng, hành, thức).
2) Câu hữu nhân: Nhân của tâm vương và tâm sở cùng có mà giúp lẫn nhau.
3) Đồng loại nhân: Nhân cùng một loại.
4) Biến hành nhân: Nhân cùng khởi một lúc khắp cả trong khổ đế và tập đế.
5) Dị thục nhân: Nhân làm điều thiện hoặc ác ở đời này thì đời sau sẽ thành ra ở đời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status