Đề án
Khái quát về quá trình hình thành
và phát triển của thị trường tiền
tệ Việt Nam
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
Mục Lục
Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trường tiền tệ Việt Nam 1
Mục Lục 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN I: Một số khái niệm về thị trường tiền tệ 4
I. Khái niệm thị trường tiền tệ 4
II. Các thành viên tham gia thị trường tiền tệ 4
1.Các Ngân hàng thương mại (NHTM) 4
2. Ngân hàng Trung ương (NHTW) 4
3. Các tổ chức tài chính phi Ngân hàng 4
4. Các tổ chức phi tài chính (Các công ty sản xuất kinh doanh) 4
5. Các cá nhân 5
III. Các bộ phận của thị trường tiền tệ 5
PHẦN II: Một số nét khái quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trường tiền tệ
Việt Nam 7
I. Một số nét khái quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trường tiền tệ Việt
Nam 7
1. Các bộ phận cấu thành của thị trường tiền tệ ở Việt Nam 7
2. Một số nguyên nhân làm cho thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển 10
II. Một số hạn chế, bất cập của thị trường tiền tệ 12
1. Hạn chế về công cụ giao dịch, loại nghiệp vụ trên thị trường 12
2. Hạn chế về thành viên tham gia thị trường 13
3. Hạn chế về lãi suất trên thị trường tiền tệ 14
III. Những định hướng và các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và bất cập của
thị trường tiền tệ 15
PHẦN III: Một số mục tiêu, định hướng phát triển thị trường tiền tệ trong những năm tới
ngắn hạn. Nó đóng vai trò là thị trường thứ cấp của các công cụ nợ dài hạn, là thị
trường có độ an toàn cao và là thị trường bán buôn hữu hiệu. Thị trường tiền tệ
được biết đến như là một thị trường phi tập trung, sôi động và mang tính toàn cầu.
Các giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có thời hạn ngắn và rất ngắn, đặc
biệt thị trường cho vay qua đêm rất phát triển và chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
doanh số hoạt động của thị trường tiền tệ. Khởi nguồn từ hoạt động cho vay,đi vay
giữa các ngân hàng, thị trường tiền tệ ngày càng phát triển đa dạng và linh hoạt.
Với mục tiêu ban đầu là thị trường để bảo đảm khả năng thanh khoản của các
trung gian tài chính, thị trường tiền tệ đã phát triển trở thành thị trường đầu tư vốn
ngắn hạn, thị trường kinh doanh chênh lệch giá, thị trường của các công cụ phòng
ngừa rủi ro và các thị trường phái sinh. Thị trường tiền tệ là thị trường hết sức
nhạy cảm với những sự kiện biến động về kinh tế, chính trị, xã hội vì vậy nó được
coi như là thước đo của nền kinh tế.
II. Các thành viên tham gia thị trường tiền tệ
1. Các Ngân hàng thương mại (NHTM)
Các NHTM là các đơn vị tham gia thị trường này tích cực nhất và thường
xuyên nhất thông qua các hoạt động huy động vốn, cho vay ngắn hạn, đầu tư tài
chính ngắn hạn nhằm mục đích bảo đảm khả năng thanh toán chi trả của ngân
hàng. Nhằm thu lợi nhuận và sữ dụng các khoản vốn dư thừa hiệu quả nhất.
2. Ngân hàng Trung ương (NHTW)
NHTW mua bán tín phiếu kho bạc nhà nước, tín phiếu. NHTW cho vay chiết
khấu vói NHTM, tái chiết khấu các chứng từ có giá của NHTM nhằm mục đích
điều hoà tiền tệ trong lưu thông và thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ.
3. Các tổ chức tài chính phi Ngân hàng
Khác với Ngân hàng là không được thanh toán cho khách hàng và không tham
gia hoạt động tạo tiền
Tham gia vào thị trường tiền tệ với mục đích giống như NHTM
4. Các tổ chức phi tài chính (Các công ty sản xuất kinh doanh)
Bộ phận kế toán của các tổ chức phi tài chính tham gia vào thị trường tiền tệ
thường xuyên và tích cực.
Thông thường lãi xuất của kỳ hạn ngắn bé hơn lãi xuất dài. Vì vậy việc bán
diễn ra dễ dàng và có lợi. Trong trường hợp lãi xuất của kỳ hạn ngắn lớn hơn lãi
xuất dài hạn vẫn bán được nhưng người bán chịu lỗ
+ Nghiệp vụ kinh doanh dựa vào sự chênh lệch giá
Tại một thời điểm nhất định trên thị trường hai công cụ khác nhau cùng kỳ
hạn có lãi xuất khác nhau
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang5
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
Hai công cụ giống nhau, khác nhau vè kỳ hạn thì lãi xuất khác nhau
Thông thường mức chênh lệch giữa chúng là ổn định
+ Kinh doanh dựa vào dự đoán thời điểm lãi xuất (đường cong lãi xuất)
Theo lý thuyết : Thời hạn càng dài thì lãi xuất càng cao. Vì vậy dựa vào điều
kiện này người ta có thể tìm kiếm một khoản lời nhất định. Có 2 trường hợp
- Đối với người cho vay: Khi họ có một món tiền nhàn rổi trong thời
hạn ngắn nhưng họ sẽ đầu tư vào một công cụ có kỳ hạn dài hơn để
hưởng lãi cao hơn. Khi đến hạn cần tiền thì sẽ bán ra.
- Đối với người đi vay: Mặt dù họ thiếu vốn trong thời hạn dài nhưng
họ dự đoán lãi xuất cho vay sẽ giảm xuống trong tương lai gần. Họ sẽ
vay tiền như thời gian dự đoán đến lúc đó lãi hạ xuống như dự đoán
họ sẽ vay mới để trả nợ cũ
7. Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và lạm phát
Trên thị trường tiền tệ người ta mua bánỉơ hữu mua bán các chứng khoán
ngắn hạn để hưởng lãi với mức thấp. Vì vậy nếu lạm phát xãy ra với mức cao thì
thị trường tiền tệ không tồn tại
Trong trường hợp lạm phát cao nếu không có sự tồn tại và phát triển của thị
trường tiền tệ thì lạm phát sẽ càng trở nên tăng mạnh
Thông thường nhà nước phải lựa chọn một trong hai mục tiêu trước mắt đó là
+ Duy trì lạm phát
+ Chấp nhận suy thoái để thực hiện chính sách lãi xuất để gây dựng thị
trường tiền tệ nhằm khắc phục lạm phát
giấy tờ có giá, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ …
Thành viên tham gia thị trường, hàng hóa giao dịch trên thị trường cũng như
doanh số hoạt động của các nghiệp vụ thị trường tiền tệ đều được từng bước mở
rộng; hoạt động của thị trường đã từng bước được hiện đại hoá, đáp ứng được yêu
cầu hội nhập.
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang7
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
Trước hết, cần phải kể đến thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, nơi
thực hiện việc điều tiết vốn ngắn hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ giữa các
ngân hàng.
- Về thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành từ năm 1993 dưới hình
thức ban đầu là một thị trường tập trung, có tổ chức qua NHNN. Tuy nhiên, từ
năm 1997, hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp
vay mượn lẫn nhau không thực hiện thông qua NHNN. Nhìn chung, các ngân
hàng thường có quan hệ với nhau đã dựa trên mức độ tín nhiệm để thỏa thuận
phương thức giao dịch, thời hạn, lãi suất cũng như các điều kiện đảm bảo tiền vay.
Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức
tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay…. Thậm chí
một số ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn
nhau. Cho đến nay, doanh số hoạt động trên thị trường đã tăng đáng kể, phương
thức giao dịch của thị trường ngày càng đổi mới, hầu hết các giao dịch đều thực
hiện qua mạng.
- Về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: Từ khi chính thức hình thành năm
1994 đến nay, thị trường đã có những chuyển động đáng kể, đóng vai trò quan
trọng trong việc kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Thông qua thị
trường, NHNN đã theo dõi được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân
hàng, nắm bắt diễn biến cung cầu và tham gia thị trường với vai trò người mua bán
cuối cùng. NHNN thực hiện can thiệp thị trường khi cần thiết nhằm thực hiện mục
tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 1999 đến nay, bên cạnh việc
điều hành linh hoạt tỷ giá, việc NHNN thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời
gián tiếp của NHNN. Đến nay tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM chủ yếu
được thực hiện dưới các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có đảm bảo
bằng cầm cố giấy tờ có giá. Các hình thức cho vay theo chỉ định của Chính phủ
trước đây (từng chiếm tỷ trọng lớn trong cho vay tái cấp vốn) đã giảm mạnh qua
các năm. Thủ tục, quy trình xử lý đề nghị vay tái cấp vốn từng bước được tinh
giản, tạo thuận lợi cho các ngân hàng. Cơ chế tái cấp vốn được áp dụng bình đẳng
cho tất cả các ngân hàng, không phân biệt loại hình sở hữu. Đặc biệt từ năm 2003,
thực hiện Luật sửa đổi một số Điều Luật Ngân hàng Nhà nước, NHNN đã cho
phép cả các giấy tờ có giá dài hạn như các loại trái phiếu Chính phủ được sử dụng
trong các giao dịch giữa NHNN và các ngân hàng. Điều này làm tăng đáng kể
khối lượng giấy tờ có giá được giao dịch với NHNN, mở rộng khả năng tiếp cận
của các ngân hàng đối với các kênh hỗ trợ vốn của NHNN, tạo điều kiện nâng cao
khả năng điều tiết của NHNN đối với thị trường tiền tệ. Đến nay, bên cạnh các
NHTM Nhà nước, khá nhiều NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đã tiếp cận các kênh hỗ trợ vốn nêu trên của NHNN.
Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu ngày càng được điều hành linh hoạt,
phù hợp với mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ. Từ năm 2003, lãi suất tái cấp vốn
và lãi suất chiết khấu được điều chỉnh dần để hình thành khung lãi suất định
hướng lãi suất thị trường. Cùng với việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu để trở thành
lãi suất sàn, NHNN đã thực hiện phân bổ hạn mức chiết khấu cho các ngân hàng.
Qua đó, nghiệp vụ chiết khấu được điều hành như một kênh hỗ trợ vốn thường
xuyên với giá rẻ từ NHNN. Trong khi đó, nghiệp vụ cho vay có bảo đảm bằng
cầm cố giấy tờ có giá áp dụng lãi suất tái cấp vốn là mức lãi suất trần để NHNN
từng bước thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị trường.
Ngoài các kênh hỗ trợ vốn ngắn hạn của NHNN thông qua nghiệp vụ thị
trường mở, nghiệp vụ tái cấp vốn, NHNN còn thực hiện cho vay thấu chi và cho
vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng. Thêm vào đó, từ 7/2001,
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang9
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
NHNN bắt đầu thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ các tổ chức tín
thương mại có khả năng tài chính lớn, phạm vi hoạt động rộng và đưa ra các “sản
phẩm dịch vụ ” thoả mãn được nhu cầu đa dạng của thị trường. Các ngân hàng
thương mại thường đóng vai trò là những người tạo lập thị trường (market maker),
cụ thể là phải thường xuyên yết giá 2 chiều của tất cả các công cụ của thị trường.
Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa làm được điều này. Ngay thị
trường vốn ngắn hạn liên ngân hàng là thị trường hoạt động tích cực nhất hiện nay
thì các ngân hàng tham gia cũng nhằm đáp ứng mục tiêu bảo đảm thanh khoản là
chủ yếu (chưa đặt vấn đề kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường này). Vì vậy,
các ngân hàng cũng thường chỉ đặt giá 1 chiều (vay hoặc đi vay) khi có nhu cầu
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang10
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
phát sinh. Vai trò tạo lập thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn
rất mờ nhạt.
Thứ hai, sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động của thị trường tiền tệ. Sự thiếu
chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ các công cụ của thị trường không theo những quy
chuẩn của thị trường. Hiện nay, trên thị trường tiền tệ Việt Nam đã hình thành một
số “hàng hoá” nhất định, có thể tham gia giao dịch như tín phiếu, trái phiếu Kho
bạc Nhà nước; giấy tờ có giá của các ngân hàng thương mại; trái phiếu của chính
quyền địa phương (Tp. Hồ Chí Minh), trái phiếu doanh nghiệp (Tổng Công ty dầu
khí) và tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, khối lượng các công cụ có
thể giao dịch được trên thị trường không lớn và chưa đáp ứng được yêu cầu của thị
trường. Để thị trường thứ cấp giao dịch giấy tờ có giá phát triển đòi hỏi các thủ tục
mua - bán, trao đổi phải hết sức đơn giản, thuận tiện trong khi đó phần lớn các
giấy tờ có giá hiện nay đều là các giấy tờ có giá ghi danh. Những tín phiếu, trái
phiếu vô danh chiếm một tỷ trọng rất nhỏ vì thế gây ra sự bất tiện khi giao dịch
trên thị trường. Mặt khác, thời hạn của các giấy tờ có giá đơn điệu và phụ thuộc
chủ yếu vào nhu cầu vốn của người phát hành. Tín phiếu kho bạc là một ví dụ điển
hình: Bộ Tài chính trong những năm qua chủ yếu phát hành loại tín phiếu kho bạc
có thời hạn là 364 ngày, vì thế không thể căn cứ vào lãi suất tín phiếu kho bạc để
xác định đường cong lãi suất chuẩn của thị trường. Sự thiếu tính chuyên nghiệp
rất được ưa chuộng giao dịch trên thị trường tiền tệ; tuy nhiên, hiện nay việc phát
hành tín phiếu kho bạc chủ yếu với mục đích bù đắp thiếu hụt của Ngân sách Nhà
nước mà chưa chú trọng đến vai trò thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển của nó,
cho nên hiện nay, Bộ Tài chính chỉ phát hành một loại kỳ hạn 364 ngày là chủ yếu
(ở nhiều quốc gia, ví dụ Singapore, mặc dù Ngân sách luôn bội thu nhưng Trái
phiếu Chính phủ vẫn được phát hành với khối lượng lớn, thời hạn đa dạng để phục
vụ cho hoạt động của thị trường tiền tệ).
Thứ tư, xuất phát điểm thấp của nền kinh tế và công tác thông tin tuyên truyền
cho các sản phẩm của thị trường tiền tệ chưa đáp ứng được yêu cầu. Xuất phát
điểm từ một nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, lại trải qua một thời gian dài
trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, cho nên cơ sở hạ tầng cũng như nhận thức
của công chúng về nền kinh tế thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính - thị
trường tiền tệ còn rất hạn chế. Đơn cử ví dụ, hình thức gửi tiền truyền thống của
dân chúng hiện nay vẫn là gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại và giữ đến
khi đáo hạn để hưởng lãi; Đa phần người dân chưa có thói quen mua các công cụ
nợ (như tín phiếu, trái phiếu) và mua bán lại các công cụ nợ đó trên thị trường. Vì
vậy, muốn thị trường tiền tệ phát triển thì đòi hỏi các đơn vị có liên quan (đặc biệt
là hệ thống ngân hàng) phải tích cực thông tin, tuyên truyền, quảng cáo về các tiện
ích của các giao dịch trên thị trường tiền tệ. Trong thời gian qua, do các ngân hàng
chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động của thị trường tiền tệ; vì vậy, công tác
thông tin, tuyên truyền còn hạn chế; thị trường giao dịch giữa khách hàng với các
ngân hàng không phát triển, dẫn đến thiếu cơ sở vững chắc cho thị trường giữa các
trung gian tài chính.
II. Một số hạn chế, bất cập của thị trường tiền tệ
Bên cạnh những kết quả chủ yếu nêu trên, cho đến nay thị trường tiền tệ Việt
Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập.Trước hết, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn
còn phát triển ở mức độ thấp xét trên cả góc độ quy mô, nhất là chủng loại hàng
hóa, công cụ giao dịch trên thị trường. Thứ hai, do nhiều nguyên nhân mà thị
trường tiền tệ Việt Nam chưa thực sự thực hiện có hiệu quả vai trò tiếp nhận và
chuyển tải tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
còn hạn hẹp. Chẳng hạn, trên thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc, thành viên
chủ yếu vẫn là các NHTM Nhà nước. Ngoài ra, có khoảng 10 NHTM cổ phần,
ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã bước đầu tham gia
nghiệp vụ này. Trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ giữa NHNN và
các ngân hàng, ngoài các NHTM Nhà nước, cũng chỉ có khoảng 12-14 NHTM cổ
phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là thành viên thường xuyên tham gia.
Đặc biệt, trên thị trường nội tệ liên ngân hàng đã hình thành nhóm các ngân
hàng thường cung ứng nguồn tiền VND chủ yếu là các NHTM Nhà nước và
ngược lại nhóm các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng liên doanh là các ngân hàng thường có nhu cầu vay tiền VND. Việc điều
chuyển vốn thường chỉ diễn ra một chiều giữa nhóm các ngân hàng thường cho
vay và nhóm ngân hàng thường đi vay.
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang13
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
Trên thực tế thị trường hầu như chưa hình thành các thành viên có tính chuyên
nghiệp như các nhà môi giới, các nhà tạo lập thị trường, các công ty đánh giá xếp
loại…Điều này làm hạn chế sự phát triển của thị trường.
Ngoài ra, việc tham gia của các thành viên trên thị trường tiền tệ còn hạn chế
chủ yếu là do các NHTM (là thành viên chủ yếu của thị trường), vẫn đang trong
quá trình cơ cấu lại và đang triển khai dự án hiện đại hoá hệ thống thanh toán.
Việc quản lý vốn tập trung trực tuyến trong hệ thống còn khó khăn. Nhiều ngân
hàng chưa thực hiện được việc theo dõi, phân tích luồng luân chuyển vốn theo
từng kỳ hạn, nên năng lực quản lý vốn còn hạn chế. Bản thân một số ngân hàng
chưa thực sự quan tâm, chưa chủ động trong việc tham gia các nghiệp vụ thị
trường tiền tệ.
Về phía NHNN, cũng chưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò hướng dẫn, điều
tiết thị trường. Cho đến nay, NHNN chưa có hệ thống mạng theo dõi kịp thời toàn
bộ diễn biến trên thị trường tiền tệ nên việc thực hiện vai trò điều tiết tiền tệ còn
có khó khăn. Hệ thống văn bản pháp lý cho hoạt động thị trường tiền tệ đã được
NHNN triển khai một bước nhưng chưa đồng bộ. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt
cường vai trò giám sát, điều hành, khả năng kiểm soát, điều tiết thị trường của
NHNN; phát triển thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc; tăng cường hoạt động
nghiệp vụ thị trường mở, tăng số lượng và chủng loại chứng khoán có độ an toàn
và tính thanh khoản cao được phép giao dịch; tăng cường sự liên kết giữa các thị
trường tiền tệ bộ phận, giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán nhằm
tăng tính linh hoạt của thị trường, khả năng phòng ngừa và khả năng chuyển đổi
rủi ro giữa các thị trường; hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động thị trường
tiền tệ.
Để thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển cần có sự phối hợp chặt chẽ của các
ngành, các cấp đồng thời thực hiện một cách đồng bộ
Một là, chuẩn hoá các công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ: Để thị trường
thứ cấp phát triển thì một mặt, phải tạo nên nhiều “hàng hoá” đồng thời phải chuẩn
hoá các công cụ tài chính trên thị trường. Trong thời kỳ đầu, cần phải tăng cường
việc phát hành các giấy tờ có giá dưới dạng chứng chỉ để công chúng nắm giữ (sau
này khi thị trường đã phát triển thì có thể phát hành thông qua ghi sổ tại ngân
hàng). Các giấy tờ có giá này phải bảo đảm lưu thông một cách dễ dàng, điều này
đồng nghĩa với việc các giấy tờ có giá này phải không ghi danh và có thể chuyển
nhượng, chiết khấu, thanh toán một cách dễ dàng (như vậy các giấy tờ có giá này
sẽ phải được thiết kế an toàn giống như tiền). Ngoài ra, thời hạn của các giấy tờ có
giá này phải đa dạng để đáp ứng nhu cầu của thị trường (nhất là tín phiếu kho bạc
và các chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng).
Để phát triển thị trường tiền tệ và thị trường tài chính, đề nghị Bộ Tài chính
xem xét phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc thêm nhiều loại kỳ hạn, như 1
tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… (Kho bạc Mỹ thường công bố kế hoạch đấu
thầu tín phiếu, trái phiếu kho bạc hằng năm, với thời hạn từ 4 tuần đến 10 năm).
Hai là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường tiền tệ:
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường tiền tệ cần tập trung
vào các nội dung sau:
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang15
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
- Thực hiện việc liên kết giữa các ngân hàng trong việc sẵn sàng chiết khấu các
giấy tờ có giá do các ngân hàng khác phát hành; hoặc tổ chức thanh toán bù trừ về
nghiệp vụ này.
- Nâng cao vai trò người cho vay cuối cùng của Ngân hàng Nhà nước, thông
qua nghiệp vụ thị trường mở và nghiệp vụ cho vay qua đêm đối với các ngân
hàng.
Bốn là, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng để phục vụ cho các giao dịch trên thị
trường tiền tệ và thu thập xử lý thông tin của thị trường.
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang16
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
Các giao dịch trên thị trường tiền tệ đòi hỏi phải thực hiện nhanh và trên phạm
vi rộng (toàn cầu) vì vậy đòi hỏi việc chào giá, thoả thuận và thực hiện giao dịch
phải thông qua hệ thống mạng có độ an toàn cao. Hiện nay, gần 30 ngân hàng
thương mại đã thực hiện giao dịch vốn (gửi tiền/cho vay và nhận tiền gửi/ đi vay)
liên ngân hàng thông qua hệ thống giao dịch của Hãng Reuters.
Tuy nhiên, do thông tin (lãi suất, thời hạn…) trên thị trường liên ngân hàng rất
quan trọng đối với Ngân hàng Trung ương trong việc điều hành chính sách tiền tệ
quốc gia cho nên ở các nước có thị trường phát triển thì Ngân hàng Trung ương
thường xây dựng các mạng riêng của mình (như Fed Wire của Mỹ; BOK Wire của
Hàn Quốc…) và cho phép các ngân hàng thực hiện các giao dịch vốn ngắn hạn
liên ngân hàng thông qua mạng này. Việc hình thành mạng này có vai trò tích cực
đối với hoạt động của thị trường vì thông qua việc cho phép các ngân hàng giao
dịch qua mạng này, Ngân hàng Trung ương có thể nắm bắt được đầy đủ các thông
tin về thị trường và thực hiện vai trò kiểm soát thị trường của mình. Đối với các
ngân hàng thì giao dịch qua mạng của Ngân hàng Trung ương sẽ tiết kiệm được
chi phí (nhiều nước Ngân hàng Trung ương còn miễn phí giao dịch thông qua
mạng này) so với thuê của các tổ chức khác. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần
nghiên cứu để đầu tư một thiết bị mạng tương tự.
Ngoài ra, cần phải thu thập, phân tích và công bố các chỉ số cơ bản của thị
trường để công chúng và các định chế tài chính tham khảo. Trong các thông số đó
Chính vì vậy, mục tiêu chiến lược phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam trong
thời gian tới là phát triển thị trường tiền tệ để thực hiện có hiệu quả vai trò điều
tiết cung cầu vốn ngắn hạn, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền
vững phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường tiền tệ
Để thực hiện mục tiêu, định hướng nêu trên, một số giải pháp chủ yếu về phát
triển thị trường tiền tệ Việt Nam cần được tập trung thực hiện là:
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền
tệ
(i) Sớm hoàn chỉnh các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Công cụ chuyển
nhượng để mở rộng áp dụng các công cụ mới (như thương phiếu) trên thị trường.
Đối với các công cụ đã hình thành trên thị trường như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu
của các NHTM cần tiếp tục chuẩn hóa để tạo điều kiện cho các công cụ này
được giao dịch trên thị trường thứ cấp.
(ii) Ban hành đồng bộ văn bản hướng dẫn thực hiện các công cụ phái sinh,
công cụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh các nghiệp vụ kỳ hạn
và hoán đổi, cho phép các NHTM thực hiện giao dịch quyền chọn, tương lai để
phòng ngừa rủi ro tỷ giá, góp phần cải thiện tính thanh khoản cho thị trường.
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang18
Đề án môn học GVHD : Nguyễn Ngọc Anh
(iii) Tiếp tục hoàn thiện các văn bản tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của
thị trường thứ cấp (như ban hành quy định về việc mua bán giấy tờ có giá giữa các
TCTD; bổ sung, sửa đổi quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá của TCTD đối
với khách hàng ) nhằm tăng tính thanh khoản của các công cụ trên thị trường tiền
tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và các thành
viên khác trên thị trường.
(iv) Tiếp tục triển khai việc hoàn thiện các văn bản pháp lý cho việc hình thành
và phát triển các thành viên chuyên nghiệp trên thị trường tiền tệ nhất là các nhà
tạo lập thị trường.
(ii) Hoàn thiện hệ thống thông tin thanh toán nhằm thực hiện quản lý vốn tập
trung, trực tuyến điều chuyển vốn linh hoạt trong nội bộ từng hệ thống ngân hàng,
cũng như giữa các ngân hàng ; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao năng
lực quản lý kinh doanh, năng lực tài chính và sức cạnh tranh.
(iii) Chuẩn hoá tổ chức hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ ở các
NHTM đảm bảo tách bạch rõ ràng giữa chức năng kinh doanh với chức năng
thanh toán và quản lý rủi ro.
(iv) Các NHTM tăng cường công tác đào tạo cán bộ trong hoạt động thị trường
tiền tệ, nâng cao trình độ kinh doanh, giao dịch tiền tệ cùng với việc xây dựng các
biện pháp đảm bảo an toàn và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động./.
SVTH : Thái Hùng Quốc Trang20