DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
BTC Bộ Tài Chính
CBVC Cán bộ viên chức
CCT Chi Cục thuế
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CP Chính Phủ
CT Chỉ thị
CTK Cục Thống kê
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
HNKTQT Hội nhập Kinh tế quốc tế
KTQT Kinh tế quốc tế
KT-XH Kinh tế - xã hội
NĐ Nghị định
NLĐ Người lao động
NNT Người nộp thuế
NQ Nghị quyết
NSNN Ngân sách Nhà nước
QLTT Quản lý thu thuế
TNC Thu nhập cao
TCT Tổng Cục Thuế
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TT Thông tư
UBND Uỷ Ban Nhân dân
VAT Thuế giá trị gia tăng
XHCN Xã hội Chủ nghĩa
i
tế quốc tế, công tác thuế của nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại chủ yếu như: chính
sách thuế chưa thực sự đồng bộ, còn phức tạp, một số sắc thuế còn nhiều mức thuế
suất, lồng ghép nhiều chính sách xã hội, nhiều mức miễn giảm; bộ máy thanh tra,
kiểm tra xử lý vi phạm về thuế, quản lý nợ và cưỡng chế thuế thì còn quá nhỏ so với
yêu cầu quản lý thuế Hơn nữa quy mô của doanh nghiệp ngày một lớn, không
còn bó hẹp trong một địa phương mà ngày càng quốc gia hoá, toàn cầu hoá; hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú. Việc quản trị
kinh doanh và các hoạt động thương mại của doanh nghiệp ngày càng tiên tiến, điện
tử hoá và tin học hoá. Vì vậy nếu không cải cách và hoàn thiện công tác quản lý
thuế thì không theo kịp và đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng và hiện đại hoá
của doanh nghiệp. Quá trình cải cách thuế nhằm tạo hành lang pháp luật trong chính
sách thuế, quản lý thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc
thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc
thuế phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế.
1
Mặt khác, khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO và để nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia, tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi
theo hướng giảm nghĩa vụ thuế phù hợp với các cam kết của WTO và các định chế
quốc tế. Từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới 25
lần, thuế trước bạ giảm 50%. Hiện nay, ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại
phí không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải giảm tới 30% - 40%.
Theo tính toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và chi phí này, Nhà nước bị thất
thu trên 1.000 tỷ đồng. Hiện ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ
yếu gồm xuất nhập khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60 nghìn tỷ
đồng mỗi năm. Số thu từ xuất khẩu dầu thô khoảng 25%. Như vậy còn khoảng 50%
ngân sách Nhà nước là các khoản thu nội địa, nhưng khoản thu nội địa này cũng
đang một ngày giảm do chính sách thuế liên tục được thay đổi để thực hiện theo
cam kết. Tính đến thời điểm này đã có tới trên 1.000 dòng thuế được cắt giảm.
Chính vì thế để bù đắp cho sự giảm sút này Chính phủ cần quan tâm hơn đến thuế
hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý thuế TNCN ở tỉnh Thái Nguyên, giai
đoạn 2009 - 2012.
- Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN
của tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý thuế
TNCN ở tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý
TNCN ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với chủ đề nghiên cứu của luận văn, đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là
thuế TNCN, công tác quản lý thuế TNCN ở tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2009 - 2012;
những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN của tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu ở tỉnh Thái Nguyên
- Về mặt thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế TNCN, giai
đoạn 2009 - 2012; giải pháp đến năm 2015.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý
thuế TNCN và thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở tỉnh Thái
Nguyên, có so sánh tham chiếu với một số địa phương khác.
4. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu thành công đề tài luận văn sẽ đóng góp cả về phương diện lý
luận và thực tiễn của chủ đề nghiên cứu. Đó là, hệ thống hóa và bổ sung những vấn
đề lý luận về hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN; đánh giá được thực trạng
công tác quản lý thuế TNCN ở địa phương, đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, tăng thu cho NSNN
của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015; tạo đà nhằm cải cách và hiện đại hoá ngành
thuế của tỉnh.
3
Ở miền Nam Việt Nam, năm 1962 chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế
TNCN nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng và sau đó được cải cách vào
năm 1972.
Ngày 27/12/1990, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
(Income Tax on high - Income earner) đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông
qua. Ðể phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, từ đó đến nay đã có nhiều lần lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai
vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999, lần
thứ năm vào ngày 13/6/2001 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001 và lần thứ 6 là
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 có hiệu
lực từ ngày 01/07/2004… đến năm 2007, Quốc Hội đã ban hành Luật thuế thu nhập
cá nhân số 04/2007/QH12. Đến năm 2012, Luật Thuế TNCN đã được sửa đổi, bổ
sung có hiệu lực thi hành từ 1/7/2013, trong đó có nhiều thay đổi theo chiều hướng
tạo thông thoáng, thuận lợi hơn cho đối tượng nộp thuế với các quy định mới về thu
nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, các khoản giảm trừ [16].
Với mục tiêu đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát sinh và từng bước triển khai
Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020, tại kỳ họp thứ tư, Quốc
hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN.
5
Luật thuế TNCN sẽ được chính thức áp dụng từ ngày 01/7/2013. Theo đó, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN đã sửa 6 điều trong tổng số 35 điều
của Luật thuế TNCN số 04/2007.
1.1.2. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã hội
thể hiện tính sở hữu của thu nhập. Việc xác định thu nhập của các chủ thể khác
nhau trong một thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ - là hình
thức thông qua đó biết được tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một cá nhân
hay một pháp nhân. Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối
“Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên
trong xã hội, Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theo
luật định” [18].
“Thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế có được của cá
nhân trong kỳ tính thuế (thường là một năm)” [24].
Theo Marx “Thuế là cở sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn
giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu
của nhà nước" [18; tr. 267-305]
Các nhà nghiên cứu kinh tế khác cho rằng “Thuế là hình thức phân phối thu
nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực
chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế
và không hoàn lại”.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhưng có thể thấy
những điểm tương đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức,
cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Thuế mang tính
bắt buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào
ngân sách Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình
thức khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác.
Trên cơ sở nhưng khái niệm về Thuế, có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN
theo pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào
thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu
nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ
mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc
thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,…. Thuế
TNCN được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có
thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn
trừ đặc biệt” [32].
1.1.3. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
Một là, thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng
cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế
sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập
tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.
Tám là, xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với
các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những
biến đổi về cơ cấu kinh tế.
1.1.4. Mục đích, ý nghĩa và vai trò của thuế thu nhập cá nhân
1.1.4.1. Mục đích, ý nghĩa của thuế TNCN
(i) Mục đích của thuế TNCN
- Phân phối lại thu nhập, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập tạo công
bằng, thu hẹp chênh lệch giàu nghèo; tạo sự công bằng giữa các công dân.
8
- Tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia.
- Hạn chế những hoạt động mà nhà nước không muốn phát triển, chẳng hạn
như đầu cơ vào thị trường bất động sản.
- Bảo đảm tăng trưởng kinh tế, khuyến khích tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng
trong nước, bảo đảm khuyến khích động lực sản xuất, lao động, bảo đảm sự cạnh
tranh của Việt Nam đối với các nước trong khu vực.
- Thúc đẩy sự phát triển của một số hoạt động có đóng góp dài lâu cho sự
tăng trưởng về giá trị kinh tế của quốc gia. Ví dụ, đầu tư vào chứng khoán lâu dài
nên được ưu tiên vì nó thu hút vốn của người dân vào thị trường vốn và góp phần
phát triển kinh tế. Hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế.
(ii) Ý nghĩa của thuế TNCN
- Thuế TNCN có ý nghĩa rất quan trọng, nguồn thu thuế thu nhập cá nhân gia
tăng cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và sự gia tăng số lượng lao động của
mỗi quốc gia là một trong những nguồn thu chính của mỗi quốc gia.
- Thuế TNCN còn có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở nước ta, vì
theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất
chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy
mô lớn). Việc áp dụng thuế suất như với các doanh nghiệp là quá cao đối với hộ cá
trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiều quốc gia đã phản ánh tiến
trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng 15-16%
có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ. Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính
sách thu và còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu
khá lớn trong những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao là 62 tỷ đồng, đến năm 2000 thu được 1.831 tỷ đồng,
năm 2005 số thu đã đạt 4.400 tỷ đồng và tính đến năm 2011 con số này đạt 36.940
tỷ đồng. Tuy vậy, tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách.
(ii) Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Trong mỗi quốc gia, thu nhập của
mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị
trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy nhiên, các yếu tố nói trên
của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập
của mỗi người. Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo,
là sự bất bình đẳng trong xã hội. Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều
hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ
hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công
bằng xã hội.
(iii) Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế TNCN là một công cụ
rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện
công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để kiểm soát thu nhập dân
cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền
công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN,
tuy ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư
phục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát
triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên. Thông qua
các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháp tăng cường hoặc
10
giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổng cầu xã hội giảm
hoặc tăng, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh tế phát triển. Đó chính là vai
Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài
chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiến
lược Chính phủ đã hoạch định. Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như
11
hướng phát triển hoàn chỉnh của chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung
yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá nhân mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục
pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm
của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, công dân theo quy định của
Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006.
Tóm lại, thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN nói chung và tỉnh
Thái Nguyên nói riêng. Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện quản lý
và phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là
việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước. Cùng với
xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc
dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà
nước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào. Tuy nhiên,
vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa
thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam và tỉnh
Thái Nguyên.
1.1.5. Một số nét khái quát về Luật thuế Thu nhập Cá nhân của Việt Nam
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã
được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế
của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 05
lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ
nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày
6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu
lực thi hành từ ngày 1/7/2001) [2].
bổ sung thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là “cá nhân có
nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà
thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn” [23]. Quy định như vậy làm
cho việc xác định đối tượng nộp thuế được thuận lợi hơn, bao quát hết các đối
tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp thuế một cách hợp lý.
- Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập
được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Tuy
nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là
thu nhập không thường xuyên. Do vậy, trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều
khó khăn. Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không
phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật thuế thu nhập cá nhân đã khắc phục được hạn
chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo
đó, thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền
công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất
động sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản
quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương
mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập. Từ cách phân loại
13
này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh
doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối với
các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần.
- Một số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là
thu nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật thuế TNCN gồm: thu nhập từ
chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn
trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu
hoặc sử dụng , thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng
và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng thưởng xổ số
và khuyến mại). Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thuế khi thu nhập
phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng cho một hợp đồng hoặc một lần phát sinh). Liên
chính là một khoản "chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu
lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ
hưởng khoản đóng góp từ thiện. Chẳng hạn như, một người có thu nhập từ kinh
doanh trước thuế của một năm 360 triệu đồng (thu nhập bình quân tháng 30 triệu
đồng) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào lụt 10 triệu đồng. Khi đó, 10 triệu đồng
này được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế. Với biểu thuế như sẽ được trình bày dưới
đây, số thuế nhà nước giảm thu khi cho cá nhân này giảm trừ vào thu nhập tính thuế
là 2 triệu đồng. Có thể hiểu trong trường hợp này, coi như Nhà nước đã sử dụng
ngân sách góp vào quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt 2 triệu đồng, còn cá nhân này thực
ra chỉ ủng hộ 8 triệu đồng. Việc bổ sung một số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên
thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập
trong những trường hợp gặp khó khăn và thể hiện chính sách khuyến khích của nhà
nước đối với một số hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng
cường lao động sản xuất…
- Áp dụng giảm trừ gia cảnh cho bản thân đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/
tháng, cho mỗi người phụ thuộc mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là
1.6 triệu đồng/tháng và mở rộng áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh
trước khi xác định nghĩa vụ thuế. Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực
hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối
tượng nộp thuế. Những người phụ thuộc được giảm trừ khá rộng, bao gồm: con
chưa thành niên, con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, con tàn
tật không có khả năng lao động; các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu
nhập nhưng thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc không có nơi nương tựa
mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ chồng, cô, dì, chú,
bác, cháu…). Đây chính là vấn đề được ủng hộ của đông đảo nhân dân nhiều nhất,
xuất phát từ cơ sở là, thay vì áp dụng mức khởi điểm chịu thuế chung cho mọi đối
tượng nộp thuế (có tính riêng đối với người Việt Nam và người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam) thì chuyển sang áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn
cảnh cá nhân của đối tượng nộp thuế. Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế
của mỗi đối tượng nộp thuế được công bằng hơn.
đi, huy động sự đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải. Mặc khác,
việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích
cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người dân làm giầu chính đáng.
- Đối với các khoản thu nhập còn lại. Luật thuế TNCN quy định biểu thuế
luỹ tiến toàn phần (xem bảng 1.2):
Bảng 1.2: Biểu thuế lũy tiến toàn phần
Loại thu nhập tính thuế Thuế suất (%)
1. Thu nhập từ đầu tư vốn 5
2. Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
3. Thu nhập từ trúng thưởng 10
4. Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10
5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (Trường hợp không xác
định được thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất tính trên giá bán).
25
6. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn (Đối với chuyển nhượng chứng
khoán áp dụng thu thuế theo từng phần)
20
0.1
Nguồn: [25]; Tổng Cục Thuế
Ngoài ra, Luật còn quy định thuế suất cụ thể cho từng loại thu nhập áp dụng
đối với cá nhân không cư trú với các mức thuế suất từ 0.1% đến 20% tính trên toàn
bộ thu nhập phát sinh ở Việt Nam (không được trừ chi phí).
16
Có thể nói, Luật thuế TNCN có rất nhiều điểm đổi mới phù hợp với thực tiễn
và khoa học so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
1.2. Lý luận chung về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1. Khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân
Công tác quản lý thuế TNCN là hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước
đối với các đối tượng nộp thuế nhằm đạt được các mục tiêu nhất định trong khoảng
áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này. Để mỗi công dân sống và làm
việc theo pháp luật thì chính sách thuế TNCN cần được xây dựng dựa trên các
nguyên tắc cơ bản như sau:
Thứ nhất, việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm
bảo tính đơn giản, minh bạch rõ ràng và chặt chẽ. Vì loại thuế TNCN khá phức tạp
nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối
tượng nộp thuế.
Thứ hai, quy định trong chính sách thuế TNCN phải đảm bảo được yêu cầu đặt
ra trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo tính công bằng đối với cả người nộp thuế và xã hội.
Thứ ba, quy định trong chính sách thuế TNCN cũng cần đảm bảo tính công
bằng đối với người nộp thuế và xã hội. Thuế TNCN đóng vai trò phân phối lại thu
nhập trong xã hội, giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân
trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động.
Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng
nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ.
Ngoài yêu cầu cơ bản trên, để đảm bảo chính sách thuế TNCN phát huy hiệu
quả cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện như: cải tiến
và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông tin, báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi
cho công tác quản lý thuế TNCN, đặc biệt đối với cá nhân, hộ gia đình kinh doanh.
1.2.2.2. Tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN
Luật thuế TNCN đã được áp dụng hàng trăm năm nay ở các nước phát triển
trên thế giới. Ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Thái Nguyên, thuế TNCN lần đầu tiên
được ban hành vào năm 1990 dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao. Hiện nay theo quy định hiện hành, Luật thuế thu nhập cá nhân có
hiệu lực ngày 01/01/2009, được chính thức áp dụng vào đời sống nhân dân ban
hành kèm theo Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ và
Thông tư 84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN.
Với quy định này, việc kê khai nộp thuế thu nhập được thực hiện theo nguyên tắc
khấu trừ tại nguồn, đối với trường hợp xác định được cơ quan chi trả thu nhập,
trong thời gian sớm nhất.
Hình 1.1: Quy trình đăng kí thuế TNCN qua website tncnonline.com.vn
(Nguồn: Tổng Cục thuế)
Với trang web này, những người làm công ăn lương qua tổ chức chi trả thu
nhập không phải trực tiếp đến cơ quan thuế để đăng ký thuế mà sẽ được hướng dẫn,
cung cấp ứng dụng nhập tờ khai. Tổ chức chi trả thu nhập thực hiện nhập tờ khai
19
đăng ký thuế vào ứng dụng và kết xuất ra file dữ liệu tải lên web hoặc qua đĩa mềm,
đĩa CD, thẻ nhớ USB gửi cho cơ quan thuế, sau đó in bảng kê đăng ký thuế từ dữ
liệu đã được nhập vào ứng dụng, đóng dấu và ký xác nhận gửi cho cơ quan thuế qua
đường bưu điện. Tiếp đó, cục thuế các địa phương tập trung toàn bộ file dữ liệu của
các cơ quan thuế trên địa bàn rồi gửi về Tổng cục Thuế. Sau khi nhận, xử lý và cấp
mã số thuế tập trung, Tổng cục Thuế sẽ gửi trả lại dữ liệu mã số thuế cho cục thuế,
trên cơ sở đó, mỗi chi cục thuế trực thuộc sẽ nhận lại dữ liệu mã số thuế để truyền
về cho các tổ chức chi trả thu nhập trên địa bàn, kịp thời thông báo cho các cá nhân
đăng ký.
Thủ tục cấp mã số Thuế: Mã số thuế là một dãy số, chữ cái hoặc ký tự khác
do cơ quan quản lý thuế cấp cho người nộp thuế dùng để quản lý thuế [26]
.
Việc cấp
mã số thuế cho người nộp thuế có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực hiện thành
công Luật thuế TNCN. Cũng chính vì hiểu rõ tầm quan trọng của mã số thuế đối
với công tác quản lý thuế TNCN mà ngay sau khi Luật thuế TNCN được thông qua,
Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 2188/TCT-CNTT ngày 03/6/2009, gửi
Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn cụ thể việc triển
khai đăng ký thuế cho cá nhân làm công ăn lương qua tổ chức trả thu nhập trong
năm 2009. Công văn nêu rõ: đối tượng được cấp mã số thuế cá nhân là người lao
động có thu nhập từ tiền lương, tiền công kê khai đăng ký Thuế thu nhập cá nhân
thông qua tổ chức trả thu nhập. Căn cứ công văn Tổng cục Thuế chỉ đạo Cục Thuế
Giấy phép thành lập
(sao y)
Mẫu 01/ĐK-TTNCN
CMND hay Passport
21
Quy trình này áp dụng cho cơ quan thuế các cấp để hỗ trợ cập nhật, xử lý
thông tin về nghĩa vụ khai thuế của người nộp thuế. Các nghĩa vụ kê khai thuế
TNCN được xác định và quản lý trên các tiêu chí. Các loại tờ khai thuế TNCN theo
lần phát sinh không được quản lý như nghĩa vụ khai thuế của người nộp thuế. Các
tờ khai này không được đưa vào danh sách phải đôn đốc nộp. Khi nào người nộp
thuế phát sinh thu nhập sẽ tự khai và tự nộp thuế cho cơ quan thuế. Một người nộp
thuế có thể có quyết toán nhiều hơn một lần trong năm tính thuế. Trường hợp nhóm
cá nhân kinh doanh chia tách hoặc ngừng hoạt động giữa năm và người đại diện của
nhóm này trở thành người đại diện cho một nhóm khác hoặc cho các cá nhân có số
ngày cư trú 183 ngày trong 12 tháng liên tục qua 2 năm. Các tờ khai quyết toán phát
sinh nộp giữa năm là tờ khai phát sinh không quản lý được như là nghĩa vụ kê khai.
Trình tự quản lý kê khai: Cơ quan thuế quản lý thuế thu nhập cá nhân thông
qua cơ quan chi trả thu nhập, n cơ quan này sẽ quản lý trực tiếp đến từng người nộp
thuế. Điều này sẽ giải quyết hai vấn đề: Thứ nhất, người nộp thuế sẽ chứng minh gia
cảnh trực tiếp với cơ quan thuế, chịu trách nhiệm về thông tin kê khai và khắc phục
nhược điểm một người có nhiều khoản thu nhập từ các địa bàn khác nhau nhưng chỉ
nộp thuế tại một nơi. Thứ hai, Việc quản lý thu nhập của mỗi cá nhân, sẽ dựa trên dữ
liệu của nhiều cơ quan trả thu nhập tập trung vào dữ liệu của cơ quan thuế. Theo
Thông tư 84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính, hệ thống tờ khai thuế thu nhập cá nhân
có hai dạng: Hệ thống tờ khai dùng cho các cơ quan chi trả thu nhập và hệ thống tờ
khai dành cho cá nhân nộp thuế (áp dụng cho thu nhập thường xuyên).
Địa điểm kê khai nộp thuế: Đối với các doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh bao gồm cả cá nhân hành nghề
độc lập: địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế thực hiện theo quy định tại Thông tư số