Tiểu luận - Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam - Pdf 15

- 1 -
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP
Tiểu luận
Thực trạng và giải pháp cho xuất
khẩu lao động ở Việt Nam
- 2 -
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I . THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
1. Khái quát chung về lực lượng lao động ở Việt Nam.
2. Tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam thời kì từ năm 2001 đến năm 2010
3. Những hạn chế của xuất khẩu lao động ở Việt Nam
4. Nguyên nhân
II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA
VIỆT NAM
1. Những thành công và khó khăn ở thị trường truyền thống
2. Những khó khăn và bước đầu xâm nhập thị trường lao động mới
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1 Các giải pháp với cơ quan quản lý Nhà nước
1.1 Sửa đổi bổ sung cơ chế quản lý
1.2 Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan và chính
quyền các cấp trong xuất khẩu lao động
1.3 Công tác thanh tra, kiểm tra
1.4 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên nhiều lĩnh vực
2 Các giải pháp với doanh nghiệp xuất khẩu lao động
3 Các giải pháp đối với công tác đào tạo xuất khẩu lao động
4 Các giải pháp hậu xuất khẩu lao động
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- 3 -

đông dân nhất thế giới. Theo báo cáo thì dân số của nước ta đã đạt đến “cơ cấu
dân số vàng” với tỉ trọng dân số dưới độ tuổi lao động chiếm 25%, tỉ trọng dân số
trong độ tuổi lao động là 66% và dân số trên độ tuổi lao động là 9%. Điều đó cho
thấy nước ta đang sở hữu một lực lượng lao động tương đối dồi dào và đây cũng
chính là tiềm năng lớn để phát triển đất nước. Tuy nhiên vấn đề giải quyết việc
làm là một trong những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trình độ học vấn của lao động của Việt Nam đang được nâng lên từng
ngày. Theo số liệu thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy tỉ lệ người từ 5 tuổi trở lên
đã đi học là 94,9%: Trong đó có 16,4 triệu người chưa tốt nghiệp tiểu học (chiếm
20,8%), 20,2 triệu người tốt nghiệp tiểu học (chiếm 25,7%) 17,2 triệu người tốt
nghiệp trung học cơ sở (chiếm 21,2%), 12,2 triệu người tốt nghiệp trung học phổ
thông (chiếm 15,5%), 1,7 triệu người tốt nghiệp sơ cấp (chiếm 2,1%), 3 triệu
người tốt nghiệp trung cấp (chiếm 3,9%), 1,1 triệu tốt nghiệp cao đẳng (chiểm
1,3%), 2,7 triệu tốt nghiệp đại học (chiếm 3,4%), 141 nghìn người có học vị trên
đại học (chiếm 0,2%). Chỉ có 4 triệu người chưa đi học (chiếm 5,1%) so với dân
số từ 5 tuổi trở lên. Tỉ lệ này so với năm 1999 đều tăng lên với tỉ lệ đáng kể nhất là
tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng và đại học. Đó là một
điều khả quan cho lực lượng lao động của Việt Nam trong giai đoạn hiện tại và
tương lai.
Có thể khái quát cơ bản về đặc điểm của lực lượng lao động của nước ta
như sau:
Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, nhanh nhẹn cần cù và có
khả năng nắm bắt công việc nhanh, có thể nói thương hiệu “lao động Việt Nam”
đã và đang được đánh giá cao trên thị trường lao động quốc tế.
Tỉ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng lên rõ rệt, hiện nay nước ta tỉ
lệ lao động đã qua đào tạo của nước ta chiếm khoảng hơn 25,3% trong đó tỉ lệ qua
đào tạo chuyên môn kĩ thuật chiếm khoảng 16,8% lực lượng lao động. Điều này
chứng tỏ rằng lực lượng lao động Việt Nam ngày càng được củng cố về chất
lượng.
Lực lượng lao động nước ta chưa có tác phong công nghiệp còn thấp, tính

TỔNG 708484** 14964939910**
(Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã
hội)
(* số liệu dự kiến cho năm 2010)
(** gồm cả số liệu ước tính cho năm 2010)
Vào thời kì này chính sách xuất khẩu lao động của nước ta đã có phần
thông thoáng và mở rộng được nhiều hơn chính và vậy mà số lượng người lao
động đi làm việc ở nước ngoài ngày một tăng lên, nhất là 4 năm trở lại đây, tình
hình xuất khẩu lao động nước ta đã có nhiều khởi sắc. Riêng năm 2009 do ảnh
hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nên tình hình xuất khẩu lao động bị
giảm nhưng không đáng kể. Theo dự báo thì năm 2010 tình hình xuất khẩu lao
động của nước ta sẽ phục hồi trở lại và hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
Thời kỳ này cũng cho thấy sự biến chuyển rõ rệt về cơ cấu lao động có
nghề xuất khẩu. Cơ cấu lao động có nghề cung đã tăng lên đáng kể so với 2 thời
kỳ trước:
BẢNG 8: THỐNG KÊ VỀ LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
CÓ NGHỀ VÀ KHÔNG CÓ NGHỀ THỜI KÌ 2001 – 2010
- 6 -
NĂM
LAO
ĐỘNG
XUẤT
KHẨU
LAO
ĐỘNG

NGHỀ
LAO
ĐÔNG
KHÔNG

công nghiệp nhẹ 383600
Xây dựng và vật liệu xây
dựng 45896
Dịch vụ 25869
Nông ngiệp 21583
Lâm nghiệp 13589
Các ngành khác 89027
TỔNG 708484
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
(* số liệu bao gồm cả số liệu dự kiến cho năm 2010)
Cơ cấu lao động xuất khẩu của nước ta đã có nhiều sự thay đổi. Sự chuyển
dịch cơ cấu lao động giữa các ngành nghề, lĩnh vực là khá rõ, ở thời kỳ này lao
- 8 -
động nước ta tập trung chủ yếu ở các ngành công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng.
Đặc biệt các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp đã được các doanh nghiệp
nước ta tập trung khai thác. Sở dĩ các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp có số lao
động nước ta tham gia nhiều là vì những lĩnh vực này không đòi hỏi phải có
chuyên môn kỹ thuật và phù hợp với trình độ lao động của lao động Việt Nam.
3. Những hạn chế của xuất khẩu lao động ở Việt Nam
 Về chất lượng lao động là một điều rất được quan tâm của lao động Việt
Nam, lao động nước ta được biết đến với những bất lợi thể hiện ở “ba
không”: Không nghề, không ngoại ngữ và không tác phong công nghiệp.
Điều này trở thành một bất lợi lớn cho lao động nước ta khi làm việc ở
nước ngoài.
 Như ta đã biết trình độ tay nghề của lao động Việt Nam khi xuất khẩu ra
nước ngoài là rất thấp, chúng ta chủ yếu xuất khẩu những lao động phổ
thông chưa qua đào tạo nghề, không có trình độ chuyên môn kĩ thuật.
Chính vì vậy mà thu nhập của người lao động Việt Nam luôn thấp hơn lao
động xuất khẩu của các nước khác.
 Sức khỏe của lao động nước ta vẫn còn rất nhiều hạn chế, lao động của

phủ đang được thực hiện, theo đó cùng với việc nâng tỷ lệ đưa người lao động
Việt Nam ra nước ngoài, mở rộng thị trường lao động, nâng cao chất lượng, thì
siết chặt quản lý, nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng được
đặt ra cấp thiết.
Ngoài ra vẫn còn một số hạn chế trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu
lao động của nước ta còn hạn chế. Hiện nay nước ta vẫn đang tập trung chủ yếu
vào việc xuất khẩu lao động ở các thị trường truyền thống và chưa có sự phát
triển những thị trường mới trong bối cảnh mà thị trường truyền thống đang ngày
càng bị thu hẹp.
Hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu lao động vẫn còn có thái độ trông
chờ, ỷ lại vào đối tác. Thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm về
quản lý lao động, chưa chấp hành tốt những quy định về chế độ tuyển chọn, đào
tạo, định hướng nhằm bảo vệ người lao động làm việc tại nước ngoài.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chưa có sự phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động cấp nhà nước
với các cơ quan cấp địa phương và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
này.
Các chính sách, văn bản về xuất khẩu lao động chưa bám sát thực tế và
thường đi sau thực tế.
Thủ tục xuất cảnh và các thủ tục khác có liên quan thường rườm rà, phức
tạp gây mất nhiều thời gian và tiền của của người lao động.
Công tác triển khai thực hiện, kiểm tra, thanh tra hoạt động xuất khẩu lao
động được tiến hành chưa thực sự nghiêm túc và có hiệu quả.
II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA
VIỆT NAM
1. Những thành công và khó khăn ở thị trường truyền thống
Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì hiện nay có
khoảng 1,5 triệu lao động của nước ta đang làm việc tại các thị trường lao động ở
nước ngoài như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, … Những người đi
xuất khẩu lao động đã phần nào cải thiện được cuộc sống của gia đình họ và góp

còn yếu kém, ý thức kỉ luật không cao. Theo ước tính của Cục quản lý lao động
ngoài nước hàng năm có hàng nghìn lao động Việt Nam tự ý bỏ hợp đồng lao
động đi làm việc ngoài do vậy nhiều thị trường lao động đã hạn chế tiếp nhận lao
động Việt Nam. Bên cạnh đó những yêu cầu về trình độ tay nghề của lao động
xuất khẩu ngày càng khắt khe hơn nên đây là một trở ngại lớn cho việc xuất khẩu
lao động của Việt Nam tại những thị trường lao động truyền thống này.
2. Những khó khăn và bước đầu xâm nhập thị trường lao động mới
Ngoài việc phải duy trì và phát triển thị trường lao động truyền thống đang
ngày càng trở nên eo hẹp thì nước ta phải đẩy mạnh phát triển những thị trường
lao động mới để đảm bảo giải quyết việc làm cho người lao động nước ta.
Hiện nay tại thị trường lao động Libi có khoảng hơn 1000 lao động làm
việc chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng và đánh bắt hải sản với mức thu nhập
bình quân khoảng từ 300 USD/người/tháng đến 400 USD/người/tháng.
Macao là một thị trường mới và khá hấp dẫn và “khá thoáng” cho xuất
khẩu lao động của Việt Nam. Nhiều lao động Việt Nam làm việc chủ yếu trong
các lĩnh vực dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, thợ xây dựng, trang trí nội thất và
giúp việc gia đình với mức lương từ 3 triệu đến 5 triệu VNĐ. Tuy nhiên tại thị
- 11 -
trường này lao động Việt Nam chưa biết được chủ lao động của mình là ai sau khi
đã nhập cảnh vào Macao.
Tại Anh và Hy Lạp bước đầu lao động nước ta đã có việc làm ổn định và
thu nhập khá cao, tuy nhiên số lượng lao động Việt Nam làm việc tại thị trường
này chưa nhiều. Đặc biệt lao động nước ta được làm việc trong các nhà máy sản
xuất công nghiệp, các công trường xây dựng lớn có liên doanh với nước ngoài và
có điều kiện ăn ở sinh hoạt khá tốt.
Australia là một thị trường lao động “mới toanh” cho các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động ở Việt Nam. Với mức lương khoảng 1500 – 2000
USD/người/tháng (VN Media ngày 12/4/2005). Thị trường này cũng thu hút nhiều
lao động Việt Nam tham gia, hiện nay có khoảng hơn 2000 lao động Việt Nam
làm việc trong các lĩnh vực như xây dựng, thu hoạch nông sản trong các trang

khẩu lao động theo đúng Luật lao động.
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thiết lập
thúc đẩy và tăng cường quan hệ hợp tác song phương với các nước có khả năng
thu hút lao động và chuyên gia Việt Nam.
Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp chỉ đạo các cấp triệt để cải cách hành
chính trong các thủ tục, đảm bảo, thuận lợi nhanh chóng tránh phiền hà cho người
lao động và chuyên gia.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ thông tin
và truyền thông, Bộ Công thương….và chính quền các cấp theo chức năng của
mình đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động trong phạm vi thuộc Bộ, ngành địa
phương mình theo quy định của Nhà nước, chỉ đạo các tổ chức kinh tế xuất khẩu
lao động tổ chức tốt đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động và chuyên gia
Việt Nam làm việc ở nước ngoài.
1.3 Công tác thanh tra, kiểm tra
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành quy chế và hướng dẫn công
tác thanh tra và kiểm tra về xuất khẩu lao động và chuyên gia, tiến hành thanh tra,
kiểm tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất.
Các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương
quản lý, thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn, phát hiện
và xử lý kịp thời các hành vi,vi phạm liên quan đến xuất khẩu lao động.
1.4 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên nhiều lĩnh vực
Xây dựng, đánh bắt thủy sản, thợ mộc, cơ khí, xây dựng… là những lĩnh
vực được xem là truyền thống đối với lao động xuất khẩu của Việt Nam. Trong
những năm gần đây thì các lĩnh vực truyền thống đã không ngừng tăng về số
lượng xuất khẩu lao động mà còn tăng cả về chất lượng nguồn lao động xuất khẩu.
Với sự phát triển về nhu cầu cuộc sống như ngày nay thì ngoài việc phát
triển các lĩnh vực truyền thống cần phải chú ý các lĩnh vực mới mà lao động Việt
Nam có thể đáp ứng tốt như, nhân viên tạp vụ nhà hàng, công nhân làm trong các
khu công nghệ cao, sản xuất hàng trang trí nội thất cao cấp…
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có thể liên kết với các cơ sở dạy nghề,

động.
 Nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục phổ thông để khi ra trường, lực
lượng này đủ khả năng, điều kiện về ngoại ngữ tham gia xuất khẩu lao động.
 Từng khu vực, ngành nghề có từng chương trình giảng dạy riêng.
 Đào tạo chuyên môn, kiến thức phải đi kèm đạo tạo về ý thức kỷ luật trách
nhiệm cho người lao động
 Bổ sung cho người lao động về pháp luật
 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải thường xuyên hướng dẫn cho
chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người lao động về định hướng, thông
tin các thị trường một cách cụ thể.
Và điều cuối cùng là cần phải làm cho người lao động thấy được ý nghĩa,
vai trò to lớn, trách nhiệm của họ đối với quê hương, đất nước, doanh nghiệp và
gia đình khi họ được chọn ra nước ngoài làm việc.
4 Các giải pháp hậu xuất khẩu lao động
Sau khi người lao động kết thúc hợp đồng trở về nước thì cần giải quyết các
vấn đề liên quan như là:
- 14 -
Giải quyết việc làm cho họ khi họ trở về nước vì sau một thời gian làm việc
ở nước ngoài họ đã được trang bị kỹ năng nghề nghiệp nên cần sắp xếp, bố trí
công việc phù hợp với tay nghề, trình độ của họ.
Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật quản lý những người lao
động đi làm việc ở nước ngoài trở về để có thể giải quyết việc làm được tốt hơn.
PHẦN KẾT LUẬN
Trong giai đoạn toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức sôi động và mạnh mẽ
như ngày nay thì việc giải quyết việc làm cho người lao động đang là một vấn đề
cấp thiết. Xuất khẩu lao động là một xu hướng khách quan cho các nước đang phát
triển mà có cơ cấu dân số trẻ như Việt Nam. Cùng với sự tăng tốc của các cường
quốc mạnh và những phát minh khoa học công nghệ tiên tiến tối ưu thì ngoài việc
học hỏi tiếp thu các thành tựu của nước bạn, chúng ta cần đem chính những nhân
công Việt Nam sang tận các nước đó để tiếp thu những kỹ năng nghề nghiệp và

quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006
12.Trung tâm thông tin tư liệu - viện nghiên cứu kinh tế trung ương,Thị trường
lao động xuất khẩu thực trạng và giải pháp, năm 2007


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status