đồ án tốt nghiệp '''' tìm hiểu về các web server thông dụng. tìm hiểu về mailing list và các mail system. xây dựng một chươ - Pdf 15

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU VỀ CÁC WEB SERVER THÔNG DỤNG
TÌM HIỂU VỀ MAILING LIST VÀ CÁC MAIL SYSTEM
XÂY DỰNG MỘT CHƯƠNG TRÌNH INTERNET MAIL
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Bình
Họ tên sinh viên: Đặng Vũ Quốc Khánh
trang 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Mục Lục
1. Th nào là m t h đi u hành m ng:ế ộ ệ ề ạ 5
Apache –n “service name” 20
LoadModule status_module modules/mod_status.so 26
LoadModule foo_module libexec/mod_foo.so 29
Creating [FILE] foo/Makefile 30
"C:\Program Files\DevStudio\VC\Bin\VCVARS32.BAT" 31
Công vi c phát tri n các h th ng Mail (Mail System) đòi h i hình thành các ệ ể ệ ố ỏ
chu n v Mail. i u này giúp cho vi c g i nh n các message đ c đ m b o, ẩ ề Đ ề ệ ở ậ ượ ả ả
làm cho nh ng ng i các n i khác nhau có th trao đ i thông tin cho nhau.ữ ườ ở ơ ể ổ 33
Có 2 chu n v Mail quan tr ng nh t và đ c s d ng nhi u nh t t tr c ẩ ề ọ ấ ượ ử ụ ề ấ ừ ướ
đ n nay là X.400 và SMTP (Simple Mail Transfer Protocol). SMTP th ng đi ế ườ
kèm v i chu n POP3 và do h n ch c a SMTP mà ngày nay ng i ta dùng ớ ẩ ạ ế ủ ườ
chu n m r ng c a nó là ESMTP (Extended SMTP). M c đích chính c a ẩ ở ộ ủ ụ ủ
X.400 là cho phép các mail có th đ c truy n nh n thông qua các lo i m ng ể ượ ề ậ ạ ạ
khác nhau b t ch p c u hình ph n c ng, h đi u hành m ng , giao th c ấ ấ ấ ầ ứ ệ ề ạ ứ
truy n d n đ c dùng. Còn m c đích c a chu n SMTP miêu t cách đi u khi nề ẫ ượ ụ ủ ẩ ả ề ể
các message trên m ng Internet. i u quan tr ng c a chu n SMTP là gi ạ Đ ề ọ ủ ẩ ả
đ nh máy nh n ph i dùng giao th c SMTP g i Mail cho 1 Server luôn luôn ị ậ ả ứ ở
ho t đ ng. Sau đó, ng i nh n s đ n l y Mail c a h t Server khi nào h ạ ộ ườ ậ ẽ ế ấ ủ ọ ừ ọ
mu n dùng giao th c POP (Post Office Protocol), ngày nay POP đ c c i ố ứ ượ ả
ti n thành POP3 (Post Officce Protocol vertion 3). Các giao th c Mail thông ế ứ

- Cung c p m t s d ch v m ng đ c s d ng r ng rãi nh Email, FTP, ấ ộ ố ị ụ ạ ượ ử ụ ộ ư
Telnet… 70
- Là c s đ xây d ng các ng d ng theo mô hình Client / Serverơ ở ể ự ứ ụ 70
C U TRÚC C A M T B C MAILẤ Ủ Ộ Ứ 71
CH NG IVƯƠ 73
TÌM HI U V CÁC H TH NG MAIL TRÊN H I U HÀNH LINUXỂ Ề Ệ Ố Ệ Đ Ề 73
I. CÀI T VÀ C U HÌNH CHO SENDMAILĐẶ Ấ 75
1. File sendmail.cf 76
2. i u ch nh UUCP:Đ ề ỉ 77
3. C u hình các b ng đ nh vấ ả ị ị 78
4. C u hình mailertableấ 78
5. File c u hình uucprelaysấ 78
6. File c u hình uucpxtalbeấ 79
7. Xây d ng file sendmail.cf t file sendmail.m4ự ừ 79
Make sendmail.cf 79
II. S D NG SENDMAIL PHIÊN B N 8.0Ử Ụ Ả 79
Thi t l p các th m c c u hình cho Sendmailế ậ ư ụ ấ 79
III. S D NG SMAILỬ Ụ 80
Smail đi u khi n vi c chuy n nh n mail nh th nào?ề ể ệ ể ậ ư ế 80
Find /-name Smail –print 80
1. Cài đ t Smailặ 80
2. C u hình Smail cho UUCPấ 81
7. G r i Smailỡ ố 83
8. i u ch nh cách v n hành Smail:Đ ề ỉ ậ 84
9. C u hình Smail đ s d ng v i h th ng TCPấ ể ử ụ ớ ệ ố 85
trang 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
HO T NG C A CH NG TRÌNH POP3CLIENT:Ạ ĐỘ Ủ ƯƠ 87
trang 4
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình

vào tài nguyên của mình nhưng không chia xẻ tài nguyên của nó với mạng, còn máy
chủ (Server) là máy tính nằm trên mạng và chia xẻ tài nguyên của nó với người
dùng mạng.
Hiện nay các hệ điều hành mạng thường được chia làm hai loại là hệ điều
hành mạng ngang hàng và hệ điều hành mạng phân biệt (clent/server).
Với hệ điều hành mạng ngang hàng, mỗi máy tính trên mạng vừa có thể đóng
vai trò chủ lẫn khách tức là chúng có thể sử dụng tài nguyên của mạng lẫn chia xẻ
tài nguyên của nó cho mạng. Ví dụ: Lantastic của Artisoft, Netware của Novell,
Windows (for Workgroup, 95, NT client) của Microsoft.
Với hệ điều hành mạng phân biệt các máy tính được phân biệt chủ và khách,
trong đó máy chủ mạng (Server) giữ vai trò chủ và các máy người dùng giữ vai trò
trang 5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
khách (các trạm). Khi có nhu cầu truy cập tài nguyên trên mạng các trạm tạo ra yêu
cầu và gửi chúng tới server và sau đó server thực hiện và gửi trả lời.
2. Hệ điều hành mạng Windows NT
Windows NT là hệ điều hành mạng cao cấp của hãng Microsoft. Phiên bản
đầu tiên có tên là Windows NT 3.1 phát hành năm 1993 và phiên bản server là
Windows NT Advanced Server (trước đó là LAN manager for Windows NT). Năm
1994 phiên bản Windows NT Server và Windows NT Workstation phiên bản 3.5
được phát hành. Tiếp theo đó là sự ra đời các phiên bản 3.51. Các phiên bản
Workstation có thể sử dụng để thành lập mạng ngang hàng, còn các phiên bản
Server dàng cho quản lý file tập trung, in ấn và chia sẻ các ứng dụng.
Năm 1995, Windows NT Workstation phiên bản 4.0 và Windows NT Server
4.0 ra đời đã kết hợp với cấu trúc khung của người anh em Windows 95 nổi tiếng
phát hành trước đó không lâu (trước đây cấu trúc khung của Windows NT giống
Windows 3.1) đã được kết hợp giao diện quen thuộc, dễ sử dụng của Windows 95
và sự mạnh mẽ, an toàn, bảo mật cao của Windows NT.
Windows NT có hai bản mà nó đi đôi với hai cách tiếp cận mạng khác nhau.
Hai bản này gọi là Windows NT Workstation và Windows NT server. Với hệ điều

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Đáp ứng cho các máy trạm Macintosh nối với Windows NT server.
Windows NT server yểm trợ mọi nghi thức mạng chuẩn như NETBUEI,
IPX/SPX, TCP/IP … và các nghi thức khác. Windows NT cũng tương thích với
những mạng thông dụng hiện nay như Novell netware, Banyan VINES và Microsoft
LAN Manager. Đối với mạng lớn và khả năng thâm nhập từ xa, sản phẩm Windows
NT server cũng cung cấp các chức năng bổ sung nhu cầu , khả năng kết nối với máy
tính lớn và máy Macintosh.
III. TỔNG QUAN VỀ WEB SERVER :
Web Server:
Web server là một phần mềm server đằng sau WWW. Nó lắng nghe những
yêu cầu từ phía client, chẳng hạn như một trình duyệt như Netscape hoặc Microsoft
Internet Explorer. Khi nhận được một yêu cầu từ phía client, nó sẽ xử lý những yêu
cầu đó và trả về một vài dữ liệu dưới dạng một fom chứa các trang được định dạng
dưới dạng văn bản hoặc hình ảnh. Trình duyệt Web trả lại dữ liệu này với khả năng
tốt nhất có thể và trình đến người sử dụng.
Khái niệm về Web server đơn giản chỉ là một chương trình mà chúng chờ đợi
những yêu cầu từ phía client và đáp ứng những yêu cầu đó khi nhận được. Web
server kết nối với các trình duyệt hoặc các client sử dụng giao thức HTTP, đó là
một giao thức đã được chuẩn hóa các phương thức của các yêu cầu gửi đi và xử lý
các yêu cầu đó. Nó cho phép rất nhiều các client khác nhau kết nối với các server
cung cấp mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào trong vấn đề tương thích.
Hầu hết các tài liệu yêu cầu hoặc đáp ứng đều phải được định dạng bằng
ngôn ngữ HTML. HTML là một phần của một ngôn ngữ đánh dấu khác gọi là
SGML, nó được sử dụng rộng rãi bởi nhiều tổ chức và trong các chính phủ liên
bang.
HTML là nguồn sống của Web. Nó là một ngôn ngữ đánh dấu đơn giản được
sử dụng để định dạng văn bản. Trình duyệt thông dịch các thông tin đánh dấu này
và hiển thị các thông tin cần đáp ứng này với khả năng tốt nhất có thể. Quan trọng
hơn nữa, HTML cho phép liên kết với các tài liệu và tài nguyên khác, đây là sự thể

IV. INTERNET INFORMATION SERVER (IIS):
IIS là một dịch vụ tuỳ chọn của Windows NT server cung cấp các tính năng
về Web site. Giải pháp phổ biến nhất của Microsoft cho một Web site là chạy IIS
trên nền Windows NT server.
IIS là một thành phần cơ bản để xây dựng một Internet hoặc Intranet server
trền nền Windows NT 4.0, Workstation và Win 95. IIS được tích hợp đầy đủ trong
Windows NT 4.0. Với một bộ đầy đủ IIS và Windows NT 4.0 người sử dụng sẽ
nhận được sự thuận tiện khi xây dựng một cơ chế bảo mật trên Windows NT server
và Windows NT File System (NTFS).
Người sử dụng có thể sử dụng các kỷ thuật Internet thêm vào được cung cấp
bởi IIS để nâng cao các tính năng Microsoft Back Office, bao gồm các thành phần
sau:
- Hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SOL Server Client/Server.
- Hệ thống thông báo Microsoft Exchange Server Client/Server.
- Microsoft Proy Server.
- Microsoft SNA Server kết nối với mạng IBM enterprise.
- Hệ thống quản lý Server của Microsoft (tập trung quản lý các hệ thống phân
tán).
-Microsoft Commercial Internet Server (MCIS).
Với IIS người sử dụng có thể triển khai liên tục các ứng dụng mạng lên các
server ra đời muộn các nội dung Web mơi nhất. IIS đầy đủ hỗ trợ các hệ thống ngôn
ngữ lập trình VB, VB Script, J Script
TM
được phát triển bởi Microsoft và Java
Component Nó cũng hỗ trợ các ứng dụng CGI dành cho các ngôn ngữ lập trình
Web cơ sở và ISAPI mở rộng và các bộ lọc.
1. Cài đặt IIS trên Windows NT server:
Microsoft cung cấp các chương trình cài đặt khá thân thiện để cài đặt IIS trên
Windows NT server. Các bước cơ bản là lấy chương trình từ NT Option Pack hoặc
tải từ Internet và chạy Setup.exe.

MSDTC (Microsoft Distributed Transaction Coordinator).
World Wide Web Publishing Service.
2. Quản lý IIS Web server:
+ HTTP server: Dịch vụ này tạo một WWW server công cộng. Server này tạo
nhiều trang HTML cho phép người sử dụng có thể chạy các ứng dụng CGI để thi
hành các công việc thêm vào ở server dựa trên các yêu cầu của client. Văn bản, hình
ảnh, âm thanh và các tài nguyên khác có thể được tải xuống WWW client.
+ Gopher Server: Dịch vụ này cung cấp các tài nguyên cho các Gopher client.
Server gửi các file, các danh sách thư mục và các mục chọn trình đơn khác đến
Gopher client.
+ FTP server: Dịch vụ này là một cập nhật đến server được cài đặt sẵn trên
Windows NT (TM), nó chuyển các file có sẵn đến FTP client.
Mặc dù WWW đã thay thế hầu hết các chức năng của FTP, tuy nhiên chỉ FTP
mới có thể được sử dụng để sao chép các file từ một máy client đến một máy server.
Nếu những người truy cập từ xa cần làm việc đó, họ phải sử dụng FTP.
+ Sự dễ dàng chia xẻ: Tất cả các dịch vụ trên là một phần của một tiến trình
như nhau với mục đích là làm hạn chế sử dụng bộ nhớ ngoài và tăng hiệu quả. IIS
cũng hỗ trợ thi hành sự giám sát các bộ đếm và kiểm tra SNMP với FTP, Gopher,
HTTP… Bộ đếm SNMP nằm dưới nút IIS của cây tên MIB.
+ Internet Server API:
trang 9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Các API này cung cấp các ứng dụng cho giao diện với IIS. Có 2 cách để các
API này sử dụng:
+ Các phần mở rộng CGI: Các API này cho phép người sử dụng viết các CGI
DLL mà nó ở trong vùng bộ nhớ giống như IIS. Đây là sự khác biệt từ một CGI
bình thường có thể thi hành, mà nó là một tiến trình rời rạc. Sử dụng các phần mở
rộng này làm tăng khả năng thi hành của server và làm giảm bộ nhớ yêu cầu.
+ Bộ lọc: Các API này có thể được sử dụng để viết các DLL mà nó ngăn
chặn tất cả khảng năng tải HTTP đang được nhận bởi server. Một ứng dụng có thể

Để truy cập vào tài nguyên WWW, client phải:
+ Chạy một trình duyệt WWW chẳng hạn như Internet Explorer
(TM)
Masaic
(TM)
hoặc Netscape
(TM)
… Có vài WWW client có sẵn và chúng có thể được tải
xuống trực tiếp từ Internet.
+ Kết nối đến một WWW server bằng cách cung cấp một địa chỉ URL và gửi
yêu cầu HTTP. Điển hình như client yêu cầu một file (trang HTML, hình ảnh…)
trang 10
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
hoặc thư mục đang hiển thị từ server, client cũng có thể gửi một ứng dụng đến
server.
Server sẽ đáp ứng với trạng thái hoạt động hoặc thành công hoặc bị lỗi và dữ
liệu trả về cho yêu cầu của client. Sau khi dữ liệu được gửi đi, kết nối sẽ đóng lại và
không có phần nào của tài liệu đã gửi được giữ lại trên server. Mỗi đối tượng trong
một tài liệu HTTP đòi hỏi một kết nối khác nhau.
WWW với giao thức HTTP đã trở thành một cánh thông dụng để truy cập tài
liệu trên Internet.
WWW cung cập một cách dễ dàng nhất để truy cập dữ liệu trên Internet hoặc
trên mạng Intranet của các công ty.
A) CÁC TIỆN LỢI CỦA VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ WWW:
- Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều kiểu dữ liệu. Một trình duyệt WWW có thể
tự động tải xuống và hiển thị các file văn bản, hình ảnh, chạy video, sound clip và
khởi chạy các ứng dụng trợ giúp cho tất cả các loại file phổ biến. Người sử dụng
không cần biết trình duyệt tải xuống hoặc sử dụng các file dữ liệu ở xa như thế nào
chỉ đơn giản là trình duyệt đã giúp ta trong việc tải xuống và hiển thị các file.
Một ví dụ: Một WWW client đang mở một file ảnh BMP, người sử dụng sẽ

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Dòng yêu cầu: Chứa một câu lệnh yêu cầu gọi là phương thức và địa chỉ URL
của đối tượng được giải quyết yêu cầu bởi phương thức.
+ Phương thức: Được sử dụng để chỉ thị cho server thi hành một công việc
đặc biệt. Hầu hết các server bao gồm cả IIS chỉ hỗ trợ 3 phương thức bởi vì các
phương thức không được thi hành bởi hầu hết các trình duyệt.
GET: Phương thức này chỉ thị cho HTTP server gửi đến một đối tượng (các
Web site, file, hình ảnh…) bằng địa chỉ URL. Phương thức này chỉ dùng trên
HTTP client.
HEAD: Phương thức này cũng giống như GET, tuy nhiên nó chỉ trả về thông
tin header của đối tượng chứ không phải toàn bộ dữ liệu.
POST: Phương thức này được sử dụng bởi HTTP client để gửi một đối tượng
lên server.
Ví dụ: GET www.microsoft.com/HTTP
+ Trường tiêu đề của gói tin: Đây là một tập các trường mô tả client và kiểu
dữ liệu được gửi.
+ Dữ liệu: Nếu một client gửi một dữ liệu chẳng hạn một form đến một
server, nó sẽ nằm trong phiên này của yêu cầu.
3/ Server trả lời:
WWW server nhận một yêu cầu và quá trình này căn cứ trên phương thức
yêu cầu chứa trong dòng lệnh yêu cầu. Server sau đó sẽ trả lời.
Dòng Status : Chỉ ra yêu cầu thành công hoặc bị lỗi.
Message Header Field: Nó cung cấp các thông tin về server và kiểu dữ liệu
trả về.
Dữ liệu trả lời: Đây là dữ liệu yêu cầu ở dạng bit.
4/ Đóng kết nối.
D) GIỚI THIỆU VỀ SECURE SOCKETS LAYER (SSL)
SSL cung cấp một kết nối bảm đảm bằng cách mã hóa và giải mã dữ liệu.
Một SSL-enable server giống như IIS có thể kết nối với một SSL-enable client
chẳng hạn như trình duyệt Internet Explorer.

một nhà cung cấp Internet, họ sẽ muốn thiết kế, di chuyển và có người sử dụng cập
nhật các Web site mà không quấy rầy đến các site khác trên cùng một máy.
Giao thức HTTP sử dụng các URL để yêu cầu các file từ Web server. Từ khi
hầu hết các file đều chứa trong hệ thống file, IIS cần chuyển một URL sang một tên
đầy đủ của file, IIS làm công việc này cho mỗi yêu cầu. Tuy nhiên, nó sẽ đưa lên
người quản trị để cấu hình server mà URL ánh xạ đến thư mục đó.
Để thiết kế cấu trúc hệ thống file trên một máy mà nó host nhiều Web site,
người sử dụng cần biết sự khác nhau giữa thư mục gốc (Home Dir), thư mục gốc ảo
(Virtual Root) và thư mục con (Sub Dir). Người sử dụng cũng cần biết khi nào thì
phải sử dụng chúng.
Home Dir:
Một URL chứa một tên miền đang yêu cầu thư mục chủ. Ví dụ, URL dưới đây
yêu cầu một file mặc định trong thư mục chủ:
http://www.myserver.com
Công việc của người quản trị cần phải làm là giúp đỡ Web server ánh xạ URL
đến thư mục chủ. Trong ví dụ trên, thư mục chủ của Web site này sẽ được ánh xạ
đến:
C:\inetpub\wwwroot
Sub Dir:
Sub Dir là một thư mục kế thừa một ánh xạ URL từ một cấu trúc hệ thống
file. Ví dụ, nếu thư mục này đã tồn tại:
C:\intetpub\wwwroot\sale3
Sau đó, URL này cũng đã tồn tại:
http://www.myserver.com/sales
Thư mục con không cần được định nghĩa đến Web server bởi người quản trị
hệ thống. Bởi vì chỉ cần tạo ra một thư mục cha bằng Explorer là thư mục sẽ được
tạo, không cần phải điều chỉnh trong cấu hình IIS.
Virtual Root:
Virtual Root là một thư mục con của một URL mà nó được ánh xạ đến các
thư mục trong hệ thống file mà không thừa kế sự tồn tại của các hệ thống file này.

cấp thấp nhất.
Master:
Các bảng thuộc tính Master quyết định các thuộc tính mặc định của các Web
site ảo đã tạo với sự thiết lập của IIS, mà các Web site này quyết định các thuộc tính
của các file đã được tạo ra trong mỗi Web site. Trong suốt quá trình cài đặt, IIS sẽ
nạp các thuộc tính mặc định cho các bảng thuộc tính Master. Mỗi site ảo mà người
sử dụng tạo ra sẽ kế thừa việc thiết lập này. Nếu họ thay đổi thiết lập ban đầu của
bảng thuộc tính Master, các Web site ảo con sẽ kế thừa các thiết lập mới này nhưng
các Web site ảo tạo trước đó sẽ giữ nguyên.
Default:
Quá trình cài đặt sẽ tạo ra các Web site với các thuộc tính mặc định của nó.
Những các file nào mà được tạo ra với Web site mặc định sẽ kế thừa các thiết lập
này.
File:
Các file tạo ra trong thư mục ảo sẽ kế thừa các thiết lập của thư mục ảo đó,
ứng với các file được tạo ra trong các trang Web mặc định sẽ kế thừa các bảng
thuộc tính của Web site đó. Sau khi một file được tạo ra thì các thuộc tính được cấu
hình ở mức file.
trang 14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
6. Bảng thuộc tính WWW:
Dịch vụ WWW trên IIS có thể cấu hình 9 bảng thuộc tính sau:
Web Site: Sử dụng bảng thuộc tính Web Site để thiết lập sự nhận biết Web
site, chỉ rõ số kết nối cho phép và cho phép hoặc cấm truy cập vào một Web site.
Operators: Sử dụng bảng thuộc tính Operators để điều khiển các tài khoản
người dùng nào có quyền quản trị các Web site của người sử dụng.
Performance: Sử dụng bảng thuộc tính Performance để điều chỉnh cho thật
tốt sự thi hành của các Web site.
ISAPI filter: Sử dụng bảng thuộc tính ISAPI filter chứa các bộ lọc ISAPI.
Người sử dụng có thể sử dụng ISAPI để chạy các ứng dụng từ xa. Yêu cầu một

File này được trả về khi người sử dụng mở một thư mục và không chỉ định
tên file. Điển hình cho file này là các file tên default.htm hoặc index.htm.
+ Thư mục đang duyệt:
Nếu người sử dụng mở một thư mục mà không chứa một tài liệu mặc định,
server sẽ trả về một danh sách các file trong thư mục.
trang 15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
+ Bảo mật:
IIS có nhiều chức năng bảo mật để giữ gìn server và dữ liệu của người sử
dụng khỏi những cuộc xâm nhập bất hợp pháp và hacker. IIS dựa vào sự thiết lập
của Windows NT (TM) và một hệ thống chứng nhận C2. Giữ an toàn cho IIS server
là một sự kết hợp của việc thiết lập bảo mật cho Windows NT và các chứng năng
bảo mật của dịch vụ IIS. Thêm vào đó nếu server kết nối với Internet, một bộ chọn
kênh (rooter) hoặc bức tường lửa có thể được thiết lập để cung cấp thêm độ an toàn.
8. Thư mục ảo:
Thư mục ảo là một thư mục phi vật lý chứa trong thư mục chủ của dịch vụ
IIS (WWW hoặc FTP) nhưng nó xuất hiện trong suốt đối với người sử dụng vào các
Web site này.
Thư mục ảo tăng khả năng linh hoạt cho việc người sử dụng quyết định lưu
trữ file ở đâu trên server của họ. Bằng cách sử dụng các thư mục ảo để có thể cập
nhật và truy cập dễ dàng nhất. Nó cũng cho phép tăng thêm dung lượng lưu trữ cho
Web site mà không cần phải tắt server.
Thư mục ảo có thế thiết lập cho cả dịch vụ WWW lẫn FTP chạy trên IIS. Thư
mục ảo có thể tạo ra các thư mục định vị ở:
- Trên cùng một đĩa: Như là các thư mục chủ WWWroot hoặc FTProot.
- Một đĩa ở một máy khác trong mạng cục bộ.
- Ở một đĩa của máy khác trên mạng, mà máy này phải cùng tên miền với
máy có dịch vụ IIS.
a) Thư mục ảo cục bộ:
Người sử dụng có thể tạo ra các thư mục ảo cục bộ cho các thư mục được lưu

Phần mở rộng ISAPI (.dll)
Perl Script (.pl)
Chú ý: bởi vì FrontPage không hỗ trợ đối với các vùng có nội dung không
liền nhau vì vậy không thể dùng thư mục ảo để trộn các vùng có nội dung không
liền nhau trong FrontPage.
9. Server ảo:
Nhiều tên miền có thể được host lên một máy đơn đang chạy IIS bằng chách
sử dụng server ảo.
Với nhiều server ảo người sử dụng có thể host nhiều site Web và site FTP lên
một máy đơn đang chạy IIS, điều này có nghĩa là không cần cấp một máy và một
phần mềm trọn gói cho mỗi site này. Người sử dụng đơn giản chỉ cần một địa chỉ IP
duy nhất cho mỗi tên miền được phân công đến server và bằng cách sử dụng Host
Header người sử dụng có thể sử dụng một địa chỉ IP cho nhiều tên miền. Tuy nhiên
chỉ site WWW mới có thể sử dụng Host Header. Server ảo cũng tập trung hóa việc
áp dụng và đơn giản hóa việc nâng cấp các phần mềm server.
Việc host nhiều server ảo lên cùng một máy có thể giảm bớt sự thi hành của
phía server nói chung và server ảo sử dụng Host Header đòi hỏi một giao thức
HTTP phiên bản 1 tương hợp với trình duyệt Web.
Host Header:
Khả năng của các Host Header của HTTP phiên bản 1 cho phép người sử
dụng kết hợp nhiều tên của máy Host với chỉ một địa chỉ IP. IIS sử dụng thông tin
Host Header để đổi địa chỉ các tên khác nhau của server ảo. Để sử dụng Host
Header người sử dụng phải chuyển đổi từ Host name thành địa chỉ IP sử dụng cả hệ
thống tên miền (DNS) server hoặc các file của các Host. Chức năng của file host là
hỗ trợ sự chuyển đổi từ các tên Host thành các địa chỉ IP.
Chú ý:
IIS cung cấp các trình duyệt Web không tương thích với một danh sách các
server tương thích với địa chỉ IP cho trước. Khi người sử dụng chọn một server, một
cookie mới sẽ được thay thế trên ổ đĩa của người sử dụng và cookie này sẽ được sử
dụng cho những lần truy cập sau đến server ảo.

- Checksum: Tất cả các gói tin được chứa trong một checksum để đảm bảo
tính toàn vẹn của dữ liệu. Nếu dữ liệu bị thất lạc ở một nơi nào đó trong suốt quá
trình truyền, checksum sẽ chỉ ra rằng dữ liệu nhận được không giống với dữ liệu
gửi.
a) Các thuộc tính của FTP trên IIS:
Mỗi site FTP mà người sử dụng tạo ra đều có một bảng thuộc tính riêng của
nó. Những cài đặt chung hoặc các thuộc tính cho mỗi site được hiển thị trong các
bảng thuộc tính này.
Dịch vụ FTP sử dụng 5 bảng thuộc tính để cấu hình cho các dịch vụ FTP, cụ
thể như sau:
FTP Site. (Site FTP)
Security Account. (Bảo mật tài khoản)
Messages. (Thông báo)
Home Directory. (Thư mục gốc)
Directory Secuity. (Bảo mật thư mục)
Trong suốt quá trình cài đặt, IIS gán các giá trị mặc định cho việc thiết lập
trên các bảng thuộc tính khác nhau. Người sử dụng có thể dùng chung các tài liệu
trên site FTP của họ mà không phải thay đổi các thiết lập mặc định này nhưng cũng
dễ dàng trong việc thay đổi các thuộc tính được thiết lập theo ý thích.
Mỗi site FTP được tạo ra và mỗi file ứng với mỗi site FTP đều có một thuộc
tính riêng mà người sử dụng có thể điều chỉnh để tuỳ biến những cấu hình thiết lập
tên từng site một hoặc từng file một. Họ cũng có thể điều chỉnh việc thiết lập các
thuộc tính mặc định các site và các file con đã thiết lập tuỳ biến trước đó.
Có 3 kiểu (hoặc các lớp) của các bảng thuộc tính FTP với IIS và chúng tương
tự như 3 lớp của bảng thuộc dùng trên các site WWW. Các lớp thuộc tính FTP
gồm: Master, Dedault và File. Người sử dụng có thể tuỳ biến cấu hình của 3 kiểu
trang 18
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
thuộc tính này của bảng thuộc tính nhưng khi thay đổi cấu hình ở một nơi nào đó
thì nó cũng ảnh hưởng đến các site và các file con mà họ đã tạo.

2. Tổ chức Web site:
Trước khi bắt đầu xây dựng một Web site, người sử dụng có thể muốn tìm
hiểu tổ chức của nó. Khi có nhiều hơn các khả năng suy nghĩ về các cách tổ chức
cấu trúc một Web site, người sử dụng có thể suy nghĩ về nó như một viễn cảnh đi
lại. Trong những suy nghĩ thêm của nó về khía cạnh này, sẽ nảy sinh ra những câu
hỏi: Người sử dụng có thể làm gì để dễ dàng giữ gìn Web site của mình? Các quy
ước nào sẽ làm đơn giản Web site của họ?
3. Cài đặt Apache trên Windows:
Chạy file Apache.msi đã tải Apache về, người sử dụng sẽ phải nhập các thông
tin sau:
trang 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
- Có hay không việc chạy Apache cho tất cả mọi người sử dụng (như một
dịch vụ) hoặc cài đặt Apache để chạy trên một cửa sổ giao tiếp khi chọn shortcut
khởi động Apache.
- Tên Server, tên miền và tài khoản email của người quản trị.
- Tên thư mục để cài Apache vào (mặc định là C:\Program Files\Apache
Group\Apache mặc dù người sử dụng có thể thay đổi sang một thư mục bất kỳ mà
họ muốn)
- Kiểu cài đặt. Chức năng “Complete” sẽ cài đặt mọi thứ, bao gồm cả mã
nguồn nếu người sử dụng đã tải về gói –srm.msi. Chọn cài đặt “Custom” nếu không
muốn chọn cài đặt tài liệu hoặc mã nguồn từ gói cài đặt này.
Trong suốt quá trình cài đặt Apache sẽ cấu hình các file trong thư mục conf
cho thư mục lựa chọn cài đặt của người sử dụng, tuy nhiên nếu bất kỳ những file
nào trong thư mục này đã tồn tại chúng sẽ không bị chép chồng lên.
Sau khi cài đặt xong, người sử dụng sẽ phải sửa đổi các file cấu hình trong
thư mục conf. Những file này sẽ được cấu hình trong suốt quá trình cài đặt để sẵn
sàng cho Apache chạy từ thư mục mà họ đã cài đặt vào với các tài liệu phục vụ từ
thư mục con htdocs. Có rất nhiều chức năng trước khi bắt đầu thực sự sử dụng
Apache. Tuy nhiên, để việc khởi động nhanh chóng các file này nên làm việc theo

- Apache –n “service name” –k restart.
- Apache –n “service name” –k shutdown.
- Apache –n “service name” –k stop.
Ký hiệu chuyển đảo –n để chỉ các dịch vụ Apache mặc định, còn khi không
có –n mà chỉ có –k dòng lệnh sẽ chỉ định rằng Apache đang chạy trên một cửa sổ
giao tiếp, trường hợp này chỉ yêu cầu đối với các tên dịch vụ của Apache có chứa
khoảng trắng.
Ngoài ra để Stop Apache trên cửa sổ giao tiếp còn có thể ấn tổ hợp phím Ctrl
+ C hoặc Ctrl + Break.
b) Chạy Apache trên cửa sổ giao tiếp:
Một khi đóng cửa sổ giao tiếp sẽ kết thúc việc chạy Apache.
Tại biểu tượng Start menu và trình Windows NT Service Manager có thể cung
cấp một giao diện đơn giản để quản trị Apache. Nhưng dễ dàng nhất để làm việc là
từ dòng lệnh.
Khi làm việc với Apache điều quan trọng nhất là việc tìm các file cấu hình.
Người sử dụng có thể chỉ ra file cấu hình bằng hai cách (dùng các dòng lệnh):
* -f chỉ đến đường dẫn một file cấu hình:
apache –f c:\myserver\conf\my.conf
apache –f test\test.conf
* -n đường dẫn đến một file cấu hình của một dịch vụ Apache đã được cài
đặt.
apache –n “service name”
Trong các trường hợp trên, Server Root phải được thiết lập trong file cấu
hình.
Nếu người sử dụng chỉ ra một tên file cấu hình với –n và –f. Apache sẽ sử
dụng tên file được biên dịch ở trong server, thường là “conf/httpd.conf”. Gọi đến
Apache với ký hiệu chuyển đảo –v sẽ hiển thị các giá trị đã đánh nhãn SERVER-
CONFIG-FILE. Apache sẽ quyết định ServerRoot của nó bằng các cách sau:
- Một chỉ thị SeverRoot qua ký hiệu chuyển đảo –c.
- Ký hiệu chuyển đảo –d trên dòng lệnh.

bằng lệnh “apache –t”, sau đó khởi động lại Apache với “apache –k restart”.
Apache sẽ đọc lại các file cấu hình cho phép thực hiện bất kỳ một tiến trình nào để
hoàn thành mà không xảy ra gián đoạn. Bất kỳ một yêu cầu nào cũng sẽ được phục
vụ với việc sử dụng cấu hình mới.
5. Kiểm tra Apache trên Windows:
Chạy Command Prompt danh sách Program của trình đơn Start.
Chọn thư mục đã cài đặt Apache vào và gõ lệnh apache và đọc các thông
báo lỗi (nếu có). Sau đó xem lại file error.log cho các cấu hình bị thiết lập sai. Nếu
người sử dụng chấp nhận mặc định khi cài đặt Apache, các dòng lệnh sẽ là:
c:
cd "\program files\apache group\apache"
apache
Wait for Apache to exit, or press Ctrl+C
more <logs\error.log
Sau khi xem file error.log người sử dụng sẽ thấy một vài vấn đề bị lỗi và họ
có thể sửa chữa và khởi động lại một lần nữa.
Sau khi khởi động, Apache sẽ chạy (như ở cửa sổ giao tiếp hoặc như một
dịch vụ) và sẽ bắt đầu lắng nghe ở cổng 80, trừ phi người sử dụng thay đổi Port,
Listen hoặc BindAddress (trong file cấu hình). Hãy thực hiện kết nối đến server và
truy cập trang Web mặc định bằng cách mở trình duyệt và nhập vào URL sau:
http://localhost/
Trình duyệt sẽ trả lại một trang Welcome và một liên kết đến sổ hướng dẫn
Apache như sau:
trang 22
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Nếu không người sử dụng sẽ nhận được một thông báo lỗi, có thể xem lại file
error.log trong thư mục log. Nếu máy tính không nối mạng, họ có thể sử dụng URL
sau đây:
http://127.0.0.1/
Một khi các cài đặt cơ sở đang làm việc, người sử dụng phải cấu hình các

người quản trị cá nhân cho phép một server đơn giản trên mạng và chạy như nhiều
máy khác nhau thay vì dành cho phần cứng và tiền bạc để mỗi site được đưa lên,
một vài server cấu hình các lệnh để đưa ra các kết quả như nhau: một virtual site.
Bởi vì phí tổn để cài đặt một server có thể chia xẻ cho nhiều site, thời gian để cấu
hình và quản lý Web site được giảm đi rất nhiều.
Virtual host đã đem lại một khía cạnh chắc chắn của việc tạo ra một trang
Web di động. Khi một site là ảo, nó dễ dàng di chuyển đến một Web server khác
trong cùng một mạng hoặc ở một nơi nào khác. Đây chính là vấn đề của việc
chuyển chỗ các trang HTML của các site đến một máy mới và điều chỉnh các thông
tin DNS (Domain Name Server) của site đưa lên một server mới. Để việc thích
nghi với DNS được cập nhật, đơn giản chỉ cần tạo ra sự đổi hướng trên server cũ .
Điều này cho phép sự lưu thông được trôi chảy mà không có sự sai sót, đó là một
vấn đề quan trọng với các site đang lớn mạnh đang được lưu thông để tạo ra kinh
doanh.
Về mặt lịch sử, khi người sử dụng muốn một site đang host sử dụng tên miền
của họ, sự lựa chọn có thể được là mua hoặc thuê một máy tính và dùng nó để cấu
hình như một Web server. Phải chịu các phí tổn để tiêu tốn cho việc quản lý server
này. Các phí tổn này dễ thường là rất lớn, việc này đã thúc đẩy các nhà cung cấp
dịch vụ Internet (ISP) thêm vào các cách để hỗ trợ nhiều Web site trên một host,
điều này dẫn đến một vài giải pháp gần đây, chẳng hạn như Home Page Approach.
Home Page Approach tạo ra một địa chỉ giống như:
http://www.isp.dom/~name.
Home Page Approach là một cách thích hợp để phục vụ các trang người dùng
cục bộ. Nhưng khi dùng nó để phục vụ cung cấp thông tin lớn và đang được truy
cập thường xuyên bởi một số lớn người sử dụng thì việc này sẽ tạo ra một địa chỉ
tồi mà rất khó nhớ, tên nhạp vào dài, dễ xảy ra sai sót phía người sử dụng và trông
không được chuyên nghiệp lắm.
Xây dựng một virtual host:
Các phạm vi liên quan của virtual host, virtual site và multihomed server
thông thường được sử dụng thay thế cho nhau. Để dễ hiễu hơn, chỉ cần suy nghĩ

máy được đánh số, con người thích sử dụng tên máy hơn. DNS chuyển các tên
sang số và các số sang tên. Sự thay đổi này có ý nghĩa là nếu người sử dụng kết nối
với Internet, và đang chạy với một tên server . Nếu không thì ngược lại không một
ai khác chạy nó. Nếu người sử dụng không phải đang chạy với DNS của chính
mình, họ sẽ cần phải ngang hàng với quyền quản trị mạng của chính mình để thi
hành bất kỳ sự thêm vào hoặc thay đổi DNS.
8. Cấu hình Apache trên Windows:
a) Các file cấu hình của Apache server:
Web server sẽ đọc 3 file chứa các chỉ thị cấu hình. Bất kỳ một chỉ nào nào
được hiển thị trong các file này đều sẽ được thực hiện.
Conf/httpd.conf: Chứa các chỉ thị mà nó điều khiển sự thi hành của
server. Tên file có thể được lướt qua với ký hiệu khả chuyển –f.
Conf/srm.conf: Chứa các chỉ thị mà nó điều khiển sự chỉ định các tài
liệu mà server cung cấp cho các client. Tên file có thể được lướt qua với chỉ thị
ResourceConfig.
Conf/access.conf: Chứa các chỉ thị mà nó điều khiển sự truy cập các
tài liệu. Tên file có thể được bỏ qua với chỉ thị AccessConfig.
b) Thiết lập cấu hình Apache trên Windows:
Apache được cấu hình bởi các file trong thư mục conf. Các file này cũng
giống như các file được sử dụng để cấu hình cho Unix nhưng có một vài chỉ thị
khác cho Apache trên Windows.
Quá trình cấu hình sẽ được bắt đầu bằng cách tham khảo httpd.conf và các
chỉ thị của nó. Mặc dù các file access.conf và srm.conf còn tồn tại song chúng là
những file cũ mà không được sử dụng nhiều bởi hầu hết các nhà quản trị và người
sử dụng sẽ không tìm thấy bất kỳ chỉ thị nào ở đó.
Httpd.conf chứa rất nhiều các tư liệu của chính nó, được sinh ra bởi các chỉ
thị cấu hình mặc định gửi gắm khi khởi động với Apache server. Bắt đầu bằng cách
đọc các lời chú thích để hiểu file cấu hình và làm một số thay đổi nhỏ, khởi động lại
Apache trong một cửa sổ giao tiếp với mỗi thay đổi. Nếu người sử dụng tạo ra một
lỗi, nó sẽ dễ dàng sao lưu để định dạng lần làm việc cuối cùng .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status