Luận văn
Thực trạng và giải pháp đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu
sản phẩm thủ công mỹ nghệ
của công ty thương mại xây
dựng Bạch Đằng
CHƯƠNG I : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG TY THƯƠNG MẠI - XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
1. Địa chỉ liên hệ
+ Trụ sở chính : Số 71 Bạch Đằng- Quận Hai Bà Trưng- Hà
Nội
+ Tên giao dịch : VIETRCIMEX
+ Điện thoại : 049875636
+ Số Fax : 04.8763567
+ Tài khoản của công ty : Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.
2. Lịch sử hình thành của công ty
Công ty Thương Mại - Xây Dựng Bạch Đằng là một doanh nghiệp nhà
nước thuộc Tổng công ty thương mại và xây dựng (trước kia là Tổng công ty
xuất nhập khẩu, sản xuất, cung ứng vật tư ) trực thuộc Bộ Giao Thông Vận
Tải. Với diện tích là 8327 mét vuông theo hợp đồng số 34678/ĐC/ND/HĐND
ký ngày 30/08/1999, khu đất trên đã trải qua quá trình phát triển và sử dụng
như sau:
- Ngày 31/01/1993 Bộ trưởng Bộ GTVT ra quyết định số
130/QĐ/KHĐT, Cảng Hà Nội giao toàn bộ khu đất bao gồm nhà xưởng, nhà
văn phòng, nhà kho, bãi cho Tổng công ty XNK, sản xuất cung ứng vật tư
GTVT.
lực và ưu thế từ bên ngoài môi trường kinh doanh, công ty đã đạt được những
thành tựu nhất định và không ngừng phát triển, đưa tập thể bước đi những
bước vững chắc.
Chính nhờ sự cố gắng không ngừng vươn lên đó, từ khi chỉ là một phân
xưởng nhỏ bé được nâng cấp lên thành “ Xí nghiệp gốm sứ mỹ nghệ xuất
khẩu và trang trí nội thất”. Từ chỗ chỉ với mục đích giải quyết công ăn việc
làm cho người lao động dư thừa của tổng công ty bằng những công việc thủ
công thuần tuý, đã có sự cải tiến khi chuyển sang công nghệ sản xuất mới. Đó
là sự cải tiến về mặt công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành
nguyên nhiên vật liệu, chuyển đổi từ những chất liệu gốm sứ làm bằng đất sét
sang chất liệu nhựa tổng hợp với bột đá tự nhiên, và nguyên liệu thạch cao
các sản phẩm của công ty cũng ngày một phong phú hơn (các loại ca, cốc, búp
bê, đồ chơi ). Bên cạnh đó công ty còn mở rộng quy mô sản xuất thêm nhiều
xưởng sản xuất mới như xưởng sản xuất đồ mộc, xưởng sản xuất đồ nhựa.
Nhưng khi đó sản phẩm của công ty chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường trong
nước và chưa tìm được đầu ra cho thị trường thế giới. Vì vậy, sản xuất vẫn
mang tính manh mún, thủ công, thị trường không ổn định, hoạt động kinh
doanh phát triển không đồng đều.
Sau hơn 3 năm không ngại gian khó (từ năm 1996 đến 1999), xí nghiệp
luôn tìm cách vươn lên bắt nhịp cùng nhịp sống của cơ chế thị trường. Xí
nghiệp luôn tìm cách xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với trình
độ sản xuất của mình, củng cố thị trường trong nước và luôn tìm kiếm, khai
thác, thâm nhập thị trường mới. Bên cạnh việc không ngừng cải tiến mẫu mã,
sáng tạo ra những phương thức làm việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, xí
nghiệp luôn tìm hiểu, nghiên cứu thị hiếu của người tiêu dùng, để có thể thoả
mãn nhu cầu của khách hàng cũng như có thể thúc đẩy hơn nữa sự phát triển
của mình. Đến khi được nâng cấp thành “ Công ty Thương Mại -Xây Dựng
Bạch Đằng “, thì không chỉ kinh doanh những ngành nghề đơn thuần với công
nghệ thủ công là chính nữa mà nó đã được nâng cấp lên ở mức cao hơn với
chức năng hoạt động rộng rãi đa ngành nghề : Sản xuất các sản phẩm thủ công
riêng theo quy định của nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, công ty
có tài khoản tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam. Về mặt hàng kinh doanh
xuất nhập khẩu nằm trong danh mục hàng hoá đã được Bộ Thương Mại phê
duyệt và nằm trong danh mục hàng hoá xuất khẩu với số lượng và giá trị hàng
hoá tương đối lớn.
2.Chức năng và nhiệm vụ chung của công ty
2.1. Chức năng
Công ty Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng là một DNNN thuộc “Tổng
công ty xây dựng- Thương mại “ thuộc Bộ GTVT có các chức năng chính sau:
+ Sản xuất kinh doanh hàng may mặc, đồ da, hàng kim khí hoá chất, điện
máy và lắp ráp điện tử. Nhận xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị kinh tế
trong và ngoài nước.
+ Tổ chức xuất nhập khẩu và kinh doanh phương tiện vận tải, kinh doanh
kho bãi theo giấy phép kinh doanh của công ty phù hợp với quy chế hiện hành
của Nhà nước. Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu trong nước.
2.2. Nhiệm vụ
Với những chức năng trên, công ty có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh của công ty theo
quy chế hiện hành phù hợp.
+ Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý xuất nhập khẩu. Thực hiện các
chính sách về thuế nộp ngân sách nhà nước.
+ Kinh doanh đúng mặt hàng, theo đúng ngành nghề đã đăng ký và mục
đích chung của công ty.
+ Bảo toàn và sử dụng tài sản được giao theo đúng chế độ của nhà nước
quy định, đạt hiệu quả kinh tế xã hội và tăng cường điều kiện vật chất cho cán
bộ CNV của công ty.
+Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và các biện pháp khuyến
khích vật chất, tinh thần đúng chế độ chính sách của nhà nước, đảm bảo mức
lương tối thiểu và cải thiện đời sống người lao động.
+ Đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ nghiệp vụ
g
TCH
Phòng
KD-XNK
Phòng
KHSX
Phòng
dự án
Phòng
TCKT
Phòng
bảo vệ
Giám đốc
Phó GĐ
Xưởng
cơ khí
Xưởng
đồ
ch
ơ
i
- Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả, thực
hiện theo đúng qui định của nhà nước ban hành.
1. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban bộ phận trực thuộc công ty
1.2.Phòng KD-XNK
* Chức năng
- Tổ chức tốt khâu KD-XNK , phương tiện vận tải kho bãi theo giấy phép
kinh doanh của công ty phù hợp quy chế hiện hành của nhà nước.
* Chức năng
- Tổ chức tốt bộ máy quản lý điều hành công ty có hiệu quả.
- Công tác tổ chức lao động, chế độ tiền lương, Bảo hiểm xã hội và
thường trực hội đồng thi đua
- Công tác quản trị hành chính, văn thư, phục vụ.
* Nhiệm vụ
* Về công tác tổ chức lao động, chế độ, tiền lương:
- Quản lý hồ sơ của CBCNV từ cấp trưởng phòng trở xuống, quản lý và
theo dõi diễn biến nhân sự của toàn công ty.
- Xét tuyển lao động, tiếp nhận lao động, làm thủ tục ký hợp đồng lao
động ngắn hạn, dài hạn, thử việc, lao động thời vụ, đề nghị sa thải, chấm dứt
hợp đồng lao động đối với cán bộ CNV không thực hiện đúng theo hợp đồng
lao động, khi công ty không có nhu cầu sử dụng hoặc đối tượng lao động vi
phạm các quy chế, quy định của công ty.
- Thực hiện giải quyết các chế độ có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ
của người lao động, các chính sách về lao động, tiền lương, tiền thưởng theo
quy định của công ty và các văn bản quy định khác của nhà nước.
- Báo cáo định kỳ 6 tháng/lần về lao động, tiền lương và các hình thức
bảo hiểm với các cơ quan quản lý khác.
- Kết hợp với các phòng và Hội đồng thi đua kiểm tra, giám sát, đôn đốc
CBCNV thực hiện tốt quy chế, quy định về giờ giấc làm việc và công tác thực
hành tiết kiệm.
* Về công tác quản trị hành chính, văn thư, phục vụ:
- Quản lý toàn bộ tài sản cố định, tài sản văn phòng công ty (trang thiết bị
văn phòng, xe cộ, điện nước )
- Sắp xếp bố trí xe cộ, phương tiện phục vụ cán bộ công ty đi công tác.
- Tổ chức cuộc họp, hội thảo, Đại hội của công ty.
- Phục vụ lễ tân, tiếp khách, phục vụ lãnh đạo
- Quản lý dấu theo quy định của bộ Công an và quy định sử dụng của
Giám đốc, quản lý lưu trữ hồ sơ, tài liệu các văn bản pháp quy của nhà nước,
và theo chỉ số quy định.
- Chỉ đạo các kế toán viên của các đơn vị trong việc hạch toán, lập bảng
biểu, ghi chép sổ sách chứng từ theo đúng quy định của nhà nước, của công
ty.
- Được phép đề nghị thay đổi kế toán của các đơn bị thành viên khi
không làm đúng chức năng, làm sai nguyên tắc, làm sai quy định và hướng
dẫn của công ty.
- Chủ động quan hệ với các cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan nghiệp
vụ (tài chính, thuế, ngân hàng).
- Trình duyệt lương hàng tháng của CBCNV đảm bảo chính xác và đúng
kỳ hạn.
1.5.Phòng dự án
* Chức năng
- Lập hồ sơ dự thầu, lập dự toán, bóc tách dự toán và thẩm định dự toán.
- Lập dự án đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh ngắn hạn, dài hạn,
quản lý các dự án đầu tư đã và đang thực hiện đảm bảo có hiệu quả nhất.
- Lập các dự án, phương án kinh doanh, liên kết, hợp tác với các đối tác
trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh.
* Nhiệm vụ
- Quan hệ đối ngoại, tìm kiếm các dự án xây dựng công trình giao thông,
xây dựng công nghiệp, xây dựng dân dụng thuỷ lợi
- Giao cho các xí nghiệp, đơn vị đội thi công, triển khai thực hiện hợp
đồng thi công.
- Theo dõi kế hoạch tiến độ thi công, chất lượng công trình, quản lý
nguồn nhân lực, quản lý máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và các chi phí
khác.
- Đệ trình Giám đốc duyệt các dự án đầu tư hoặc bổ xung nhiệm vụ cho
các đơn vị thành viên.
1.6.Phòng kế hoạch sản xuất
* Chức năng
- Tham mưu cho Giám đốc công ty về công tác kinh doanh máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải. Trực tiếp nhập khẩu và kinh doanh thiết bị thi
công công trình và các phương tiện vận tải.
* Nhiệm vụ
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh thiết bị của công ty, lập dự án kinh
doanh của phòng gắn liền với kế hoạch sử dụng vốn trong quý, năm gửi
phòng TCKT để trình Giám đốc công ty duyệt.
- Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch kinh tế do Giám đốc công ty giao, đảm bảo
doanh số và lợi nhuận.
- Chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về hiệu quả kinh tế đối với
từng phương án kinh doanh đã đề ra.
- Trực tiếp quản lý, điều hành tổ bảo dưỡng, sửa chữa, phục chế máy
móc thiết bị. Trực tiếp làm thủ tiếp nhận hàng hoá (máy móc, thiết bị) quản lý
và bảo vệ hàng hoá đảm bảo an toàn.
1.8.Phòng bảo vệ
* Chức năng
- Bảo vệ an toàn, an ninh trật tự trong phạm vi mặt bằng của công ty.
- Bảo vệ tài sản của công ty, tài sản của CBCNV (phương tiện đi lại)
* Nhiệm vụ
- Phân công bố trí lực lượng thường trực trong phạm vi quản lý của công
ty 24/24 tháng. Phân công trực cụ thể do trưởng phòng bảo vệ đảm nhận.
- Kiểm tra, giám sát CBCNV thực hiện nội quy, quy chế của công ty (giờ
giấc đi làm, chấp hành mọi nội quy, quy chế trong sản xuất).
- Kiểm tra, giám sát vật tư hàng hoá, máy móc thiết bị của công ty khi
mang ra, vào địa phận của công ty.
- Thường xuyên canh gác, tuần tra trong địa phận của công ty quản lý,
đặc biệt là sau giờ hành chính, kịp thời phát hiện các trường hợp gây mất trật
tự, gây nguy hiểm cho người và thiết bị.
- Làm tốt công tác thường trực phòng chống lũ lụt, cháy, nổ của công
ty.
- Trưởng phòng phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc công ty về mọi
hoạt động công tác của phòng mình.
- Trưởng phòng được phép đề nghị Giám đốc chấm dứt hợp đồng lao
động đối với nhân viên của phòng mình, bãi miễn hoặc đề bạt các phó phòng
giúp việc cho mình.
- Được phép đề nghị định biên của phòng trên cơ sở pháp lý và khoa học
đảm bảo sự hoạt động của phòng ổn định, có hiệu quả.
- Các trưởng phòng khi có nhiệm vụ đi công tác, phải có trách nhiệm bàn
giao công việc cho các phó phòng bằng văn bản cụ thể. Phó phòng phải chịu
hoàn toàn trách nhiệm trước trưởng phòng và Giám đốc công ty về những
công việc được giao.
III. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Tổng doanh thu
Doanh thu XNK
DT từ tiêu thụ trong nước
3230
2325,5
904,5
công ty thu hút thêm số lượng lao động, tạo thêm nhiều việc làm cho người
lao động.
Lợi nhuận từ HĐ kinh doanh là 502 tr.đ năm 1999 sau đó giảm xuống
còn 171,6 tr.đ năm 2000 và tăng dần lên vào các năm 2001 và 2002 là 838,95
và 854,37 tr.đ. Có được kết quả trên chúng ta có thể có nhận xét như sau:
doanh thu liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh năm 2000 lại giảm so với năm 1999. Như vậy có thể là do
năm 2000 doanh nghiệp phải chi phí lớn cho chi phí bán hàng hoặc chi phí
quản lý, hoặc do tăng các khoản giảm trừ. Chi phí bán hàng năm 1999 là
205,5 tr.đ nhưng đã tăng lên là 900,4 tr.đ, một con số quả là không nhỏ đối
với một doanh nghiệp có tổng doanh thu là 5250tr.đ.
Như vậy, năm 2000 so với năm 1999:
Lợi nhuận từ HĐ kinh doanh giảm mặc dù tổng DT tăng là do chi phí
quản lý tăng làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty giảm.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính cũng giảm từ –60 xuống –75tr.đ
Lợi nhuận từ HĐBT giảm từ 62,5 xuống 53tr.đ
Từ sự suy giảm trên làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty cũng giảm từ
343,06tr.đ xuống còn 101,54 tr.đ . Như vậy năm 2000 so với năm 1999 công
ty sản xuất kinh doanh có chiều hướng giảm sút, ngược với xu thế phát triển,
có thể là do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân mà chúng ta sẽ được tìm hiểu
sau như thị trường thế giới biến động theo chiều hướng xấu, hay sản phẩm
của công ty không đáp ứng được với nhu cầu của người tiêu dùng
Năm 2001 so với năm 1999:
Doanh thu bán hàng năm 2001 là 18475tr.đ tăng so với 5250tr.đ năm
2000.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý năm 2001 đều tăng so với năm 2000
nhưng ở một tỷ lệ phù hợp hơn sơ với tổng doanh thu.
Lợi nhuận từ HĐ kinh doanh năm 2001 là 838,95tr.đ so với năm 2000 là
171,6tr.đ. Lợi nhuận từ HĐTC vẫn giảm từ –75,27tr.đ xuống –286,62 tr.đ ,
chứng tỏ lĩnh vực tài chính doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả. Lợi
Đó là chiến lược kinh doanh đúng đắn của công ty trong tình hình hiện nay
khi mà xu hướng toàn cầu hoá đang và sẽ tác động đến mọi ngành nghề, mọi
thành phần kinh tế, hơn nữa trong thời gian tới Việt Nam sẽ chính thức gia
nhập AFTA, là một sự kiện kinh tế to lớn, ảnh hưởng đến tất cả các doanh
nghiệp đang tồn tại. Vì vậy, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được
thì không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước mà phải có chiến lược thâm nhập
thị trường quốc tế - một thị trường đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức với
sự cạnh tranh cao, rủi ro cao luôn luôn đi cùng với siêu lợi nhuận.
Cũng từ bảng trên ta thấy: lĩnh vực kinh doanh chính mang lại lợi nhuận
cho công ty là lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Còn về hoạt động tài chính và
hoạt động bất thường thì hầu như không thu được lợi nhuận. Như vậy doanh
nghiệp cần có kế hoạch phân phối nguồn đầu tư hợp lý hơn nữa để nguồn vốn
đâù tư của doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao.
2.Đánh giá các hoạt động quản trị của doanh nghiệp
Đơn vị tính : 1000.000đ
Tổng số nộp ngân sách
Đơn vị tính
Đã thực hiện
5 tháng
Dự kiến thực
hiện
6 tháng
Dự kiến thực
hiện 6 tháng
2003
- Thuế GTGT Triệu
đồng
1650,8 430 2081
khẩu, với việc thâm nhập vào thị trường này Công ty Thương Mại -Xây Dựng
Bạch Đằng đã phải chi phí rất nhiều cho công tác tìm kiếm thị trường, và
khối quản lý đã làm rất tốt công tác này đặc biệt là mảng thị trường và mảng
mạng trong phòng KD-XNK. Tuy nhiên, vì là người mới gia nhập thị trường
xuât khẩu nên KD-XNK cũng có những thuận lợi và cũng không ít khó khăn.
Về thuận lợi: sản phẩm của công ty rất được người tiêu dùng ưa chuộng
do mẫu mã phong phú, phù hợp với thị hiếu của từng nhóm khách hàng, lại là
một sản phẩm mới tham gia xuất khẩu nên công ty cũng được sự giúp đỡ của
rất nhiều ban, ngành như Bộ Thương mại, Bộ Tài chính sản phẩm được sản
xuất ở thị trường lao động rẻ nên giá thành thấp, hấp dẫn người tiêu dùng.
Về khó khăn: Đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các nhà kinh doanh,
nhà phân phối lớn ở thị trường nước bạn, sản phẩm của ta chưa có uy tín trên
thị trường nước ngoài, về thị hiếu của người tiêu dùng cũng thay đổi mà ta
cần phải tốn chi phí lớn để nghiên cứu
Nhưng với những thành công bước đầu mà Công ty Thương Mại -Xây
Dựng Bạch Đằng đã đạt được, chúng ta tin tưởng vào chiến lược đúng đắn của
công ty trong thời gian qua và có thể kết luận rằng hướng đi của công ty là
hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và điều kiện sản
xuất kinh doanh của công ty. Hy vọng rằng trong thời gian tới, Công ty
Thương Mại -Xây Dựng Bạch Đằng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng và có
chiến lược thị trường đúng đắn mang lại hiệu quả kinh tế cao.
2.2.Về hoạt động Marketing
Thị trường càng rộng lớn thì tính ổn định càng không cao, nên bộ phận
Marketing ngày càng giữ một trách nhiệm to lớn. Chiến lược Marketing là
một trong 4 bộ phận cấu thành Mar-Mix, nhu cầu và sở thích của con người
ngày càng phong phú đa dạng và phức tạp, sản xuất và tiêu dùng không phải
lúc nào cũng ăn khớp với nhau, nếu không có chiến lược Mar phù hợp thì
sản xuất khó mà ăn khớp với tiêu dùng. Khi đó tình trạng thừa hoặc thiếu
hàng sẽ xảy ra làm lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả kinh doanh. Chính vì
vậy, mỗi doanh nghiệp phải có một chiến lược Marketing phù hợp với tình
thực hiện đúng quy chế. Về vấn đề tuyển thêm lao động, công ty luôn có
những lớp học việc cho công nhân mới vào nghề còn bỡ ngỡ, chưa thành thạo
trong công việc. Ngoài ra, hàng năm thường xuyên cử cán bộ đi học những
lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về chuyên môn, về việc nắm bắt tình hình kinh tế
mới các phòng ban trong công ty luôn luôn có sự phối hợp chặt chẽ với nhau
trong công việc để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình vì mục tiêu chung
của công ty.
2.4.Tình hình quản trị
Bộ máy quản trị là trung tâm điều khiển mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh ở tầm vĩ mô, nếu như khu trung tâm này hoạt động tốt thì những hoạt
động ở tầm vi mô mới thu được kết quả như mong muốn được. Ban giám đốc
của công ty mặc dù chỉ có hai người nhưng đã thực hiện đúng chức năng và
nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả nhất, vì mục tiêu chung của công
ty, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi và đã đạt được những kết quả đáng mừng.
Tuy nhiên trong thời gian tới, khi mà thị trường ngoài nước đang phát triển thì
nhiệm vụ của ban quản trị cũng rất nặng nề. Công ty cần có một đội ngũ quản
trị có trình độ cao để giải quyết tốt nhiệm vụ quản trị trong thời gian tới với
hiệu quả cao trong công việc. Để làm được như vậy thì Công ty Thương Mại -
Xây Dựng Bạch Đằng đang từng bước cải tiến bộ máy quản trị này, công ty
luôn cử một số cán bộ theo học các lớp quản trị chuyên sâu, để mỗi một cán
bộ quản trị đều có kiến thức chuyên môn hoá hoạt động quản trị hay vạn năng
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao phù hợp với thời đại mới và sự phát
triển như vũ bão của nền kinh tế tri thức với những kỹ năng, kỹ xảo của đội
ngũ lao động quản trị.
2.5.Về chất lượng sản phẩm và các hoạt động khác
Chất lượng sản phẩm của công ty đã nâng lên rõ rệt do sự thay đổi chất
liệu sản phẩm và cải tiến mẫu mã, đã được người tiêu dùng đánh giá cao.
Trong thời gian tới hy vọng rằng, công ty vẫn giữ vững được ưu thế sản phẩm
của mình và cố gắng phát huy hơn nữa để có thể chiến thắng trong cạnh tranh
về mọi mặt, để không chỉ là một doanh nghiệp non trẻ hiện nay nữa mà sẽ trở
Sản phẩm chủ yếu của Công ty là hàng thủ công mỹ nghệ chiếm trên
30% khối lượng sản phẩm, ngoài ra là các mặt hàng như Gốm Sứ, hàng Đồ
chơi, hàng Mây tre, hàng Sắt mỹ nghệ và hàng tạp phẩm. Hàng thủ công mỹ
nghệ là mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn, sau đó đến hàng Đồ chơi,
những sản phẩm này chủ yếu được sản xuất tại phân xưởng của Công ty, hiếm
khi Công ty phải đi thu mua hàng từ các cơ sở sản xuất khác nên Công ty có
thể chủ động trong việc nhận và thực hiện đơn hàng. Đến nay, trong danh sách
các mặt hàng xuất khẩu của Công ty chủ yếu vẫn là 6 nhóm mặt hàng chính,
Công ty đang từng bước thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, nghiên cứu thêm
nhiều nhóm mặt hàng mới, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm cũng như đa dạng
hoá chất lượng nguồn nguyên liệu tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có chất
lượng khác nhau phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách hàng.
3.Cơ cấu lao động
Công ty gồm 270 cán bộ CNV. Trong đó có 65 cán bộ làm công tác quản
lý (23,7%) và số còn lại là công nhân trực tiêp sản xuất và người lao động làm
thuê theo hợp đồng lao động.
Đứng đầu công ty là Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 1 phó Giám đốc.
Dưới Ban Giám đốc là các phòng ban trực thuộc, những phòng ban này
được chia thành hai khối là khối kinh doanh và khối quản lý.