Luận văn
Nâng cao hiệu qủa thẩm định
cho vay DNVVN tại các NHTM
trên địa bàn TPHCM
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Công tác thẩm đònh cho vay đối với DNVVN của các NHTM vốn dó đã
đóng một vai trò quan trọng, trong bối cảnh hiện nay lại càng đặc biệt quan trọng
hơn vì nền kinh tế đang khó khăn, dẫn đến việc cho vay sẽ rủi ro cao hơn. Lúc
này, để có thể quyết đònh tài trợ vốn cho các DN đòi hỏi việc thẩm đònh hồ sơ
vay phải chặt chẽ, kỹ càng hơn và yêu cầu đáp ứng được các chỉ tiêu cao hơn về
hiệu quả tài chính của phương án, năng lực, pháp lý và uy tín của DN. Nếu công
tác thẩm đònh không tốt, sẽ dễ dẫn đến các quyết đònh cho vay không hiệu quả,
dẫn tới không thu hồi được vốn vay và điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến
hoạt động của bản thân ngân hàng đó mà còn ảnh hưởng tới mọi mặt của nền
kinh tế nói chung.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi đã chọn đề tài : “Nâng cao hiệu quả
thẩm đònh cho vay DNVVN tại các NHTM trên đòa bàn TPHCM ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu :
Trên cơ sở quy đònh, nội dung thẩm đònh tín dụng khách hàng DN, xây
dựng khung phân tích và đánh giá hồ sơ vay, hệ thống các nội dung thẩm đònh
phục vụ cho cán bộ thẩm đònh tại ngân hàng có chuẩn mực để đánh giá các hồ sơ
vay. Đồng thời, căn cứ vào thực trạng công tác thẩm đònh cho vay DNVVN tại
các NHTM trên đòa bàn TP.HCM hiện nay, luận văn đưa ra một số giải pháp góp
phần hoàn thiện công tác thẩm đònh cho vay tại các NHTM.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình thực tế của công tác thẩm
TỔNG QUÁT VỀ THẨM ĐỊNH CHO VAY
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Tổng quát về DNVVN :
1.1 .1 Thế nào là DNVVN :
Theo Wikipedia
1
, DNVVN là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn,
lao động hay doanh thu. Theo tiêu chí của Nhóm ngân hàng thế giới, DNVVN có
thể chia thành 3 loại căn cứ vào số lượng lao động, đó là DN siêu nhỏ nếu có số
lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ nếu từ 10 đến dưới 50 người và DN vừa
nếu từ 50 đến 300 người.
Việc xây dựng các tiêu chí để phân đònh DNVVN có ý nghóa quan trọng vì
qua đó, làm cơ sở theo dõi và phân tích được các số liệu thống kê về tình hình
hoạt động của DNVVN, làm nền tảng cho việc hoạch đònh chiến lược và tìm ra
các giải pháp nhằm hỗ trợ cho loại hình doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả.
Tuy nhiên trên thực tế, không có một khuôn mẫu thống nhất về tiêu chí
cũng như tiêu chuẩn giữa các quốc gia, do có sự khác nhau về trình độ và điều
kiện kinh tế xã hội ở từng nước. Ngay cả trong mỗi nước, việc phân loại các
DNVVN giữa các thời kỳ, các ngành nghề, các đòa phương cũng có sự khác nhau.
Thậm chí, nhiều dự án tài trợ cho các DNVVN cũng có các hình thức phân loại
khác nhau, khác cả với qui đònh của Chính phủ.
Hiện nay, có hai nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại các DNVVN:
1
Wikipedia là bách khoa toàn thư nội dung mở trên internet
- 4 -
Tiêu chí đònh tính: tiêu chí này dựa trên các đặc trưng cơ bản của DNVVN như
trình độ chuyên môn hoá, mức độ tự động hóa Ưu điểm của chỉ tiêu này là phản
ánh đúng thực chất DNVVN nhưng lại khó xác đònh chính xác trên thực tế. Do
đó, tiêu chí này thường được sử dụng để tham khảo, bổ sung cho tiêu chí đònh
lượng, ít được sử dụng làm căn cứ để phân loại.
hiện nay.
QUỐC GIA
CÁC TIÊU THỨC ÁP DỤNG
SỐ LAO ĐỘNG TỔNG SỐ
VỐN
TÀI SẢN DOANH
THU
ÚC < 500 trong CN &
DV
CANADA < 500 cho cả CN &
DV
< 20 triệu
CAD
MĨ < 500
MEXICO < 250 < 7 triệu USD
EU < 250
NHẬT < 300 trong ngành
khác hoặc
< 100 trong bán
buôn hoặc
< 50 trong bán lẻ
hoặc
< 100 triệu yên
< 30 triệu yên
< 10 triệu yên
- 6 -
KOREA < 300 trong chế
tạo, khai thác, xây
dựng và
< 20 trong thương
- DN vừa : 101-500
- 7 -
[Nguồn: - Sách tài chính hỗ trợ các DNVVN
- APEC website ]
Qua số liệu bảng trên ta thấy, đa số các nước trên thế giới đều chọn hai tiêu thức
chủ yếu là số lượng lao động và lượng vốn sản xuất kinh doanh như là hai thước
đo chính để phân biệt qui mô DNVVN. Độ lớn trong từng tiêu thức của mỗi quốc
gia cũng không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và đặc điểm riêng có
của từng nước.
1.1.3 DNVVN tại Việt Nam:
1.1.3.1 Tiêu chí xác đònh DNVVN tại Việt Nam :
Theo Điều 3, Nghò đònh số 90/2001/NĐ-CP về việc trợ giúp DNVVN ngày
23/11/2001 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, đã đònh nghóa DNVVN như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người” . Đây chính là cơ
sở pháp lý chính thức hiện nay để ta có thể tiến hành phân loại DNVVN.
1.1.3.2 Đặc điểm các DNVVN tại Việt Nam :
Từ khi Luật DN có hiệu lực thi hành (01/01/2000) cho tới nay thì số DN nói
chung và DNVVN nói riêng tăng rất nhanh, cụ thể như sau :
- 8 -
Bảng 1.2 : Số lượng DN và DNVVN tại Việt Nam qua các năm.
Đơn vò : doanh nghiệp
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tháng
6/2008
DNVVN theo
tiêu chí về vốn
(< 10 tỷ )
36.305 44.670 54.216 61.977 79.420 98.232 114.340 307.388
DNVVN theo
- Hạn chế về vốn:
Vốn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các DNVVN nước ta, rất nhiều
doanh nghiệp hiện nay thiếu vốn. Mặc dù đã có những chuyển biến lớn về vốn
của DNVVN nếu như so số vốn đăng ký kinh doanh bình quân của năm 2006 là 7
tỷ đồng với năm 2000 là 962 triệu đồng, nhưng với áp lực cạnh tranh ngày càng
cao, số vốn đó ( nếu thực tế DN góp đúng như đăng ký ) cũng khó có thể đáp ứng
được nhu cầu phát triển của đơn vò.
Do thiếu vốn, dẫn đến hàng loạt các khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh và sự tồn tại của DN như : không có điều kiện mở rộng sản xuất kinh
doanh, phát triển và duy trì thò phần, khả năng đầu tư vào phương tiện kỹ thuật,
trang bò, cải tiến máy móc thiết bò hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm bò hạn chế, khó thu hút được lực lượng lao động và nhân sự có trình độ,
tay nghề cao.
- 10 -
Mặc dù hiện nay các DNVVN có thể khai thác và huy động vốn từ ba
nguồn chính thức là thò trường chứng khoán, ngân hàng và các chương trình hỗ trợ
phát triển của Chính phủ từ NSNN như Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ hỗ trợ phát
triển, nhưng việc tiếp cận các nguồn tài chính trên đều gặp khó khăn. Quỹ bảo
lãnh tín dụng hiện có 9 quỹ, nhưng chỉ hoạt động có 3 quỹ, vừa yếu lại vừa thiếu.
Huy động từ thò trường chứng khoán thì đòi hỏi nhiều điều kiện mà nhiều DN khó
có thể đáp ứng như hoạt động có lãi nhiều năm liền, có uy tín trên thò trường, báo
cáo tài chính có kiểm toán, phải là công ty cổ phần đại chúng có quy mô lớn. Vay
vốn từ ngân hàng thì yêu cầu về tài sản thế chấp, thủ tục rườm rà, số tiền vay và
thời gian vay thường không đáp ứng được nhu cầu của DN…Đặc biệt trong năm
2008 vừa qua, các DN còn phải hứng chòu mức lãi suất cho vay rất cao và không
phải DN nào cũng được vay do chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ để
phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Chính vì vậy, để có vốn duy trì hoạt động kinh doanh, các DN buộc phải
vay mượn từ kênh tài chính phi chính thức, đặc biệt là từ bạn bè, người thân và
thậm chí chấp nhận vay tín dụng nặng lãi với lãi suất rất cao. Theo điều tra của
- Kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu :
Công nghệ là yếu tố quyết đònh đến năng suất, chất lượng của sản phẩm,
giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh được trên thò trường. Với việc hội nhập
ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, nhìn chung, trong những năm qua các
DNVVN ở nước ta đã có sự đổi mới công nghệ ở mức độ nhất đònh. Tuy nhiên, do
- 12 -
nguồn vốn tài chính bò giới hạn và sự nhìn nhận tầm quan trọng của khoa học
công nghệ còn hạn chế, dẫn đến các doanh nghiệp chưa thể tự mình đổi mới cũng
như áp dụng mạnh mẽ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến.
Theo báo cáo mới đây của Cục phát triển DN ( thuộc Bộ KH &ĐT ) tháng
04/2009 cho thấy, vẫn còn 80% số lượng DNVVN không có chiến lược đầu tư cho
khoa học công nghệ, và hầu hết các DNVVN hiện đang sử dụng công nghệ lạc
hậu 3-4 thập kỷ so với thế giới, năng lực nghiên cứu rất hạn chế, chỉ có 0,1%
doanh thu hằng năm của DN được dành để đổi mới công nghệ thiết bò. Ngoài ra,
báo cáo cũng cho biết việc nhập khẩu công nghệ hằng năm của các DN là dưới
10% tổng kim ngạch nhập khẩu, chỉ bằng ¼ so với các nước phát triển.
Bên cạnh nguồn vốn ít nên ngại đổi mới, nhiều DN không hiểu công nghệ
nào đã có và làm thế nào để tiếp cận, áp dụng công nghệ vào sản xuất do chưa
thực sự xem yếu tố công nghệ là yếu tố cạnh tranh, tồn tại sống còn của DN.
- Thiếu thông tin thò trường :
Một trong những yếu tố làm cho khả năng cạnh tranh của DNVVN bò hạn
chế là tình trạng thiếu thông tin thò trường về sản phẩm, thò trường công nghệ,
máy móc thiết bò. Vì vậy, sản phẩm làm ra có mẫu mã, kiểu dáng không thật hấp
dẫn, chất lượng hạn chế, dẫn đến khó cạnh tranh do không đáp ứng được nhu cầu
của thò trường và DN khó có thể chủ động thay đổi chiến lược kinh doanh khi thò
trường thay đổi.
Việc thiếu thông tin thò trường một phần xuất phát từ bản thân DN và một
phần do chưa nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các cơ quan chức trách của Chính
phủ.
- 13 -
hiện qua một số điểm sau :
- Tạo thêm nhiều việc làm. Theo thống kê của Hội DNVVN VN năm 2008,
các DNVVN đóng góp 40% đến 50% việc làm mới hằng năm cho người lao
động.
- Đóng góp vào tăng trưởng GDP. Theo Báo cáo của NHNN ngày
29/09/2008, mức đóng góp của DNVVN hằng năm khoảng 40%GDP của cả nước,
33% giá trò sản lượng công nghiệp.
- Góp phần tăng thu NSNN. Theo cổng thông tin điện tử Chính phủ tháng
10/2008, riêng 7 tháng đầu năm 2008, các DNVVN nộp ngân sách là 5.721 tỷ
đồng, bình quân nộp ngân sách là 48 triệu đồng/DN. Còn theo Báo cáo của
NHNN ngày 29/09/2008, các DNVVN nộp ngân sách chiếm 17,46%.
Qua các số liệu trên cho thấy DNVVN giúp thu hút công ăn việc làm cho
người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn đònh an sinh xã hội. Ngoài ra,
với việc huy động các nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế đất nước, các
DNVVN còn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc
dân.
1.1.3.4 Các nhu cầu tài chính cần vay vốn của DNVVN :
Với áp lực cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để tồn tại và phát triển, nhu
cầu tài chính của một DNVVN cũng đòi hỏi gia tăng không ngừng. Các nhu cầu
chính về vốn vay của DN bao gồm :
- 15 -
- Bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh. Đây là những nhu cầu cần vay
vốn với thời gian ngắn hạn ( từ 12 tháng trở lại ), thường được sử dụng với mục
đích bổ sung vốn kinh doanh như : thanh toán tiền hàng, nguyên vật liệu, chi trả
lương, thanh toán các chi phí điện nước.
- Đầu tư vốn vào các dự án làm tăng tài sản cố đònh : nhu cầu vay vốn có
thời gian trung dài hạn ( từ một năm trở lên ), thường được sử dụng để đầu tư xây
dựng và mở rộng nhà xưởng , mua hoặc cải tiến máy móc thiết bò.
1.2 Thẩm đònh cho vay DNVVN tại các NHTM :
1.2.1 Khái niệm công tác thẩm đònh cho vay :
1.2.3.1 Đánh giá các nguồn thông tin theo hồ sơ :
Khi khách hàng gửi hồ sơ vay vốn cho ngân hàng, CBTD sẽ tiến hành
đánh giá mức độ đầy đủ, thiếu xót cũng như những yếu tố cơ bản có liên quan
đến hồ sơ như hồ sơ pháp nhân, phương án vay vốn, tài sản bảo đảm để yêu cầu
khách hàng bổ sung.
1.2.3.2 Thu thập thông tin có liên quan đến hồ sơ vay khách hàng :
Dựa trên hồ sơ vay vốn hoàn chỉnh mà khách hàng đã gửi, CBTD tiến
hành thu thập, tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình thẩm đònh
khách hàng. Trong trường hợp hồ sơ vay vốn khách hàng chưa thể cung cấp đầy
đủ các thông tin cần thiết, CBTD có thể sử dụng các kênh thông tin sau để khai
thác :
- 17 -
- Thông tin từ các nhà cung cấp hàng hóa, thiết bò, nguyên vật liệu đầu vào,
dòch vụ, các nhà tiêu thụ sản phẩm của dự án, qua đó có thể đánh giá tình hình thò
trường đầu vào, đầu ra.
- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng như báo, mạng, đài , từ
các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp.
- Thông tin được tìm hiểu qua các báo cáo, nghiên cứu, hội thảo, chuyên đề.
- Thông tin từ các phương án, dự án tương tự.
1.2.3.3 Kiểm tra, xử lý thông tin:
Sau khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, để việc thẩm đònh chính xác,
hiệu quả, đòi hỏi CBTD phải trải qua quá trình sàng lọc thông tin để đảm bảo các
thông tin có được là đáng tin cậy.
Việc kiểm tra thông tin được dựa vào các nguồn sau :
- Hồ sơ vay vốn trước đây ( nếu có ) và hiện tại của khách hàng tại ngân
hàng.
- Trung tâm thông tin tín dụng NHNN ( CIC ).
- Thăm dò, đối chiếu với các bạn hàng, đối tác làm ăn như các nhà cung cấp
nguyên vật liệu, thiết bò, dòch vụ cũng như các khách hàng tiêu thụ sản phẩm đầu
ra của doanh nghiệp.
khứ, hiện nay và dự đoán tiềm năng phát triển trong tương lai. Trường hợp qua
thẩm đònh nhận thấy khách hàng đang hoạt động xấu, thiếu ổn đònh hoặc có xu
- 19 -
hướng gặp khó khăn trong tương lai, cần có quyết đònh đúng đắn để hạn chế rủi
ro. Việc thẩm đònh dựa vào các nội dung :
- Sản phẩm thiết yếu của doanh nghiệp và thò phần của sản phẩm trên thò
trường. Thò phần của sản phẩm còn triển vọng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát
triển của DN.
- Mạng lưới phân phối sản phẩm : mạng lưới càng rộng, khả năng tiêu thụ
sản phẩm càng lớn.
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm : phụ thuộc vào chất lượng và các đối
thủ cạnh tranh chủ yếu trên thò trường. Chất lượng càng tốt, đối thủ cạnh tranh ít,
sẽ tạo nhiều ưu thế về cạnh tranh cho DN.
- Chính sách bán hàng : có linh hoạt và cạnh tranh hay không.
- Ưu thế của DN khi đàm phán với các đối tác lớn : DN có phụ thuộc nhiều
vào các đối tác chiến lược trong việc cung cấp đầu vào và đầu ra của sản phẩm
hay không.
- Mức độ tác động của các chính sách vó mô đến hoạt động của đơn vò : cần
xem xét mức độ tác động là nhiều hay ít, theo chiều hướng có lợi hay bất lợi cho
DN.
Các thông tin phục vụ cho việc thẩm đònh các nội dung trên được lấy từ
các nguồn : nội bộ khách hàng xin vay, từ internet, từ báo chí, các chủ trương
phát triển của nhà nước hay cơ quan chủ quản, từ các báo cáo ngành…
1.2.3.6 Thẩm đònh tình hình tài chính của DN :
Việc thẩm đònh nhằm xác đònh tình trạng năng lực tài chính của DN, thông
qua các nhóm chỉ tiêu chính như sau :
– Chỉ tiêu về thanh toán :
- 20 -
Hệ số thanh toán ngắn hạn :
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu:
Hệ số càng thấp, càng được ngân hàng đánh giá cao do áp lực trả nợ thấp.
Hệ số tự tài trợ :
=
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hệ số này cao thể hiện năng lực tự chủ tài chính của DN cao.
- Chỉ tiêu về sức tăng trưởng :
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (%) :
Tỷ lệ này cần dương, càng cao càng tốt, cho thấy tăng trưởng doanh thu của DN
càng cao.
Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận kinh doanh (%) :
=
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh kỳ hiện tại
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh kỳ trước
-1
Tỷ lệ này cần là số dương, càng cao càng tốt, cho thấy mức độ tăng trưởng lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh của DN càng cao.
=
Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
=
Doanh thu thuần kỳ hiện tại
Doanh thu thuần kỳ trước
-1
- 22 -
- Chỉ tiêu về tính hiệu quả hoạt động :
Hệ số vòng quay tổng tài sản ( Số lần/năm) :
=
Doanh thu thuần
= Chu kỳ hàng tồn kho + Kỳ thu tiền bình quân – Thời gian thanh toán
công nợ phải trả .
Chỉ tiêu này cho biết số ngày DN cần tiền để tài trợ cho các khoản phải thu và
hàng tồn kho, sau khi xem xét đến thời gian chiếm dụng vốn khi mua hàng. Đây
là chỉ tiêu có ý nghóa với ngân hàng trong việc xác đònh thời hạn trả nợ khi thẩm
đònh cho vay bổ sung vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.
- Chỉ tiêu về khả năng sinh lời :
Tỷ suất lợi nhuận gộp:
=
Lợi nhuận gộp từ bán hàng
Doanh thu
Tỷ số này càng cao càng tốt , cho thấy DN đang hoạt động có hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA):
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Hệ số này cho biết một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng, nên hệ
số càng cao cho thấy khả năng khai thác tài sản của DN là hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE):
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
ROE là một phương trình thể hiện mối quan hệ và tác động của các nhân tố hệ số
lãi ròng, vòng quay tài sản và đòn bẩy tài chính, qua đó, cho thấy được cách mà
DN sử dụng để làm tăng suất sinh lời. ( ROE = Hệ số lãi ròng x Số vòng quay tài
sản x Hệ số đòn bẩy tài chính).
- 24 -
Đánh giá ROE thế nào là tốt còn phụ thuộc vào cách mà DN sử dụng để đạt được
nó vì nếu sử dụng đòn bẩy tài chính cao để nâng cao ROE thì mức độ rủi ro sẽ
cao, dưới giác độ ngân hàng, có thể chỉ chấp nhận ROE thấp hơn lại an toàn.