Luận Văn: “Giải pháp để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam potx - Pdf 15



Luận Văn
“Giải pháp để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam”

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, Đảng ta luôn xác định thành
phần kinh tế nhà nước phải nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc
dân, điều tiết các thành phần kinh tế khác theo định hướng XHCN. Cùng
với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, khu vực kinh tế nhà nước đã
được sắp xếp lại và có nhiều chuyển biến tích cực, giảm được gần một
nửa số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp địa phương nhỏ bé

chủ yếu sau:
1. Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp
nhà nước ở nước ta từ khi đổi mới đến nay.
2. Phân tích những nguyên nhân dẫn tới thực trạng cổ phần hóa ở
nước ta diễn ra một cách chậm chạp và khó khăn.
3. Kiến nghị một số giải pháp để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa
các doanh nghiệp nhà nước. MỤC LỤC
Trang

PHẦN MỞ ĐẦU
1

NỘI DUNG
3

I/ Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) - những
vấn đề lý luận chung
3

I.1. Cổ phần hóa là gì 3

I.2. Điều kiện tiến hành cổ phần hóa DNNN 4

I.3. Khu vực kinh tế nhà nước trong kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay
6


III/ Các giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các
DNNN ở nước ta hiện nay
21

III.1. Các giải pháp ở tầm vi mô 28

III.2. Các giải pháp ở tầm vĩ mô 33

III.3. Những kiến nghị của bản thân nhằm đẩy nhanh tiến trình
cổ phần hóa ở DNNN ở nước ta.
35

KẾT LUẬN
48


kinh tế thị trường.
Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với quá trình
phát triển của nền sản xuất hàng hóa- nền kinh tế thị trường. Quá trình
hình thành và phát triển công ty cổ phần trải qua các giai đoạn sau:
Hình thái kinh doanh một chủ: Đây là hình thái phổ biến thống trị
trong nền sản xuất hàng hóa nhỏ và trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa
tư bản cạnh tranh tự do. Phương thức kinh doanh này có đặc điểm, người
sở hữu đồng thời là người lao động và người đó chỉ có thể làm giàu bằng
lao động của chính mình, do vậy sự phát triển sản xuất có được rất chậm
chạp, quy mô mở rộng từ từ tùy theo sự phát triển của thị trường địa
phương và khu vực.
Hình thái kinh doanh chung vốn. Khi sản xuất phát triển, quy mô
ngày càng mở rộng đòi hỏi cần có nguồn vốn đầu tư lớn dẫn tới sự ra đời
hình thức kinh doanh chung vốn. Xét về mặt lịch sử, đó là bước tiến hóa
trong chế độ tín dụng từ phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay
mượn sang phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào góp vốn. Vì vậy,
xét về mặt sở hữu, hình thái kinh doanh chung vốn là điểm xuất phát của
hình thái công ty cổ phần với tư cách là sự chung vốn của nhiều người
cùng tham gia kinh doanh, cùng chia xẻ lợi nhuận và rủi ro theo tỉ lệ góp
vốn.
Hình thái công ty cổ phần: Sự ra đời và phát triển ngày càng mạnh
mẽ của chế độ tín dụng, hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính đã dẫn
tới sự ra đời của công ty cổ phần, giúp cho các công ty này mở rộng và
xâm nhập ngày càng mạnh mẽ ra hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa. Sự ra đời và phát triển của các công ty cổ phần
đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu
qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài
chính. Các công ty cổ phần là nguồn cung cấp sản phẩm cho sự phồn
vinh của thị trường này. Đối lại, sự thịnh vượng của thị trường tài chính
tạo điều kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảy nở.

có đủ các yếu tố sau đây sẽ là đối tượng tốt để thực hiện cổ phần hóa.
Thứ nhất là, nhưng doanh nghiệp có quy mô vừa (không quá lớn,
mà cũng không quá nhỏ). Quá lớn khó tìm đủ cổ đông. Quá nhỏ mang
tính chất “không bõ công”. Thế nào là quy mô vừa? Việc phân loại ở
mức tương đối. Vận dụng kinh nghiệm của các nước vào nước ta cho
thấy để tiến hành cổ phần hóa có hiệu quả đối với các doanh nghiệp, cần
bảo đảm:
- Vốn cổ phần không dưới 500 triệ đồng
- Số người mua cổ phiếu (số cổ đông) cho phép bán hết cổ phiếu
của doanh nghiệp. Điều này đặt ra vấn đề khi tiến hành cổ phần hóa phải
dự tính được số lượng cổ phiếu bán ra cần thiết.
Thứ hai, các đơn vị kinh tế quốc doanh không nằm trong danh mục
nhà nước cần đầu tư 100% vốn.
Thứ ba, Những DNNN làm ăn có lãi thực, hoặc trước mắt tuy
không có lãi, gặp khó khăn, song có thị trường ổn định và phát triển, hứa
hẹn một tương lai tốt đẹp. Có mấy lý do để chọn đơn vị làm ăn có lãi và
có tương lai hứa hẹn để cổ phần hóa.
Một là nếu làm ăn thua lỗ thì sẽ không ai mua khi bán. Người mua
cổ phần hy vọng vào tính sinh lợi của đồng vốn trong tương lai của
doanh nghiệp. Tương lai đầy hứa hẹn sẽ có sức hấp dẫn đối với những
người muốn trở thành cổ đông của doanh nghiệp.
Hai là, để có điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh hơn
nữa. hạn chế tối đa rủi ro đối với đồng vốn của những người lao động
nghèo góp lại.
Ba là, cho phép nhà nước thu hồi được vốn để đầu tư vào những
nhu cầu thiết yếu khác. Bởi vì doanh nghiệp có lãi mới có người bỏ tiền
ra mua. Nhờ đó nhà nước mới rút được vốn. Tức là thực hiện được cổ
phần hóa.
Cần phải thấy rằng, bước đầu thực hiện cổ phần hóa DNNN nên
xuất phát từ những doanh nghiệp làm ăn có lãi. Khi công việc này trở

kiểu cũ và giành được độc lập về chính trị, thì sự can thệp trực tiếp của
nhà nước thông qua quốc hữu hóa các cơ sở kinh tế của tư bản nước
ngoài và xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc doanh trở nên rất phổ
biến. Khu vực kinh tế nulà công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết vĩ
mô nền kinh tế chống lại sự phát triển mạnh mẽ của CNTB với chế độ tư
hữu được coi là nguyên nhân của sự nghèo khổ, bất bình đẳng, sự bóc lột
và áp bức thực dân.
Như vậy, sự tồn tại của kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế
giới và vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân chứng tỏ sự
cần thiết khách quan của khu vực kinh tế này trong bối cảnh kinh tế hiện
đại. Khi các hoạt động quản lý vĩ mô đòi hỏi nhà nước phải đóng vai trò
ngày càng lớn trong nền kinh tế. Có thể nói, khu vực kinh tế nhà nước
giữ vai trò như một công cụ kinh tế của nhà nước, vừa thực hiện chức
năng kinh tế vừa làm một phần chức năng xã hội, góp phần thực hiện sự
tăng trưởng và ổn định nền kinh tế mỗi nước.
Ở nước ta, sau đại hội VI (1986) chúng ta đã chuyển từ cơ chế tập
trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần. Tuy nhiên Đảng ta luôn xác định kinh tế nhà nước là thành phần
kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân đảm bảo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
I.3.2. Thực trạng khu vực kinh tế nhà nước ở nước hiện nay
Cũng giống như các nước XHCN, trước đây chúng ta thực hiệ mô
hình kế hoạch hóa tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển kinh tế nhà
nước bao trùm tàon bộ nền kinh tế quốc dân, làm mục tiêu cho công
cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, khu vực kinh tế nhà
nước đã được phát triển một cách nhanh chóng rộng khắp trong tất cả
các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế bất kể hiệu
quả đích thực mà nó mang lại, trong đó phải kể đến sự ra đời tràn lan của
các doanh nghiệp do cấp địa phương quản lý. Theo số liệu thống kê, đến

nhập quốc dân thường cao gấp hai lần so với kinh tế tư nhân.
Mức tiêu hao vật chất của các DNNN trong sản xuất cho một giá trị
đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nước ta thường cao cấp 1,3 lần so với
mức trung bình trên thế giới.
- Chất lượng sản phẩm của nhiều doanh nghiệp nhà nước rất thấp và
không ổn định. Trung bình khu vực kinh tế nhà nước chỉ có khoảng 15%
đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, 20% số sản phẩm kém chất lượng. Dó đó, hiện
tượng hàng hóa ứ đọng với khối lượng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lưu
động của toàn xã hội.
- Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế nhà nước rất thấp. Ví dụ, hệ số
sinh lời của vốn lưu động tính chung chỉ đạt 7%/năm trong đó ngành
giao thông đạt 2%/năm, ngành công nghiệp đạt khoảng 3%/ năm, ngành
thương nghiệp đạt 22%/năm.
- Hiệu quả khai thác vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước hết
sức thấp. Cụ thể là trong mấy năm gần đây, hàng năm nhà nước giành
vốn 70% vốn đầu tư ngân sách của toàn xã hội cho các doanh nghiệp nhà
nước, tuy nhiên chúng chỉ tạo ra được từ 34%-35% tổng sản phẩm xã
hội. Hơn nữa khu vực này lại sử dụng hầu hết lao động có trình độ đại
học, công nhân kỹ thuật.
- Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm tỉ trọng lớn. Theo số liệu thống
kê thì trong số 12.084 cơ sở quốc doanh thì có tới 4.584 đơn vị sản xuất
kinh doanh thua lỗ, chiếm 34% tổng số các doanh nghiệp nhà nước.
Trong đó, quốc doanh trung ương có 501 cơ sở thua lỗ, bằng 29,6% số
cơ sở trung ương quản lý; Quốc doanh địa phương có 4.083 cơ sở thua
lỗ chiếm 39,95 số đơn vị do địa phương quản lý. Các số liệu trên cho
thấy việc làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước đã gây tổng thất
rất nặng nề cho ngân sách nhà nước và là một trong những nguyên nhân
gây ra việc bội chi ngân sách trong những năm qua. Nguyên nhân cơ bản
dẫn tới sự hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước là do
cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp mấy chục năm qua. Trước đây do

- Liên doanh với nước ngoài
- Cổ phần hóa
Tư nhân hóa, là việc chuyển các doanh nghiệp từ tay nhà nước
sang tay tư nhân thông qua bán. Như đã nói ở trên tư nhan hóa cũng là
một trong những giải pháp khắc phục tình trạng thua lỗ của các DNNN
và làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên qua kinh
nghiệm của một số nước đã tiến hành, thì việc tư nhân hóa đều gặp phải
những trở ngại sau:
Các chính phủ chỉ muốn bán những xí nghiệp hoạt động không có
hiệu quả, thua lỗ kéo dài với các điều kiện và giá cả do chính phủ đặt ra,
nên không hấp dẫn người mua, do đó việc thực hiện kế hoạch tư nhân
hóa gặp nhiều khó khăn và thường không đạt được dự tính mong muốn.
Trong xã hội, thường chỉ có một số ít người mới có khả năng mua
cỏ phần của các xí nghiệp hóa giá, vì vậy trong nền kinh tế vận động
theo cơ chế thị trường. Khi mà môi trường pháp lý cũng như môi trường
kinh doanh còn chưa hoàn thiện như ở nước ta thì thường dẫn tới tình
trạng độc quyền hóa của một số ít người.
Ở các nước đang phát triển, do sự hạn chế về nguồn vốn trong nước
nên các xí nghiệp hóa thường rơi vào các công ty tư bản độc quyền của
các nước tư bản phát triển, tạo điều kiện cho tư bản nước ngoài thâm
nhập sâu vào nền kinh tế làm cho nguồn tài nguyên, lao động bị vơ vét
và bóc lột.
Ngoài ra tư nhân hóa còn làm suy yếu đi khu vực kinh tế nhà nước.
Do đó, trong hoàn cảnh kinh tế nước ta, thì việc tư nhân hóa là khâu phù
hợp.
Liên doanh với nước ngoài là hình thức liên kết, hợp tác giữa các
doanh nghiệp trong nước với các nhà tư bản nước ngoài. ở nước ta từ khi
thực hiện chính sách mở cửa, hình thái này đã được phát triển nhanh
chóng và đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Tuy nhiếnno đã bộc lộ những măt hạn chế trong quá trình triển

muốn hoàn vốn nhanh, chấm dứt
liên doanh và chuyển vốn đầu tư
vào lĩnh vực khác.
Qua sự so sánh trên đây ta có thể thấy những ưu thế của cổ phần
hóa so với tư nhân hóa như sau:
- Cổ phần hóa có khả năng huy động vốn đầu tư và mở rộng sản
xuất kinh doanh.
- Có sự thống nhất về mục tiêu giữa những người cùng góp vốn.
- Có sự liên tục và không hạn định về thời gian hoạt động.
- Có sự phân tán cao độ rủi ro mạo hiểm.
Như vậy trong ba phương án trên, ta thấy cổ phần hóa là phương án
tối ưu vừa nâng cao hiệu quả sản xuất vừa củng cố vai trò của các doanh
nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, phù hợp với đường lối xây
dựng đất nước mà Đảng ta đã đề ra. Sở dĩ như vậy là vì cổ phần hóa
DNNN ở nước ta hiện nay có vai trò quan trọng như sau:
Nếu xét trên phạm vi doanh nghiệp:
Cổ phần hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và thu hút
vốn cho các DNNN. Các doanh nghiệp nhà nước hiện đang thiếu vốn
nghiêm trọng. Trong khi đó nhà nước đang bội chi ngân sách, không thể
và cũng không nên tiếp tục bao cấp vốn cho một khu vực làm ăn kém
hiệu quả như vậy. Cổ phần hóa sẽ huy động các nguồn vốn quản lý trong
xã hội một cách nhanh chóng để phát triển sản xuất kinh doanh. Khi
doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồn vốn dồi dào trong dân cư sẽ đổ vào
nơi có lợi nhuận cao, làm cho các doanh nghiệp cổ phần hóa ngày càng
có nguồn vốn lớn để trang bị kỹ thuật, mở rộng sản xuất. Đồng thời
nguồn vốn ngày càng được sử dụng tốt lại tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liên tục. Các doanh nghiệp khi đã cổ
phần hóa sẽ liên doanh được với các doanh nghiệp trong và ngoài nước
từ đó sẽ thu hút được nhiều vốn hơn nữa.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNNN. Trước

doanh nghiệp. Trước đây do chưa coi trọng và chưa có cơ chế cụ thể để
người lao động thực hiện quyền làm chủ về kinh tế. Từ đó quyền làm
chủ chỉ dừng lại ở nguyên tắc, khẩu hiệu chứ không đi vào thực chất.
Với việc cổ phần hóa DNNN tất cả các cán bộ công nhân viên trong
doanh nghiệp đều có thể tham gia mua cổ phần của công ty. Họ trở
Đại hội cổ đông

Ban kiểm soát Hội đồng quản trị

Giám đốc điều hành
Phó giám đốc
điều hành
Phó giám đốc
điều hành
Phó giám đốc
điều hành
Phòng
chuyên
môn
Phòng
chuyên
môn
Phòng
chuyên
môn
Phòng
chuyên
môn
thành người chủ thực sự của doanh nghiệp, có trách nhiệm rõ ràng cụ thể
thông qua lá phiếu biểu quyết tương ứng với số cổ phần sở hữu. Quyền

quân 82%/năm, tỉ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu năm 1997 là 44% số
lao động làm việc tại công ty cổ phần tăng 30%/năm, thu nhập của người
lao động tăng bình quân 14,3%/năm. Tuy nhiên nếu đem so sánh với số
lượng doanh nghiệp nhà nước không thuộc diện nhà nước giữ lại 100%
vốn và mục tiêu chuyển 150 DNNN thành công ty cổ phần năm 1998 thì
quá trình này diễn ra quá chậm và không đồng đều giữa các ngành các
địa phương.
Để làm rõ vấn đề, chúng ta hãy xem xét tiến trình cổ phần hóa
DNNN từ tháng 6/1992 tới nay.
Quá trình cổ phần hóa DNNN được bắt đầu từ ngày 8/6/1992 khi
chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là thủ tướng chính phủ) ban hành quyết
định 203/CT về danh sách DNNN được chọn để chỉ đạo thí điểm thành
công ty cổ phần gồm 7 doanh nghiệp:
- Nhà máy xà phòng miền Nam
- Nhà máy diêm thống nhất
- Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc
- Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình
- Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng
- Xí nghiệp sản xuất bao bì Hà Nội
- Xí nghiệp may mặc Legamex thành phố HCM

(*)
Theo số liệu của Thời báo kinh tế 26/9/1998
Kết quả sau 6 tháng triển khai thì chỉ có duy nhất xí nghiệp may
mặc Legamex chuyển thành công ty cổ phần vào tháng 12/1992. Còn lại
các doanh nghiệp khác thì hoặc là muốn rút lui hoặc là muốn chờ đợi,
nhưng chưa có nào có văn bản đề nghị chính thức. Nguyên nhân cơ bản
là do mục tiêu cổ phần hóa của doanh nghiệp của chính phủ chưa phù
hợp. Một số vấn đề cơ bản về cơ chế chính sách chưa phù hợp. Một số
vấn đề về cơ chế chính sách chưa phù hợp với thực tế khách quan, chưa

cả doanh nghiệp nói trên hiệ mới chỉ có 4 doanh nghiệp đã chuyển thành
công ty cổ phần là: Công ty đầu tư sản xuất thương mại, công ty cổ phần
khách sạn Phú Gia, CTCP Thành Công, XN sản xuất đồ mộc.
Như vậy so với mục tiêu năm 1998 thành phố HCM v 20 doanh
nghiệp và theo đánh giá của ông Đinh Hạnh - Phó chủ tịch UBND thành
phố Hà Nội thì tốc độ cổ phần hóa của hai thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh - hai thành phố được coi là địa phương đầu đàn về cổ phần hóa -
quá chậm chạp và chưa đáp ứng yêu cầu.
Qua thực tiễn hơn 6 năm thực hiện cổ phần hóa DNNN, bài viết xin
đưa ra một số đánh giá về những mặt được và chưa được trong thí điểm
cổ phần hóa một số DNNN.
- Thứ nhất, về mục tiêu lý tưởng và mục tiêu đạt được trong thực
tế. Về mục tiêu lý tưởng Đảng ta đưa ra ba mục tiêu cơ bản quá trình cổ
phần hóa. Một là, chuyển một phần sở hữu nhà nước thành sở hữu của
cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hai là, phải huy
động được một khối lượng vốn nhất định ở trong và ngoài nước để đầu
tư cho sản xuất kinh doanh. Ba là, tạo điều kiện để người lao động thực
sự làm chủ doanh nghiệp. Kết quả thực tế là:
Về mục tiêu thứ nhất, hầu hết các doanh nghiệp đều đạt được mục
tiêu này, hiệu quả sản xuất được nâng cao, doanh thu tăng 146%, lợi
nhuận doanh nghiệp tăng 181%, nộp ngân sách nhà nước tăng 157%.
Ngoài ra, nhà nước còn có thể cổ tức của 18% vốn.
Về mục tiêu thứ ba, các doanh nghiệp được cổ phần đã huy động
được một khối lượng vốn trong nước. Tuy nhiên, hiện nay số vốn thu
mua từ các nhà đầu tư nước ngoài thông qua công ty cổ phần là rất ít do
đó cần phải có giải pháp để khuyến khích các cổ đông là người ngoại
quốc trong thời gian tới.
Về mục tiêu thứ ba, thì phần lớn các cổ đông ở các công ty cổ phần
là cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp cũ, họ làm chủ thực
sự công ty của họ, họ hoạt động không chỉ vì đồng lương mà còn vì lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status