Báo cáo: Nghiên cứu chế tạo hỗn hợp sơn khuôn đúc gang thép hợp kim chất lượng cao thay thế nhập ngoại để đúc các chi tiết máy phục vụ sản xuất - Pdf 15

Bộ công THƯƠNG
TổNG CÔNG TY THéP VIệT NAM
Viện Luyện kim Đen

Báo cáo tổng kết
đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển CÔNG
NGHệ cấp bộ
Tên đề tài:

NGHIấN CU CH TO HN HP SN KHUễN C GANG
THẫP HP KIM CHT LNG CAO THAY TH NHP NGOI
C CC CHI TIT MY PHC V XUT KHU

DFGEDFGEDFGE

Cơ quan chủ quản: tổng công ty thép vN
Cơ quan chủ trì: Viện Luyện kim Đen
Chủ nhiệm đề tài: tHs. NGUYN TH HNG

6828
27/4/2008 Tháng 12/2007


8. Lê Xuân Hiền, Ktv -nt-
9. Trịnh Văn Bạt, Kỹ s đúc, Giám đốc TT Trung tâm ĐLK Hà Nội
10. Vũ Hữu Trí, Kỹ s đúc -nt-
11. Kiều Thị Tồn, Kỹ s đúc -nt-
12. Ngô Văn Chơng, Kỹ s đúc -nt-
13. Nguyễn Thị K.Phợng Kỹ s đúc, cán bộ Viện Công nghệ
14. Nguyễn Đức Minh, Kỹ s luyện kim, P. Giám đốc XN, Công ty CK Hà Nội
15. Nguyễn Vây, Kỹ s, Giám đốc Xí nghiệp, Công ty TNHHNN1TV Mai Động
2
Mục lục
Trang

Mở đầu 3

Phần I, Tổng quan về đề tài 4
1.1. Sơ lợc tình hình nghiên cứu đề tài 4
1.2. Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài 6

Phần II, Nội dung và phơng pháp nghiên cứu đề tài 16
2.1. Phơng pháp và thiết bị nghiên cứu đề tài 16
2.2. Nghiên cứu lựa chọn thành phần hỗn hợp sơn khuôn tối u
trên cơ sở ôxýt manhêzi 22
2.3. Nghiên cứu công nghệ nghiền tuyển, pha chế hỗn hợp sơn
khuôn đúc 26
Mở đầu Chất lợng và bề mặt của sản phẩm đúc phụ thuộc nhiều ở vật liệu và chất
lợng làm khuôn nh cát và chất sơn khuôn.
Chất sơn khuôn đợc dùng rộng rãi trong đúc các chi tiết gang, thép hợp kim
lớn, thành dày đòi hỏi chất lợng bề mặt cao. Đối với các sản phẩm đúc phục vụ
xuất khẩu phải có yêu cầu cao về chất lợng bề mặt, độ chính xác về cỡ kích hình
học. Chất sơn khuôn có tác dụng tăng cờng độ bền bề mặt khuôn, không cho rời
vụn tơi cát, làm tăng độ chịu nhiệt, ngăn ngừa sự xâm nhập, thẩm thấu và tác dụng
của kim loại lỏng với cát khuôn, phòng chống và hạn chế hiện tợng cháy dính
bám cát cơ học và hoá học ở vật đúc.
Với những loại khuôn cát nhựa furan tự đông cứng, khuôn cát trắng nớc
thuỷ tinh tự cứng hoặc hoá cứng bằng khí CO
2
vv ngời ta dùng loại hỗn hợp sơn
khuôn khô nhanh với dung môi hoà tan là cồn công nghiệp, tôluen, xylen, xăng,
hoặc dầu hoả để có thể tự khô hoặc đốt cháy làm khô nhanh phù hợp với yêu cầu
của sản xuất khuôn đúc bảo đảm năng suất và chất lợng.
Hiện nay chất sơn khuôn đúc đợc chế tạo và cung cấp bởi các hãng chuyên
sản xuất và kinh doanh nh FOSECO (Anh Quốc) Tế Nam (Trung Quốc), Đài
Loan vv, chất lợng tốt và ổn định, nhng giá thành cao và phải nhập lớn.
Để chế tạo đợc chất sơn khuôn từ nguyên liệu trong nớc đạt chất lợng,
thay thế nhập ngoại, giá thành thấp, phục vụ kịp thời cho sản xuất các mặt hàng
gang, thép hợp kim, đề tài tập trung nghiên cứu công nghệ chế tạo hỗn hợp sơn
khuôn đạt chất lợng tơng đơng ngoại nhập. Vấn đề trọng tâm cần giải quyết là
công nghệ nghiền tuyển bột manhêzi đạt độ mịn khoảng 15-30 àm và công nghệ
pha chế tạo dung dịch hỗn hợp sơn khuôn.

2
O
3
( 2180
O
C), MgO
( 1900
o
C), Al
2
O
3
( 2030
O
C ) và Cr
2
O
3
( 2265
O
C).
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều loại chất sơn khuôn hệ graphít, zecôni,
crômít, ôlivin, manhêzi dùng cho đúc các loại gang và thép hợp kim khác nhau.v.v.
xem bảng 1:
Bảng 1, Các loại chất sơn khuôn đúc gang, thép hợp kim đang hiện hành

TT. Hỗn hợp sơn khuôn Chất pha Sử dụng cho đúc

1. Zecôni Cồn Thép
2. Zecôni Nớc Thép

5
Bảng 2, Các loại chất sơn khuôn đúc của hãng Tế Nam - Trung Quốc
Ký hiệu FA 407 FQ 607L FAH 500 FAH 580 FAT 290
Thành
phần
chính
Graphít Graphít +
Zecôni
Zecôni Bôxít Manhêzi
Tỷ trọng
g/cm
3
1,15 - 1,35 1,10 - 1,30 1,60 - 2,00 1,40- 1,80 1,40-1,80

Dùng cho
khuôn đúc
Gang và kim
loại màu
Gang cỡ
lớn
Thép Thép và
gang
Thép Mn
ở Nhật, Sec và các nớc Đông Âu khác, chất sơn khuôn đúc sản xuất ra phải
đáp ứng các yêu cầu chất lợng khắt khe cho từng loại gang hoặc thép hợp kim.
Nhiều loại sơn khuôn đúc đã đợc nhập vào Việt Nam, nhng do vật liệu làm
khuôn và điều kiện công nghệ đúc của Việt Nam có khác, kể cả điều kiện kinh tế,

mịn hạt tới 15 àm cho nhiều xí nghiệp sử dụng nh Công ty Mai Động, Cơ khí

6
19-5 Hải Phòng v.v.

Hiện nay để sản xuất các chi tiết máy bằng gang, thép hợp kim chất lợng
cao phục vụ xuất khẩu phần lớn phải dùng lò điện; tờng lò manhêzi sau một chu
kỳ chạy tờng lò đợc tháo dỡ thải bỏ, thải. Một số xí nghiệp lớn ở khu Gang thép
Thái Nguyên đã thu hồi, nghiền, xay làm bột đầm lò hoặc pha chế tạo vữa trát

Trong thời gian trớc và sau Hội nghị đúc Châu á lần thứ 9 (AFC-9) đợc
tổ chức tại Hà Nội năm 2005 tập đoàn FOSECO Thái Lan, úc, ấn Độ đã đa vào
Việt Nam một lợng lớn các loại bột sơn khuôn, có loại theo hệ manhêzi.
Các công ty nh Cơ khí Hà Nội, Bơm Hải Dơng phải nhập các hỗn hợp
sơn khuôn từ nớc ngoài về với giá thành rất đắt; có loại tới 1,6 USD/kg.
Viện Công nghệ xạ hiếm đã có nhiều năm nghiên cứu và đã chế tạo đợc
chất sơn khuôn zecôni. Đây là hỗn hợp sơn khuôn đúc có thành phần chủ yếu là
silicát zecôni.
Việc nghiên cứu chế tạo, sử dụng bột manhêzi hoặc crômmanhêzi đã qua
thành lò, đợc nghiền tuyển, tách lọc tạo bột mịn tới 15 àm làm hỗn hợp sơn
khuôn thì sẽ đạt chất lợng cao và thay thế đợc hỗn hợp chất sơn khuôn phải
nhập ngoại với thị trờng tiêu thụ rất nhiều.1.2. Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tàI

1.2.1. Hiện tợng cháy dính cát ở vật đúc
Cháy bám dính cát ở vật đúc là một hiện tợng thờng xảy ra trong quá trình
sản xuất. Các chi tiết lớn, thành dày, đúc rót ở nhiệt độ cao, cháy dính bám cát xuất
hiện trên bề mặt vật đúc, là sự dính bám vững chắc giữa vật liệu làm khuôn với bề


/ Fe / + 1/2 O
2(g)
= ( FeO) (1)
( FeO ) + ( SiO
2
)
cát
= ( FeO.SiO
2
) (2)
/ Mn / + 1/2O
2(g)
= ( MnO ) (3)
( MnO ) + ( SiO
2
)
cát
= ( MnO.SiO
2
) (4)
( MgO ) + ( SiO
2
)
cát
= ( MgO.SiO
2
) (5)

Lợng ôxýt kim loại trong lớp cháy dính cát nhiều thì lớp này có cấu tạo vô

C. Hỗn hợp sơn khuôn manhêzi sẽ thực hiện chức năng là màng ngăn cách

8
chống chảy, dính bám cát vào chi tiết đúc (xem minh hoạ trên hình 1)

Khuôn Chất sơn khuôn s ilicát Phản ứng cháy cát Giọt thép lỏng Giọt xỉ lỏng

Chất sơn khuôn bền nhiệt (manhêzi) Không phản ứng cháy cát Giọt thép lỏng Giọt thép lỏng

Hình 1, Sơ đồ minh hoạ chất sơn khuôn bền nhiệt, chống dính bám
cát vào vật đúc có so sánh với chất sơn khuôn silicát


Cristobenit
ở 1713
o
C lỏng
163
o
C 230
o
C
Tridimit Cristobenit

117
o
C

Tridimit

117
o
C
Hình 2, Sơ đồ chuyển biến thù hình của cát silic

Vô định hình
tăng 15,4%.
Việc chuyển biến thù hình đến cristobenít kèm theo sự thay đổi thể tích khi
nung nóng sẽ dẫn đến nứt dạn khuôn cát làm cho thép thấm vào khuôn. Để khống
chế cần phải có chất sơn phủ chịu nhiệt.
Nh vậy để ngăn ngừa phản ứng cháy dính bám cát hoá học trên bề mặt vật
đúc, phải sơn phủ lên mặt khuôn một lớp sơn có độ chịu nhiệt cao, có tính trơ hoá
học nh manhêzi (MgO), bôxít (Al
2
O
3
), crômit, zecôni (ZrSiO
4
).

1.2.2. Chức năng của lớp sơn phủ bền cơ, bền nhiệt
Lớp sơn phủ trên mặt khuôn cát tạo ra lớp màng ngăn cách giữa kim loại
lỏng và khuôn. Lớp màng ngăn cách này không cho phép kim loại lỏng làm chảy
cát; có nghĩa là lớp sơn phủ phải có nhiệt độ nóng chảy cao hơn nhiệt độ của kim
loại lỏng.
Lớp sơn phủ không tạo bọt khí cơ học để vỡ, nổ làm thủng màng và thâm
nhập khí vào kim loại lỏng. Điều này chỉ đáp ứng khi lớp màng đợc tạo ra từ
những hỗn hợp cực mịn (<20 àm) mới phun phủ đợc, chứ không phảI sơn quét
bằng chổi nh phơng pháp cổ điển. Cũng nhờ cỡ hạt hỗn hợp bột cực mịn mới
tạo ra đợc cấu trúc lớp sơn phủ xít chặt, bền chắc.
Để làm tốt lên tính chịu nhiệt của của hỗn hợp sơn phủ cần phải:
-Tăng độ xít chặt của lớp màng, không bị dạn nứt cơ học đặc biệt là những
chỗ sung yếu.
- Tăng độ bền chống xói mòn nóng, nâng cao độ chống ăn mòn và bào mòn
khi nung lên nhiệt độ cao.


Nh vậy chất tạo gel kết dính tốt nhất là axít phốtsphoric. Để tốt hơn nữa
cần có chất dính kết chịu nhiệt đó là bentônít cao alumi và có độ nhớt cao.
Trong nhiều trờng hợp hỗn hợp cát làm khuôn có chứa các chất hữu cơ
làm dễ dàng tạo ra môi trờng khí theo các phản ứng sau:
C + CO
2
= 2CO, (6)
C + 2H
2
= CH
4
, (7)
Môi trờng chứa CO
2
, CO, CH
4
là môi trờng ôxy hoá khử, nó phụ thuộc
vào thế các bon và nh vậy các bon sẽ từ pha khí chuyển vào kim loại lỏng và
các bon hoá bề mặt chi tiết đúc làm xuất hiện dung dịch các bon trong sắt /C/
Fe


hoặc Fe
3
C.
Vì vậy hỗn hợp sơn phủ khuôn đúc cần đáp ứng việc tạo ra màng ngăn cách
bền nhiệt, xít chắc, không nứt, không bong rộp, mỏng mịn có độ nóng chảy cao
và chống đợc xói mòn, bào mòn và ăn mòn ôxy hoá khử.
Hỗn hợp sơn khuôn phải có độ mịn nhất, dễ dàng tạo ra thể huyền phù

Dầu kốc OF-1

Axít phôtsphoric

Độ bền cơ
[Mpa]
200 400 600 800
1000

8 6 4 2 11
Nh vậy là nếu thay đổi môđun đàn hồi nhỏ đi thì tỷ số /E sẽ tăng lên và
sẽ làm thay đổi theo cả hệ số tốc độ biến đổi nhiệt; làm tốt lên độ bền nhiệt của hỗn
hợp.
Việc pha chế hỗn hợp sơn khuôn đúc tức là phân tán các hạt vật liệu chịu
nhiệt trong dung môi kết dính tạo thành một dung dịch huyền phù có độ nhớt và


;

o
khối lợng riêng của hạt và của môi trờng.
Đối với các hệ huyền phù kém bền động học, chúng ta có thể dễ dàng xác
định đợc kích thớc hạt phân tán dựa vào sự theo dõi vận tốc sa lắng. Vận tốc sa
lắng thiết lập theo biểu thức từ (14,15,16).
U=
B
gV )(



(12)
Nếu coi các hạt là hình cầu có bán kính r, phân bố trong môi trờng có độ
nhớt là

thì :
V=
3
4


r
3
. (13)

B = 6


Đối với kích thớc hạt lớn hơn 100àm chúng sẽ bị sa lắng với gia tốc nhất
định và bị kết tủa hoàn toàn theo thời gian.
Trong các hệ đơn phân tán, vận tốc sa lắng nh nhau nên sự lắng trong xảy
ra đồng đều. Có thể xác định vận tốc sa lắng theo bề mặt phân chia lớp huyền phù
đợc ở phía dới và lớp dung môi trong suốt ở phía trên .
U =
t
H
(17)
Trong hệ đơn phân tán, vận tốc sa lắng có thể đợc xác định khi theo dõi sự
sa lắng của một hạt nào đó trong hệ bằng kính hiển vi.
Khi các hệ đa phân tán lắng trong, bề mặt lớp sa lắng bị nhoè bởi vì các hạt
với kích thớc khác nhau trong cùng một thời gian đi đợc những quãng đờng
khác nhau. Cho nên phân tích sa lắng chuyển thành xác định vận tốc tích tụ của kết
tủa.
Chất sơn khuôn yêu cầu có độ hạt 95% lọt qua sàng 0,0063 mm (<100àm)
sẽ đảm bảo dung dịch tồn tại ở trạng thái huyền phù. Sự sa lắng có thể xảy ra
chậm không làm giảm chất lợng sơn khuôn.
Độ đồng nhất dung dịch đợc quan sát bằng mắt và kính phóng đại kiểm
tra độ đồng nhất của dung dịch.
Độ sa lắng là phần trăm chất sơn khuôn bị lắng trong khoảng thời gian xác
định tính theo biểu thức:

100x
H
HH
0
n0

(18)

chiều cao ban đầu của dung dịch sơn

1.2.3. Những đặc tính của dung môi và chất kết dính trong hỗn hợp
sơn khuôn
1.2.3.1. Dung môi
Rợu êtylic (êtanol) C
2
H
5
OH là chất lỏng không mầu, sôi ở nhiệt độ 78,3
o
C.
Trong dung dịch nớc, nồng độ rợu êtylíc đợc biểu diễn bằng phần trăm thể tích
gọi là độ. Rợu êtylíc tinh cất sẽ thu đợc rợu 95,5%. Thờng gọi là cồn 96
o
, có
loại dùng trong công nghiệp và loại sạch tuyệt đối dùng trong y tế.
Rợu nhẹ hơn nớc có tỷ trọng

=0,8 g/cm
3
. Rợu là chất trung tính, không
phân li thành các ion. Rợu cồn dễ bay hơi có mùi thơm nên còn gọi là cồn thơm,
nếu tiếp xúc nhiều dễ bị gây ảnh hởng đến sức khoẻ, khi bảo quản cất giữ phải
đựng trong thùng có nắp đậy kín, để nơi thoáng mát, xa nguồn phát lửa.
Khi châm lửa rợu sẽ bị ôxy hoá - cháy theo phản ứng:
C
2
H
5

còn gọi là đimêtyl benzen là chất lỏng có
mùi hắc nh xăng và dầu hoả, dễ bay hơi, dễ bắt lửa.
Xăng gồm các bua hyđrô no dạng mạch nhánh và các bua hyđrô nhân
benzen có công thức C
8
H
18
(isooctan) và C
6
H
5
CH
3
(mêtyl benzen).
Theo tiêu chuẩn ASTM thì xăng trên thị trờng cung cấp cho động cơ là
MOGAS 90; 92; 95. Số ôctan tơng ứng là 90, 92 và 95. Trong thành phần của
xăng có các nguyên tố chủ yếu là C và H khi bị cháy sẽ toả nhiệt và tuân theo các
phơng trình phản ứng :
C + O
2
= CO
2
2H
2
+ O
2
= 2H
2
O (21)
Xăng, dầu hoả đều là sản phẩm đợc chng cất từ dầu mỏ có tỷ trọng

Nhiệt độ biến mềm
o
C
52
o
C

Tốc độ hoà tan của nhựa thông phụ thuộc vào độ hạt và loại dung môi pha
khác nhau, xem bảng
4.
Bảng 4, Tốc độ hoà tan của nhựa thông

Dung môi Rợu
cồn
Xăng
92
Dầu hoả Xylen Ghi chú
Tốc độ hoà
tan
Nhanh
1
Trung
bình
1,5
Chậm
1,8
Chậm
2,5
Nhựa thông nghiền
nhỏ lọt qua sàng

vết chổi quét hoặc không tạo thành vệt chảy (giọt) trên bề mặt khuôn sau khi sơn.
Chất sơn khuôn đúc phải tạo đợc dung dịch huyền phù để có thể dễ dàng quét,
phun lên bề mặt khuôn, lõi.
- Chất sơn khuôn phải có hàm lợng khí thấp nhất, ít sinh khí để hạn chế rỗ
khí ở vật đúc.
- Chất sơn khuôn đúc phải khô nhanh, có trờng hợp tự đống cứng nhanh, dễ
đốt, cháy nhanh tạo cho lớp sơn phủ có độ bền chắc.
- Chất sơn khuôn không chứa các chất độc hại tới sức khoẻ con ngời và gây
ô nhiễm môi trờng.
- Chất sơn khuôn đúc phải có tính lu biến tốt để đáp ứng các yêu cầu đồng
đều, kín khít và độ dầy, mỏng của lớp sơn phủ tối u.
- Chất sơn khuôn đúc phải có tính kinh tế khi sử dụng, không dùng các thành
phần vật liệu quí hiếm để giá thành hạ.
Để chất sơn khuôn đạt đợc các yêu cầu trên cần phải giải quyết những vấn
đề chủ yếu sau.
a) Vật liệu chính (MgO) phải có độ chịu nhiệt cao, nghiền mịn với độ hạt lọt qua
sàng 0,0063mm đạt tới 95%.
b) Dung dịch pha chế hỗn hợp sơn khuôn ở trạng thái huyền phù, có độ nhớt

nhất
định và sự sa lắng xuất hiện chậm. Chất sơn dễ bắt lửa hoặc tự khô để có độ bền
cao.

c) Các nguyên liệu dùng pha chế có sẵn trong nớc, thiết bị pha chế đơn giản dễ sử
dụng và giá thành thấp. 17
Hình 5, Thiết bị nghiền, trộn hỗn hợp sơn khuôn Đo kiểm, phân tích độ sa lắng hay thể vẩn theo thời gian đợc cho thấy trên
hình 6). Thể vẩn của hỗn hợp sơn khuôn đạt càng lớn thì càng tốt.
Nghiên cứu thể vẩn của các dung dịch sơn với các dung môi là rợu cồn
(Rc) xăng A92; dầu hỏa (Dh); xylen (Xi). Các kết quả đo kiểm đợc cho thấy ở
bảng trong phần sau.

Hình 7, Thiết bị đo tỷ trọng bằng tỷ trọng kế ở 20
0
C
Độ nhớt của hỗn hợp sơn khuôn đợc đo bằng nhớt kế Engle; bằng thời gian
(s) chảy hết 200ml dung dịch hỗn hợp sơn khuôn ra khỏi bình chuẩn ở 20
0
C qua lỗ
4 hoặc 5. Thí nghiệm đo độ nhớt của hỗn hợp sơn khuôn với bốn dung môi
khác nhau và so sánh với nớc sạch (xem hình 8)
Độ hạt chất phân tán không đủ mịn và quá trình pha chế kém đồng đều hoặc vón
cục làm tăng độ nhớt, làm chất sơn khuôn kém linh động (tính lu biến kém). Hạt
MgO đã nghiền tuyển đạt cỡ hạt 15 - 30
àm là điều kiện thích hợp để pha chế chất


Hình 8, Thiết bị đo độ nhớt Engle của chất lỏng theo thời gian

Độ hạt đợc đo kiểm qua bộ sàng tiêu chuẩn.
Phân tích thành phần hoá bằng phơng pháp hoá học TCN 01/PTH/94-
TCN-II-HTNT/94 ở máy TQ(UV1201V), TQNL (Jenway-Anh) có độ nhạy
0,01% tại phòng phân tích hoá học của Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất
và phân tích so sánh ở Phòng không kim loại của Trung tâm.
Độ bền nén của hỗn hợp sơn khuôn đợc đo kiểm trên máy của phòng thí
nghiệm cơ lý đất đá LAS-XD326, Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất.

Phân tích độ bền chắc, xít chặtộ và cấu trúc của lớp hỗn hợp sơn khuôn
đợc tiến hành theo phơng pháp vi điện tử quét mặt gãy (fractograph -
SEM/EDS ) trên máy JSM-6490, JEOL của Trung tâm đánh giá h hỏng vật liệu,
Viện Khoa học Vật liệu (xem hình 9).

20


Thử nghiệm hỗn hợp sơn khuôn bằng phơng pháp quét, phun lên bề mặt
khuôn, lõi và đánh giá chất lợng bề mặt sản phẩm đúc sau đó chọn ra chất sơn
khuôn tối u cho đúc gang cầu và thép hợp kim cao (xem hình 11).
Hình 11, Khuôn cát mẫu đúc đợc sơn bằng phơng pháp quét

Độ chịu nhiệt của hỗn hợp sơn khuôn phụ thuộc chủ yếu vào các hạt phân
tán trong hỗn hợp sơn khuôn; độ chịu nhiệt của vật liệu phải cao hơn nhiệt độ kim
loại lỏng rót vào khuôn (gang 1250 -1350
o
C; thép 1450-1520
o
C ). Hỗn hợp sơn

nhiệt độ bắt đầu biến dạng của mẫu hỗn hợp sơn khuôn trên khuôn cát sau nung
trong lò ở khoảng 1550
O
C hoặc dùng đèn xì mỏ đốt đốt trên bề mặt hỗn hợp sơn
khuôn ở nhiệt độ khoảng 1600
O
C. Độ chịu nhiệt của hỗn hợp sơn khuôn đợc tiến
hành xác định bằng hình thái (chảy, biến mềm, phồng, rộp, co thắt, nứt, bong
v.v.) và đo độ co từ rìa mép vào tính bằng mm(xem hình 12).
22
Hình 12, Kiểm tra độ chịu nhiệt bằng phơng pháp đo độ biến dạng, co màng

2.2. Nghiên cứu lựa chọn thành phần hỗn hợp sơn khuôn
tối u trên cơ sở ôxýt manhêzi

2.2.1. Đặc tính của hỗn hợp sơn khuôn
Đối với những khuôn cát nhựa tự đông cứng, khuôn cát nớc thuỷ tinh
đông cứng bằng CO

hợp sơn và độ bền của hỗn hợp sơn khuôn.
8. Các yêu cầu khác của hỗn hợp sơn khuôn phải đáp ứng là bảo đảm vệ sinh
cho ngời lao động; không độc hại. Nguyên liệu làm hỗn hợp sơn khuôn phải dễ
mua, giá rẻ, hỗn hợp sơn khuôn còn phải phù hợp với yêu cầu an toàn phòng cháy.
Khi bảo quản, vận chuyển, sử dụng không bị lên men, biến chất.

2.2.2. Nghiên cứu lựa chọn bột chế hỗn hợp sơn khuôn
Để chế tạo hỗn hợp sơn khuôn đúc, đề tài đã tiến hành nghiên cứu nhiều loại
bột manhêzi hiện có ở Việt Nam; đặc biệt là loại sạn manhêzi đợc nghiền tới cỡ hạt
2-3mm từ các viên gạch xây lò điện luyện thép (xem bảng 3)

Bảng 3, Thành phần nguyên liệu chính để chế tạo bột

T.t. Loại liệu Thành phần chính (%) Cỡ Khối
hạt lợng
riêng

MgO Cr
2
O
3
Fe
2
O
3
Al
2
O
3
CaO SiO

nghiên cứu lựa chọn đặc trng đợc cho thấy ở bảng 4.

Bảng 4, Các tính chất kĩ thuật cơ bản của hỗn hợp sơn khuôn sơn sử dụng
dung môi khác nhau

TT Chỉ tiêu
Tỷ
trọng
g/cm
3

Độ nhớt
(
525
0
)S
Thể vẩn
(%) sau
1h
Độ sa lắng
(sau 1h)
Ghi chú
1 Nớc sạch 1 6 - -
2
Cồn + MgO
(SK.3)
1,28 10 92 8

3 Xăng + MgO 1,22 9 96 4
4

5 CaO
2 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status