Báo cáo khoa học
Ảnh hưởng của khẩu phần protein thấp được bổ sung
d,l-metionin và l-lyzin.hcl đến sức sản xuất của đàn
gà đẻ isa brown thương phẩm giai đoạn từ 23 đến 40
tuần tuổi
Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2007: Tập V, Số 3: 39-44 Đại học Nông nghiệp I
ảnh hởng của khẩu phần protein thấp đợc bổ sung d,l-metionin
và l-lyzin.hcl đến sức sản xuất của đàn gà đẻ isa brown thơng phẩm
giai đoạn từ 23 đến 40 tuần tuổi
Effects of low-protein diets supplemented with D, L-methionine and L-lysine
on performance of commercial ISA Brown laying hens during the period
from 23
rd
to 40
th
week of age
Đặng Thái Hải
1
SUMMARY
An experiment was undertaken to determine effects of low-protein diets with
amin đầu bảng là D,L-metionin và L-lyzin để
cân bằng sự thiếu hụt hai axit amin này.
Theo AWT (1998), có nhiều u điểm khi
bổ sung axít amin tổng hợp, song đáng quan
tâm nhất là những thuận lợi sau đây: 1) Có thể
thoả mãn nhu cầu các axít amin không thay
thế một cách hiệu quả nhất và 2) có thể giảm
mức protein khẩu phần, làm hạn chế các hợp
chất chứa nitơ trong chất thải gia cầm.
Tại Cộng hoà Slovakia, Kociova và cộng
sự (1992) đã bổ sung Met và Lys vào khẩu
phần protein thấp (15,1% CP) cho gà đẻ trứng
thơng phẩm Hisex Brown. Các tác giả đã
thông báo rằng loại khẩu phần này đã hạ đợc
giá thành thức ăn hỗn hợp, không ảnh hởng
đến tỷ lệ đẻ, năng suất trứng cũng nh hiệu
quả chuyển hoá thức ăn. ở Việt Nam, tại Viện
khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Lã
Văn Kính và cộng sự (1997) thông báo rằng
các đàn gà Hy-line đẻ trứng thơng phẩm
nhận khẩu phần 18% CP và 16% CP đợc bổ
sung metionin có tỷ lệ đẻ và năng suất trứng
tơng đơng nhau.
1
Khoa Chăn nuôi - Thuỷ sản, Đại học Nông nghiệp - Hà Nội.
Đặng Thái Hải
Vì vậy nghiên cứu này đợc tiến hành
nhằm tìm hiểu ảnh hởng của khẩu phần
protein thấp đợc bổ sung một số axit amin
không thay thế nh Met và Lys đến sức sản
D,L- Metionin 0,11 0,14 0,16
Lyzin.HCl - - 0,10
Muối ăn 0,28 0,35 0,37
DCP 1,93 2,22 1,73
Bột đá nghiền 7,65 7,64 7,94
Premix 0,25 0,25 0,25
Giá thành TĂHH (đ/kg)
3 484,5 3 393,8 3 334,3
Gà thí nghiệm đợc nuôi trên nền có lớp
độn chuồng bằng trấu. Thức ăn và nớc uống
đợc cung cấp tự do. Mật độ nuôi, nhiệt độ, thời
gian chiếu sáng theo quy trình nuôi dỡng gà đẻ.
Cấu trúc và giá trị dinh dỡng của các khẩu phần
thí nghiệm đợc trình bày ở bảng 1 và 2.
Bảng 2. Thành phần dinh dỡng của khẩu phần
thí nghiệm (g/kg)
Thành phần dinh
dỡng
Lô 1 Lô 2 Lô 3
ME (MJ/kg) 11,5 11,5 11,5
Protein thô 170 160 150
Xơ thô 32,13 32,24 34,12
Arg 10,75 10,05 9,27
Lys 8,76 8,0 8,0
Met 3,95 4,05 4,15
Thr 6,5 6,07 5,6
Trp 1,87 1,74 1,59
Met + Cys 6,8 6,8 6,8
P tiêu hoá 4,55 5,0 5,0
Ca 35 35 35
Lô 1
17% CP
Lô 2
16% CP
Lô 3
15% CP
Tỷ lệ nuôi sống (%)
94,00 1,15 96,00 1,99 94,00 1,15
Tỷ lệ đẻ (%)
89,87 0,24 90,60 0,29 90,16 0,32
Năng suất trứng (quả/mái) 113,23 114,16 113,60
Khối lợng trứng (g/quả)
59,90 0,26 57,70 0,22 59,50 0,15
TĂ thu nhận (g/con/ngày)
122,50 0,19 121,90 0,02 121,80 0,28
TTTĂ/10 trứng (g)
1363,80 3,94 1346,10 1,61 1352,10 8,33
Tiêu tốn protein/10 trứng (g)
231,8
a
0,87 215,40
b
0,33 202,50
c
1,62
Chi phí TĂ/10 trứng (đ)
4752,2
a
13,3
(100%)
(82,7 và 83,1%).
Năng suất trứng
Trong giai đoạn 23- 40 tuần tuổi, năng
suất trứng cộng dồn ở lô 1, lô 2 và lô 3 lần lợt
là 113,23; 114,16 và 113,60 quả/gà mái. Nh
vậy, gà ở 2 lô nhận khẩu phần thấp đều đạt
năng suất trứng cao hơn lô đối chứng. Tuy
nhiên, sự sai khác này không có ý nghĩa
(P>0,05).
Kết quả này cũng phù hợp với công bố
của của Lã Văn Kính và cộng sự (1997) trên
gà đẻ trứng thơng phẩm Hyline giai đoạn từ
24-40 tuần tuổi. Các tác giả cho biết năng suất
trứng của gà nhận khẩu phần 16% CP, 17%
CP đợc bổ sung đầy đủ các axít amin không
thay thế không sai khác với nhóm nhận khẩu
phần 18% CP.
Khối lợng trứng
Khi so sánh khối lợng trứng giữa các lô
thí nghiệm đã cho thấy ở các tuần tuổi khối
lợng trứng của 3 lô thí nghiệm tơng đối
đồng đều nhau. Khối lợng trứng trung bình
ở lô 1, lô 2, lô 3 lần lợt là: 59,9; 59,7 và
59,5 g/quả. Không có sự sai khác có ý nghĩa
giữa 3 lô (P>0,05). Điều này có nghĩa là khẩu
phần protein thấp đợc bổ sung Met và Lys
đã không ảnh hởng tới khối lợng trứng.
Kết quả này cũng phù hợp với công bố của
Kocí (1991). Tác giả cho biết: gà nhận khẩu
phần 14,6% CP, 13,8% CP đợc bổ sung đầy
ăn thu nhận tăng từ tuần 23-40 là 118,2-
123,9g/con/ngày. Tơng tự ở lô 2 và lô 3 lần
lợt là 117,9-123,8 và 117,8-124,1g/con/ngày.
Bảng 3 cho thấy lợng thức ăn thu nhận trung
bình trong cả giai đoạn thí nghiệm ở lô 1, lô 2
và lô 3 lần lợt là 122,5; 121,9 và
121,8g/con/ngày. Sự sai khác giữa các lô thí
nghiệm không rõ rệt (P>0,05).
Hiệu quả chuyển hóa thức ăn
ở những tuần đầu theo dõi có tỷ lệ đẻ
thấp nên tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng
cao. Các tuần tiếp theo tiêu tốn thức ăn cho 10
quả trứng giảm và đạt thấp nhất khi tỷ lệ đẻ
cao nhất. Sau khi đạt tỷ lệ đẻ đỉnh, tiêu tốn
thức ăn cho 10 quả trứng có xu hớng tăng
dần. Điều này hoàn toàn phù hợp vì tiêu tốn
thức ăn/10 quả trứng tỷ lệ nghịch với tỷ lệ đẻ
và năng suất trứng.
Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng trung
bình là 1366,8; 1346,1 và 1352,1g tơng ứng
với lô 1, lô 2 và lô 3 (Bảng 3). Không có sự sai
khác giữa các lô về tiêu tốn thức ăn cho 10
quả trứng (P>0,05). Điều đó có nghĩa các
khẩu phần protein thấp đợc bổ sung Met
và Lys đã không ảnh hởng rõ rệt đến hiệu
quả chuyển hoá thức ăn của các đàn gà.
Trong thực tiễn sản xuất, những khẩu phần
cho gà đợc phối hợp chủ yếu bằng ngô và đỗ
t
ơng thờng mất cân đối axit amin do thiếu
giảm tiêu tốn protein/10 quả trứng. Điều này
ảnh hởng tích cực đến giá thành sản phẩm vì
ảnh hởng của khẩu phần protein thấp đợc bổ sung D,L-metionin và L-Lyzin.HCl
tiêu tốn protein/10 quả trứng tỷ lệ thuận với
giá thành sản phẩm.
3.4. Giá thành thức ăn hỗn hợp và chi phí
thức ăn cho 10 trứng
Việc giảm tỷ lệ protein khẩu phần và bổ
sung Met và Lys đã làm giảm giá thành thức
ăn hỗn hợp (Bảng 1). Giá các loại thức ăn hỗn
hợp là 3484,5; 3393,8 và 3334,3 đồng/kg
tơng ứng với khẩu phần 17; 16 và 15% CP.
Nh vậy, giá thành thức ăn hỗn hợp hạ đợc
2,6%; 4,3% tơng ứng với khẩu phần chứa 16;
15% CP so với lô đối chứng. Nguyên nhân là
do khi giảm tỷ lệ protein khẩu phần và bổ
sung Met và Lys đã làm giảm đợc tỷ lệ các
loại thức ăn giàu protein nh bột cá, đậu tơng
đắt tiền. Mặt khác, tỷ lệ các axit amin bổ sung
vào khẩu phần lại rất ít. Chính vì vậy, việc
giảm hàm lợng protein trong khẩu phần luôn
tỷ thuận với việc giảm giá thành thức ăn.
Trong chăn nuôi công nghiệp, những con số
này có ý nghĩa không nhỏ.
Chi phí thức ăn/10 quả trứng trung bình là
4,752; 4,568 và 4,508 nghìn đồng tơng ứng
với khẩu phần 17; 16 và 15% CP (Bảng 3).
Nh vậy, chi phí thức ăn/10 quả trứng trung
bình của lô gà nhận khẩu phần 16 và 15% CP
tơng ứng giảm đợc 3,9 và 5,1% so với lô đối
3.5. Một số chỉ tiêu vầ chất lợng trứng
Chất lợng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu
tố nh: giống, dòng, dinh dỡng thức ăn,
chăm sóc, bệnh tật ở tuần thứ 30, các khẩu
phần protein thấp đợc bổ sung Met và
Lys đã không ảnh hởng đến các chỉ tiêu
chất lợng trứng gà Isa Brown (P>0,05)
(Bảng 4).
Kết quả này phù hợp với công bố của
Kociova và cộng sự (1992). Các tác giả trên
cho biết gà nhận khẩu phần 16,7% CP (đối
chứng) và 15,1% CP đợc bổ sung 0,03% Met
cho chất lợng trứng tơng đơng nhau: Tỷ lệ
vỏ đều là 10,4%; đơn vị Haugh đạt 81,2 và
82,3 tơng ứng với khẩu phần 16,7% CP và
15,1% CP đợc bổ sung 0,03% Met.
4. KếT LUậN
Các khẩu phần 16%; 15% CP đợc bổ
sung Met và Lys không ảnh hởng tới tỷ lệ
nuôi sống; tỷ lệ đẻ, năng suất và khối lợng
trứng; hiệu quả chuyển hoá thức ăn; các chỉ
tiêu về chất lợng trứng của gà Isa Brown đẻ
trứng thơng phẩm (P>0,05). Tuy nhiên, tiêu
tốn protein cho 10 quả trứng thấp hơn rõ rệt so
với đối chứng (P<0,05).
Việc giảm protein khẩu phần và bổ sung
Met và Lys đã làm giảm giá thành thức ăn hỗn
hợp 2,6% và 4,3%; giảm 3,9% và 5,1% chi phí
Đặng Thái Hải
znásky, Krmívárství a sluzby 1-2/1992.
Odborovy Mesicnik - Pecky a Ivanka
Pri Dunaji.
Bùi Đức Lũng, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn
Tiến, Bùi Văn Chính (1995). Thức ăn
và dinh dỡng gia súc, Giáo trình cao
học nông nghiệp, NXB Nông nghiệp,
Hà Nội.
Đỗ Văn Quang, Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Thị
Viễn (1997). Nghiên cứu bổ sung D,L -
metiomin vào khẩu phần có tỷ lệ
protein thấp nuôi gà thịt và gà đẻ, Báo
cáo khoa học CNTY 1996 - 1997, Phần
chăn nuôi gia cầm, trang 266-280.
Tiêu chuẩn Việt Nam.TCVN - 4326 - 86
(1986), NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
Tiêu chuẩn Việt Nam. TCVN - 4327 - 86
(1986), NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
Xu h−íng biÕn ®éng d©n sè - lao ®éng n«ng nghiÖp, ®Êt canh t¸c, s¶n l−îng lóa