Báo cáo khoa học: Khả năng phát triển quần thể của nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis Womersley, một loài thiên địch quan trọng của nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch và bọ trĩ Thrips palmy Karny - Pdf 15

Báo cáo khoa học:
Khả năng phát triển quần thể của nhện bắt mồi
Amblyseius victoriensis Womersley, một loài thiên
địch quan trọng của nhện đỏ son Tetranychus
cinnabarinus Koch và bọ trĩ Thrips palmy Karny
Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2006, Tập IV, Số 6: 3-10 Đại học Nông nghiệp I
Khả năng phát triển quần thể
của nhện bắt mồi
Amblyseius victoriensis
Womersley, một loài thiên địch
quan trọng của nhện đỏ son
Tetranychus cinnabarinus
Koch
và bọ trĩ
Thrips palmy
Karny
Population growth of the predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley, an important
natural enemy of the carmine spider mite Tetranychus cinnabarinus Koch and the thrip
Thrips palmy Karny
Nguyễn Văn Đĩnh
1
, Phạm Thị Hiếu

predatory mite was very high (219.5 eggs/female). They also attacked all developmental stages
of investigated thrip, Thrips palmy
. In the experiment condition, the growth rate of population in
the bean plant with different ratio of predatory and prey adult females was high, but they could
control the carmine spider mite when this ratio was higher than 5%.
In short, the predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley was a promising important
narural enemy for biological control of the carmine spider mite Tetranychus cinnabarinus
Koch
and the thrip Thrips palmy
Karny in this region.
Key words: Predatory mite Amblyseius victoriensis
, Carmine spider mite Tetranychus
cinnabarinus, plant thrip Thrips palmy, population growth.

1. Đặt vấn đề
Nhóm côn trùng nhỏ và nhện hại có vai
trò ngày càng tăng trong sản xuất nông nghiệp
(Nguyễn Văn Đĩnh, 2002; Hà Quang Hùng và
CTV., 2005), đặc biệt đối với các cây trồng
đợc thâm canh cao. Việc phòng chống các
1
Trờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
2
Cục Bảo vệ thực vật

loài dịch hại nhất là côn trùng và nhện hại
bằng thuốc hóa học bảo vệ thực vật (BVTV)
làm cho nhóm thiên địch của chúng giảm mật
độ đáng kể và dẫn đến dịch hại nói chung
đợc giải phóng khỏi thiên địch và đặc biệt,

Đầu tiên bắt trởng thành nhện bắt mồi
(NBM) Amblyseius victoriensis trên ruộng đậu
đỗ, xác định đúng loài (định loại theo khóa
phân loại của Chant, 1959), rồi nhân nuôi
hàng loạt trong lồng cách ly trong đó có cây
đậu cove và nhiều nhện đỏ son. Thí nghiệm
nuôi sinh học đợc tiến hành bằng cách dùng
bút lông chuyển trởng thành cái NBM thả
trên đĩa lá đậu có đờng kính 1,5 cm đặt trên
bông ẩm, trên đó có sẵn 5-6 nhện đỏ son
trởng thành. Sau 3-4 giờ chuyển NBM trởng
thành ra và chỉ để 1 trứng NBM trong đĩa lá.
Hàng ngày theo dõi đĩa lá 2 lần để xác định
thời gian trứng nở, sự chuyển tuổi nhờ xác lột,
số lợng trứng đẻ trong 1 ngày, thời gian chết
sinh lý. Khi nhện lột xác hoá trởng thành thả
hai nhện đực từ lồng nuôi NBM và cho giao
phối trong 2 giờ rồi chuyển nhện đực ra ngoài.
Khi nhện đẻ trứng, hàng ngày chuyển toàn bộ
trứng đẻ ra ngoài để tránh ảnh hởng của mật
độ trứng đến tỷ lệ giới tính và 2 ngày 1 lần thay
đĩa lá có nhiều trứng và nhện trởng thành nhện
đỏ son. Trứng đẻ ra từ ngày thứ 2 đến ngày thứ
7 đợc nuôi tiếp tục trên các đĩa lá khác cho
đến khi hoá trởng thành để xác định tỷ lệ cái
sống sót. Thí nghiệm đợc tiến hành ở nhiệt độ
25
0
Cvà 30
0

Cây thí nghiệm phải là cây khỏe không nấm
bệnh. Chậu cây đợc bao quanh bằng tấm
mika trắng nhằm cách ly cũng nh hạn chế
các tác động của điều kiện ngoại cảnh.
Sau khi gieo đợc 1 tuần, cây có 2 lá thật
to khỏe thì lây thả nhện đỏ (NĐ) cái trởng
thành theo 2 mật độ 15 con/lá và 30 con/lá

con. Sau đó 4-5 giờ thả trởng thành cái NBM
lên cây đậu theo 8 công thức. 4 công thức có
mật độ nhện đỏ son là 15 con/lá và 4 công
thức có mật độ nhện đỏ son là 30 con/lá.
Công thức 1 và 5: (đối chứng): Có 15 và
30 con NĐ tơng ứng/lá, không thả NBM.
Công thức 2 và 6: Có 15 và 30 con NĐ
tơng ứng/lá, thả 0,5 NBM/lá
Công thức 3 và 7: Có 15 và 30 con NĐ
tơng ứng/lá, thả 1,5 NBM/lá
Công thức 4 và 8: Có 15 và 30 con NĐ
tơng ứng/lá, thả 2,5 NBM/lá
Chỉ tiêu theo dõi: Số lợng nhện đỏ son
Tetranychus cinnabarinus và NBM Amblyseius
victoriensis ở các pha: trứng, nhện non, nhện
trởng thành trên cây sau 3 ngày, 7 ngày, 15
ngày, 25 ngày.
Phơng pháp đếm: mỗi cây lấy 3 lá ở 3
tầng khác nhau, mỗi lá cắt lấy 1/4 diện tích
đếm số lợng nhện trên kính lúp rồi suy ra
trung bình con/ lá.
2.4. Chỉ tiêu theo dõi và phơng pháp tính

Hay lx. mx. e
r t
= 1 (3)
Để tính đợc (3), phải lập đợc bảng sống
(life table) bao gồm số liệu sinh sản mx, tỉ lệ
sống lx qua các tuổi x và lx là sắc xuất sống
sót trung bình của cá thể mẹ.
Tổng số con cái sinh ra sống sót trong
một thế hệ (do 1 mẹ đẻ ra) đợc gọi là chỉ số
nhân của thế hệ (R
o
):
R
o
= lx. mx (4)
Thời gian của thế hệ :
0
x.lx.mx
Tc
R

=
(5)
Cũng vậy, thời gian của một thế hệ:
T = x. lx. mx e
r x
(6)
Tc là tuổi trung bình của mẹ khi đẻ con
nhng Tc tính theo mẹ, còn T tính theo con
mới sinh.


Đây là loài mới đợc ghi nhận ở Việt Nam.
Chúng có mặt trên cây đậu đỗ, cây có múi ở
vùng Hà Nội. Con trởng thành cái hình o val,
cơ thể căng bóng, có 30 lông ngắn ở trên lng.
Phía cuối tấm bụng có 9 lông, trong đó hàng
thứ 2 từ trên xuống có 4 lông xếp thành 1
đờng hơi cong. Nhện trởng thành di chuyển
nhanh nhẹn. Mầu sắc cơ thể nhện thay đổi
theo thức ăn. Kích thớc con trởng thành cái
khoảng 0,5 x 0,3 mm. Khích thớc con trởng
thành đực nhỏ hơn khoảng 0,48 x 0,27 mm.
Trởng thành cái có phần bụng phình to và
tròn. Trởng thành đực cơ thể có phần dẹt
hơn, phần cuối bụng không tròn nh con cái.
3.2. Thời gian phát dục của NBM Amblyseius
victoriensis
NBM có 3 pha phát triển là trứng nhện non
và nhện trởng thành. Nhện non có 3 tuổi. Vòng
đời của NBM là tơng đối ngắn, ở 25
o
C là 7,12
0,31 ngày và ở 30
o
C là 6,22 0,29 ngày.
3.3. Khả năng ăn trứng nhện đỏ và các pha
phát dục bọ trĩ của nhện bắt mồi
Amblyseius victoriensis
Bảng 1. Sức ăn trứng của nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis ở 30
o

+ Cả giai đoạn 5
7 11
16 8,2 0,95
11,5
Trởng thành cái
Giai đoạn đẻ trứng
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn 12
121 18
198 14,33 0,68
159,5
Trởng thành cái

35,5
Ghi chú: sai số ớc lợng ở mức = 0,05; n =30.
Qua bảng trên cho thấy sức ăn trứng từ
tuổi hai đến trớc đẻ trứng tăng dần và tăng
rất nhiều vào giai đoạn đẻ trứng sau đó giảm
dần. NBM tuổi 1 không ăn, đến tuổi 2 nhện
ăn khoảng 2-6 quả trong một ngày, ở tuổi 3
tăng rõ rệt là 4 -11 quả. Giai đoạn trớc khi
đẻ sức ăn của nhện vẫn cha tăng nhiều so
với tuổi 3 (5-11 quả/ngày). Đến giai đoạn đẻ
trứng sức ăn của nhện trởng thành cái tăng
cao 12 -18/quả/ngày. Đối với con cái giai
đoạn đẻ trứng sức ăn cao nhất trong giai đoạn
này nó có thể ăn tới 159,5 quả. Con đực có
khả năng ăn kém hơn nhiều so với con cái.
Nếu tính từ khi nhện cái có thể ăn đến lúc
chết sinh lý nó có thể tiêu diệt tới 219,5 quả.
So với sức ăn trứng của các loài nhện khác
đợc nhân nuôi nhiều trên thế giới nh
Amblyseius anonymus, Amblyseius idaeus

(Nguyễn Văn Đĩnh, 1988) thì NBM
Amblyseius victoriensis có sức ăn cao hơn
nên loài NBM mới này rất có triển vọng làm
tác nhân khống chế nhện đỏ hại. Không
những thế NBM còn tấn công mạnh trên bọ
trĩ, Thrips palmy.
Bảng 2. Sức ăn bọ trĩ Thrips palmi của NBM trởng thành A. victoriensis trong 24 giờ
Nhiệt độ


Thị Kim Oanh, 2006).
3.3. Sức tăng quần thể của NBM
Amblyseius victoriensis.
Bảng 3. Bảng sống (Life table) của NBM Amblyseius victoriensis trên thức ăn nhện đỏ
ở 25
o
C và 30
o
C (n=30)
25
o
C 30
o
C
Ngày tuổi
(x)
lx mx lx.mx lx mx lx.mx
1-5 1 0 0 1 0 0
5,5 1 0 0 1 0,07 0,07
6 1 0,07 0,07 1 0,20 0,20
6,5 1 0,33 0,33 1 0,40 0,40
7 1 0,60 0,60 1 0,67 0,67
7,5 1 0,73 0,73 1 0,80 0,80
8 1 0,90 0,90 1 1,07 1,07
9 1 1,10 1,10 1 1,23 1,23
10 1 1,23 1,23 1 1,47 1,47
11 1 1,53 1,53 1 1,67 1,67
12 1 1,57 1,57 1 1,53 1,53
13 1 1,40 1,40 0,97 1,50 1,46
14 1 1,30 1,30 0,90 1,47 1,32

Căn cứ vào bảng sống, giá trị tỷ lệ tăng tự
nhiên của loài Amblyseius victoriensis là khá
cao, tơng ứng ở 25
o
C và ở 30
o
C là 0,247 và
0,262 (bảng 4).
Bảng 4. Các chỉ tiêu sinh học của một số loài nhện bắt mồi ở 25
o
C
Loài r R
o
Tc G Nguồn
Amblyseius victoriensis
0,247 14,90 14,36 1,28 Báo cáo này
A. anonymus
0,274 40,86 10,94 1,31 Nguyễn Văn Đĩnh và CTV.,1988
A. idaeus
0,279 38,53 10,65 1,32 Nguyễn Văn Đĩnh và CTV., 1988
Amblyseius sp. 0,247 15,95 12,96 1,28 Ng. Thị Kim Oanh và CTV.,2006

Qua bảng 3 chúng ta thấy ở nhiệt độ 25
o
C
giới hạn tăng tự nhiên, thời gian giữa hai thế
hệ của 4 loài này là khác nhau không nhiều,
nhng hệ số nhân của thế hệ của Amblyseius
victoriensis thì lại thấp hơn nhiều, tỷ lệ tăng tự
nhiên (r) của Amblyseius victoriensis cũng

6 0,5 30 1,7 25 7,4 87,00
Cây đậu bị chết hoàn toàn
7 1,5 30 3,9 22 11 66,00 18,63 28,8 12,65 7,70
8 2,5 30 5,7 17,08 9,4 20,75 16,20 8,37 4,60 5,63
Ghi chú: n = 30.

0,0NBM:15N
15
14.48
101.25
0
20
40
60
80
100
120
Khi th 3 7 15 25
ngy sau th
Nhn ủ son0,0NBM:30NĐ

30

28

127,5


0,58
6,6
0
20
40
60
80
100
Khi thả 3 7 15 25
0
5
10
15
20
T. cinnabarinus A.victoriensis
T. cinnabarinus
A
N
Ngày sau thảNBM:NĐ = 0,5:30

30

25

87

7,4


0

5

10

15

20

A.victoriensis
NBM:NĐ = 1,5:15

15

8.33

44,44

13,9
4,91

1.5

2.32



25

ngày sau thả

T.cinnabarinus

0

5

10

15

20

A.victoriensis
NBM:NĐ = 1,5:30

30

22
66

28,8



15

25

ngày sau thả

T.cinnabarinus

0

5

10

15

20

A.victoriensis
NBM:NĐ = 2,5:15

15

7,67

9,2


3

7

15

25

ngày sau thả

T.cinnabarinus

0

5

10

15

20

A.victoriensis30
17.08
20.75
8.37

Qua bảng 5 và hình 1 ta thấy NBM hoàn
toàn có thể khống chế đợc NĐ nếu tỷ lệ
NBM/NĐ đạt trên 5,0% (CT3, CT4 và CT7,
CT8), 4 công thức còn lại cây đậu bị chết do
bị hại quá nặng. Khi mật độ nhện đỏ son cao
thì nhện bắt mồi só khả năng tăng quần thể
nhanh, cụ thể với mật độ nhện đỏ là 15 con/lá
thì nhện bắt mồi ở CT4 sau 3 ngày tăng từ 2,5
đến 5,7 con/lá, ở CT3 tăng từ 1,5 đến 2,32
con/lá còn với mật độ nhện đỏ là 30 con/lá thì
nhện bắt mồi ở CT8 tăng từ 2,5 đến 5,17con/lá.
ở CT7 tăng từ 1,5 đến 3,9con/lá. Khi mật độ
nhện đỏ son là 15 con/lá thì sau thả 1,5 NBM/lá
15 ngày NBM sẽ khống chế đợc số lợng
nhện đỏ. với công thức 2,5 NBM/lá sau 7 ngày
NBM đ khống chế đợc nhện đỏ. Con khi mật
độ nhện đỏ son là 30 con/lá tại mật độ
1,5NBM/lá sau 25 ngày mới khống chế đợc
nhện đỏ, còn mật độ 2,5 NBM/lá 15 ngày là đ
khống chế đợc nhện đỏ son.
Kết quả điều tra trên nhiều ruộng đậu đũa
tại thời điểm sau trồng 45-60 ngày ở Gia Lâm
và ở Đông Anh, Hà Nội mật độ nhện đỏ son
có thể đạt từ 7-20 con/lá, cá biệt có một số
ruộng mật độ nhện hại đạt 20-30 con/lá. Do
đó cần có chiến lợc sử dụng thuốc BVTV
thận trọng và có thể thả nhện bắt mồi sớm vừa
tránh sự gây hại của nhện hại và quan trọng
hơn là NBM có khả năng thiết lập quần thể
cao, không cho nhện hại tích lũy số lợng

và cách phòng chống. NXB Nông
nghiệp.
Dinh N. Van. A. Janssen and M.W. Sabelis.
(1988). Reproductire success of
Amblyseius idaeus and A. anonymus on
a diet of two - spotted spider mites.
Experimental and applied acarology 4:
41 - 51.
Nguyễn Thị Kim Oanh. Nguyễn Văn Đĩnh.
Hà Quang Hùng và CTV. (2006).
Nghiên cứu quy trình nhân nuôi nhện
bắt mồi Amblyseius sp. (Phytoseiidae-
Acarina), bọ xít bắt mồi (Orius sauteri)
và khả năng ứng dụng chúng trong
phòng trừ nhện, bọ trĩ, rệp hại rau, cam
vùng Hà Nội và vùng phụ cận. Đề tài
khoa học và công nghệ cấp bộ.
Hà Quang Hùng, Yorn Try, Hà Thanh Hơng
(2005). Bọ trĩ hại cây trồng và biện
pháp phòng trừ. NXB Nông nghiệp. Hà
Nội. 58 trang
Leteren J.C. van (2005). IOBC internet book
of biological control. WWW.IOBC.
Global.org


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status