Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản
trị Sonadezi
Chuyên đề:Thị trường tài chính Việt Nam
thực trạng và giải pháp
Biên soạn:Nhóm 2-QTK4
Giảng viên hướng dẫn:
NGUYỄN DUY TUYỂN
- 1 -
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM THỰC TRANG VÀ GIẢI PHÁP
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường-hay nói chính
xác hơn,là nền kinh tế tiền tệ, ở đó,bên cạnh các thị trường khác,thị trường tài chính hoạt
động như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và người sử dụng cuối cùng, tạo ra
vô số các giao dịch, và ở mỗi giao dịch, dù động cơ nào ,cũng tạo ra các dòng chảy về vốn
trong một nền kinh tế - như là sự lưu thông máu trong một cơ thể - một nền kinh tế hoạt
động lành mạnh và có hiệu quả chỉ khi nào thị trường này cũng hoạt động có hiệu quả như
thế, và ngược lại.
Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với
người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông
qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả.
Thị trường tài chính là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế, tạo điều
kiện thuận lợi chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang nơi thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế. Thông qua thị trường tài chính hình thành giá mua giá bán các loại cổ phiếu, trái
phiếu, kỳ phiếu, giấy nợ ngắn hạn, dài hạn…hình thành nên tỷ lệ lãi suất đi vay, lãi suất cho
vay, lãi suất ngắn, trung hạn và dài hạn.
Ở Việt Nam ,kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt
là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,gia nhập WTO, lĩnh vực tài chính là
lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự đổi mới cả về mặt nhận thức và thực tiễn.
I.Thị trường tài chính, phân loại và mục tiêu:
1. Khái niệm :
Thị trường tài chính là thị trường trong đó nguồn tài chính được chuyển từ người có
người ta thường phân ra theo 2 cách dưới (b và c).
3 . Mục tiêu & vai trò:
Mục tiêu duy nhất: Phân bổ vốn tiết kiệm một cách có hiệu quả cho người sử dụng
cuối cùng.
Vai trò của tài chính:
Một là, điều tiết kinh tế
Nhà nước thực hiện vai trò này thông qua sự kết hợp hai chức năng: phân phối và giám
đốc. Trên cơ sở kiểm tra, giám sát bằng đồng tiền, nhà nước nắm được thực tế hoạt động
của nền kinh tế, từ đó phát hiện ra những vấn đề cần can thiệp, điều tiết. Bằng các chính
sách phân phối, nhà nước điều tiết nền kinh tế theo kế hoạch đã định. Nhà nước có thể dung
biện pháp đầu tư thêm vốn, bổ sung vốn để đẩy mạnh những ngành phát triển kém và các
lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước cũng có thể dung biện pháp giảm
vốn đầu tư và hỗ trợ để hạn chế phát triển những ngành và những khâu chưa cần thiết…
Đồn thời, nhà nước cũng có thể thông qua việc nâng cao hoặc hạ thấp thuế suất để điều tiết
hoạt động đầu tư kinh doanh giữa các ngành nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển cân đối
theo đinh hướng, muc tiêu.
Hai là, xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế-xã hội
- 4 -
Để làm lành mạnh hoá quan hệ tài chính, một mặt nhà nước cần có những biện pháp cấp
bách điều chỉnh các quan hệ tài chính kể cả biện pháp cấp bách buộc các doanh nghiệp
thanh toán nợ nần trong thời gian ngắn. Mặt khác, nhà nước còn phải chủ động tạo điều kiện
thúc đẩy sự ra đời các thị trường vốn trung hạn,dai hạn, nhất là thị trường chứng khoán và
hướng dẫn chúng phát triển đúng hướng.
Ba là, tích tụ và tập trung vốn, cung ứng vốn cho các nhu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong nền kinh tế luôn diễn ra quá trình di chuyển nguồn tài chính hai chiều từ lĩnh vực
sản xuất sang lĩnh vực phi sản xuất, từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại, từ lĩnh vực
phi sản xuất sang lĩnh vực sản xuất và từ nước ngoài vào trong nước. Nếu nhà nước có
chính sách tốt điều chỉnh các quan hệ tài chính nảy sinh trong các quá trình di chuyển nói
trên thì có thể thúc đẩy quá trình tập trung vốn cho đầu tư phát triển,giảm bớt các chi phí
LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
Đơn vị kinh doanh
Chính phủ
Hộ gia đình
MÔI GIỚI TÀI
CHÍNH
Công ty chứng
khoán
THỊ TRƯỜNG THỨ
CẤP
Sàn giao dịch
Thị trường OTC
KHU VỰC TIẾT
KIỆM
Hộ gia đình
Tổ chức kinh doanh
Chính phủ
TRUNG GIAN
THƯƠNG MẠI
Ngân hàng thương
mại
Công ty bảo hiểm
Công ty tài chính
Quỹ đầu tư
Tổ chức tiết kiệm
Trái ngược với khu vực tiết kiệm , lĩnh vực này cũng bao gồm các đơn vị kinh doanh ,
chính phủ và hộ gia đình tuy nhiên họ là những đơn vị tạm thời thiếu hụt vốn cho hoạt động
kinh doanh.
3.Trung gian tài chính
a. Khái niệm
nhuận của ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi
nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác
trong xã hội.
Hiện tại ở VN các ngân hàng thương mại được chia làm bốn nhóm chính :
- 8 -
-Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài : Trước đây các ngân hàng này tập trung cung
cấp dịch vụ cho các khách hàng đa quốc gia tại VN , song hiện nay họ đang chuyển hướng
tập trung vào các doanh nghiệp VN có quy mô lớn. Dưới đây là một số ngân hàng nước
ngoài đang hoạt động tại VN :
o . ANZ Banking Group
o . ABN Amro Bank
o . Bangkok Bank
o . Bank of China
o . Citibank
o . Deutsche Bank AG Vietnam
o . Hongkong Shanghai Banking Corporation (HSBC)
o . Korea Exchange Bank
o . Standard Chartered
o . Sumitomo Mitsui Banking Corporation
o . United Overseas Bank (UOB)
- Ngân hàng quốc doanh :
Những ngân hàng này trước đây chủ yếu cung cấp dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp
nhà nước song hiện nay họ đã mở thêm hoạt động cho vay cho khối doanh nghiệp tư nhân
trong nước và doanh nghiệp nước ngoài tại VN. Nhiều ngân hàng trong số này đang trong
tiến trình cổ phần hoá :
o . Ngân hàng Ngoại Thương VN ( Vietcombank)
o . Ngân hàng Đầu Tư Phát Triển VN (BIDV)
o . Ngân hàng Công Thương VN (Incombank)
o . Ngân hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long (MHB)
o . Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (Agribank)
quỹ đầu tư FPT (FPT Capital)
c.3.Công ty bảo hiểm:
Là các công ty thu các khoản nộp định kì của những người có nhu cầu có bảo hiểm và
đổi lại tronng trường hợp có những sự cố không may xảy ra, công ty sẽ trả một khoản tiền
lớn cho họ. Với nguồn vốn nhận dược, công ty bảo hiểm xây dựng nguồn dự trữ sau đó, với
các khoản dự trữ này và một phần vốn của mình, họ đầu tư vào các tài khoản tài chính.ó
hai loại công ty bảo hiểm: công ty bảo hiểm tai nạn,tài sản và công ty bảo hiểm nhân thọ.
Các công ty bảo hiểm ở Việt Nam:
• Công ty TNHH AIG- công ty con của tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG.
• Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam
• Công ty BH Bảo Việt- do tập đoàn Tài Chính BH Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ
• Công ty BH Nhân Thọ-do tập đoàn Tài Chính BH BảoViệt đầu tư 100% vốn điều lệ.
• Công ty liên doanh BH quốc tế Việt Nam (VIA) do tập đoàn Bảo Việt đầu tư 51% vốn
điều lệ.
• Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân Thọ Prudential Vietnam
• Công ty Bảo Hiểm Petrolimex (PJICO)
• Công ty TNHH Bảo Hiểm Quốc Tế Mỹ (AIA)
c.4.Công ty tài chính
Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử
dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch
vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật,
nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm.
Công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Vì thế,
rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty
gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh
bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.
Các công ty tài chính ở Việt Nam:
- 11 -
• Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam(PVFC)
• Công ty tài chính cổ phần HANDICO(HAFIC)
- Mua số cổ phiếu hoặc trái phiếu còn lại của đợt phát hành chưa được phân phối hết.
Đây thực chất là một dạng của phương thức cam kết chắc chắn, nhưng tổ chức bảo lãnh phát
hành cam kết mua phần chứng khoán còn lại của đợt phát hành chưa được phân phối hết.
b.Điều kiện để được bảo lãnh phát hành
CTCK chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán (CK) khi
thực hiện nghiệp vụ tự doanh CK; vốn pháp định để thực hiện nghiệp vụ tự doanh CK là
100 tỷ đồng, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là 165 tỷ đồng.
- Không vi phạm pháp luật CK trong 6 tháng liên tục liền trước thời điểm bảo lãnh.
- Tổng giá trị bảo lãnh phát hành không được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ chức
bảo lãnh phát hành vào thời điểm cuối quý gần nhất tính đến ngày ký hợp đồng bảo lãnh
phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính
phủ bảo lãnh.
- Có tỷ lệ vốn khả dụng trên nợ điều chỉnh trên 6% trong 3 tháng liền trước thời điểm
nhận bảo lãnh phát hành.
Hiện nay ta có các tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán :
Công ty chứng khoán ABC
Công ty chứng khoán Dầu Khí
Công ty chứng khoán Thăng Long
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ngân hàng Công Thương
Ngân hàng Ngoại Thương
Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển
…
5. Thị trường thứ cấp :
a) Khái niệm :
- 13 -
Sau khi chứng khoán mới được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng sẽ được giao
dịch trên thị trường thứ cấp.
Vậy Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị
trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
trường tài chính đã dần dần có những bước đột phá và thành công nhất đinh. Nhưng mức độ
huy động vốn trong dân, và từ nước ngoài vẫn chiếm một tỷ lệ chưa cao.
1.2 Giai đoạn từ năm 2000 cho đến 2010
Cột mốc đánh dấu đáng chú ý nhất, có ảnh hưởng lớn nhất và đáng tự hào nhất của
thị truờng tài chính Viêt Nam. Đó chính là sự ra đời của thị trường chứng khoán, một thị
trường vốn- một kênh huy động vốn hiệu quả nhất cho nền kinh tê. Từ khi thị trường chứng
khoán ra đời, đã tạo nên những bước chuyển đổi và nhảy vọt quan trọng. Thị trường tài
chính lớn mạnh hơn, giúp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sau sở giao dich chứng khoán TP.Hồ Chí Minh, rồi đến lượt trung tâm giao dich
chứng khoán Hà Nội ra đời. Thị truờng tài chính lại bùng nổ, với hàng loạt quỹ đầu tư trong
nước và nước ngoài ra đời, các ngân hàng thương mại cổ phần nhiều hơn, mức độ huy động
vốn lớn hơn, tạo ra một súc mạnh lớn cho nền kinh tế. Uớc tính mức vốn hoá của thị trường
chứng khoán hiện nay đã là 40% GDP. Con số này sẽ ngày càng được tăng lên trong những
thời gian tới. Có thể nói rằng, chưa bao giờ thị truờng tài chính Việt Nam lại phát triển
manh mẽ như lúc này.
1.3 Giai đoạn 2011-2012
Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, năm 2011, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Nhà
nước, sự điều hành quyết liệt, linh hoạt và đúng đắn của Chính phủ, ngành tài chính đã
nghiêm túc, chủ động và tích cực trong việc thực hiện các chính sách tài chính - Ngân sách
- 15 -
nhà nước (NSNN) theo hướng chặt chẽ, hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn lại một năm phấn đấu, toàn ngành
tài chính đã đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực và nhiệm vụ được Ðảng và Nhà nước,
nhân dân giao phó.
Vượt qua khó khăn, thách thức
Xác định rõ tầm quan trọng của hoạt động thu NSNN, Bộ Tài chính đã tập trung chỉ đạo
tăng cường công tác quản lý thu, phấn đấu thu vượt so dự toán Quốc hội quyết định. Trong
điều hành, Bộ đã chỉ đạo ngành Thuế, Hải quan đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, chống thất
thu, đặc biệt là kiểm soát tốt về chi phí, giá thành sản phẩm, tăng cường công tác thanh tra
chống chuyển giá, chú trọng việc đôn đốc thu hồi nợ đọng thuế nên đã huy động kịp thời
một bộ phận DN vừa và nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân với tổng số 10 nghìn tỷ đồng. Ðồng
thời đã điều hành chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu linh hoạt thông qua việc điều
chỉnh thuế suất kịp thời nhằm khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, góp phần bình
ổn giá để chống lạm phát. Tiếp tục thực hiện việc rà soát, ban hành các cơ chế, chính sách
về thu, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nộp thuế, như:
ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cấp, quản lý mã số thuế, thực hiện kê khai thuế
điện tử.
Trong năm 2011, một trong những "điểm nóng", "vấn đề nóng" của nền kinh tế là về công
tác quản lý, điều hành giá. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, ngành tài chính đã triển khai
- 17 -
nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt, phù hợp với diễn biến của thị trường góp phần làm
giảm dần tốc độ tăng giá. Tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường để xóa bao cấp một bước
qua giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ đầu vào quan trọng của nền kinh tế, nhưng điều
hành việc điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng (điện, than bán cho điện, xăng, dầu ) ở mức
độ có kiềm chế, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát không đẩy chỉ số giá tiêu dùng
tăng quá cao. Khi có điều kiện đã điều chỉnh giảm giá (giá xăng, dầu giảm hai lần ), đồng
thời sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính nhà nước như giảm thuế nhập khẩu cơ bản về
0%, sử dụng Quỹ bình ổn giá để kiềm chế mức độ tăng giá trong nước, giảm áp lực lạm
phát.
Bộ Tài chính đã chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương áp dụng đồng bộ các biện pháp bình ổn
giá như bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ không để xảy ra các "cơn sốt" đột biến
về giá. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về giá tại các đơn vị kinh doanh các mặt
hàng: phân bón hóa học, thức ăn chăn nuôi, xi-măng, đường ăn, khí hóa lỏng, thép, sữa bột
trẻ em, thuốc bảo vệ thực vật, giấy in, giấy viết, kiểm tra giá nhập khẩu xăng, dầu tại các
DN đầu mối Kiên quyết xử lý nghiêm, đúng quy định của pháp luật đối với các trường
hợp vi phạm pháp luật về giá.
Trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, năm 2011, ngành Tài chính đã tập trung xây
dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý phục vụ cho công tác quản lý, giám sát tình hình tài
chính của các DNNN, tổng hợp về thực trạng hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty giai
đoạn 2006-2010 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2011-2015 trình Chính
số 1792/CT-TTg ngày 15-10-2011 của Thủ tướng Chính phủ đối với chi đầu tư từ NSNN và
TPCP (trong đó yêu cầu đặt lên hàng đầu là phải kiểm soát chặt chẽ, chỉ được quyết định
đầu tư khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối ở từng cấp ngân sách; bố trí vốn
đúng theo quy định về thứ tự ưu tiên cũng như tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra,
thanh tra các khoản chi NSNN); chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng; quản lý chặt chẽ
các khoản chi thường xuyên theo đúng dự toán được phê duyệt; thực hiện nghiêm các quy
định về mua sắm tài sản công.
Tổ chức triển khai thực hiện tốt các luật thuế, thực hiện quyết liệt các biện pháp
chống thất thu, đặc biệt là các khoản thu liên quan đến đất đai.
Thứ ba, Bộ Tài chính quyết tâm đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tạo
điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các DN trong nước khác để tạo nên sức mạnh của cộng
đồng DN.
Chính phủ đã chính thức giao cho Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu xây dựng Ðề án tái cấu
trúc DNNN mà trọng tâm là tái cấu trúc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trên cơ sở Ðề
án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài chính sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa
phương tập trung xây dựng và triển khai Ðề án tái cấu trúc DNNN; đổi mới, hoàn thiện cơ
chế quản lý của chủ sở hữu tại DNNN theo hướng làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ và trách
- 20 -
nhiệm giám sát của chủ sở hữu đối với DN; nâng cao vai trò của Bộ quản lý ngành trong
việc quản lý, theo dõi, giám sát các tập đoàn, tổng công ty lớn và thực hiện chức năng cảnh
báo về hiệu quả hoạt động của các DN này; tiếp tục thực hiện thoái vốn nhà nước tại những
DN đã cổ phần hóa và không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối; tiếp tục
hoàn thiện cơ cấu, mô hình tổ chức theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp đối với
những DN thuộc diện Nhà nước tiếp tục giữ 100% vốn.
Thứ tư, Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp về quản lý giá cả và kiềm chế
lạm phát; thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Tiếp tục lộ
trình điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường, xóa bao cấp qua giá đối với các loại hàng hóa,
dịch vụ còn bao cấp qua giá vào thời điểm thích hợp, với liều lượng hợp lý phù hợp với mục
tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện công khai, minh bạch giá các hàng
hóa, dịch vụ này đi đôi với các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với những ngành sản xuất gặp
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính,
tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm bảo đảm kỷ cương, kỷ luật tài chính.
Xây dựng Ðề án cải cách tiền lương cho giai đoạn 2012 - 2020 theo hướng tiếp tục đổi mới
chế độ tiền lương và có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức.
Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về sử
dụng NSNN. Thực hiện minh bạch hóa chi tiêu của NSNN và đầu tư công, nhất là đầu tư từ
NSNN, trái phiếu Chính phủ và đầu tư của khu vực DNNN.
- 22 -
Thứ chín, toàn ngành tài chính tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao hơn
nữa chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ song song với
việc tôn vinh và nhân rộng các điển hình tiên tiến.
Năm 2012 có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chặng đường phát triển mới của đất nước,
với nhiều khó khăn, thuận lợi, thách thức và thời cơ đan xen nhau. Quán triệt chủ trương
của Ðảng, Nhà nước và sự chỉ đạo của Chính phủ, phối hợp công tác chặt chẽ với các
ngành, các cấp, tranh thủ sự đồng thuận của các doanh nghiệp và nhân dân, toàn ngành tài
chính tiếp tục đoàn kết, đồng lòng, đồng sức; lao động tập trung, trách nhiệm và sáng tạo,
phấn đấu thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao ở cấp độ cao hơn những kết quả
đã đạt được trong năm qua.
2. Về thực trạng phát triển thị trường tiền tệ:
Tham gia là thành viên của các dạng thị trường tiền tệ có 5 Ngân hàng thương mại Nhà
nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương mại cổ phần, 4 Ngân hàng liên
doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Qũy tín dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở, một số công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm, Quỹ đầu tư Tuy nhiên tham gia là thành
viên của thị trường liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị
trường mở thì không phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ có các NHTM NN, NHTM
cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo
hiểm
Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập trung ở các
công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương. Theo đó, dần dần
- Cạnh tranh thu hút tiền gửi tiết kiệm: đây là hình thức huy động vốn truyền thống giữa
các TCTD và Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, nhất là các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Thời gian gần đây, để khuyến khích khách hàng, một số ngân hàng thương mại đưa ra dịch
vụ: gửi một nơi lĩnh nhiều nơi, tiết kiệm tích lũy hay còn gọi là tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm
gắn với bảo hiểm nhân thọ, tiết kiệm lũy tiến trả lãi theo số tiến gửi càng cao thì lãi suất
càng cao, tiết kiệm linh hoạt tức là khách được chủ động rút tiền ra bất cứ lúc nào có nhu
cầu và lãi suất tính theo số ngày thực tế gửi tương ứng với kỳ hạn gần nhất, tiết kiệm dự
thưởng
- Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu chủ yếu là huy động vốn có
thời hạn từ 6 tháng trở lên, lãi suất hấp dẫn.
Trong những năm gần đây, đã có sự cạnh tranh sôi động trên thị trường thu hút tiền gửi
và thị trường huy động vốn, đặc biệt là các tổ chức trung gian tài chính thực hiện rất đa
dạng và phong phú các sản phẩm và dịch vụ thu hút tiền gửi, huy động vốn.
Tuy nhiên trong việc phát triển thị trường này, có thể thấy một tồn tại lớn là chưa thu
hút được tối đa tiền gửi không kỳ hạn, tiền nhàn rỗi trong dân cư vào hệ thống ngân hàng,
trên cơ sở đó lựa chọn các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng hay rút tiền mặt ra chi tiêu bất
cứ lức nào có nhu cầu. Đây là nguồn vốn rất lớn và rất quan trọng, tạo đà cho phát triển thị
trường tiền tệ, bởi vì nó gia tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, gia tăng vốn khả dụng cho
các TCTD.
4. Về quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán:
- 25 -