Thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 81

Thị trường tài chính Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị
trường-hay nói chính xác hơn,là nền kinh tế tiền tệ, ở đó,bên cạnh các thị
trường khác,thị trường tài chính hoạt động như là một sự kết nối giữa người
cho vay đầu tiên và người sử dụng cuối cùng, tạo ra vô số các giao dịch, và ở
mỗi giao dịch, dù động cơ nào ,cũng tạo ra các dòng chảy về vốn trong một
nền kinh tế - như là sự lưu thông máu trong một cơ thể - một nền kinh tế hoạt
động lành mạnh và có hiệu quả chỉ khi nào thị trường này cũng hoạt động có
hiệu quả như thế, và ngược lại.
Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không
chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư.
Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải
tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu
Thị trường tài chính là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền
kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang nơi thiếu vốn
để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Thông qua thị trường tài chính hình
thành giá mua giá bán các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, giấy nợ ngắn
hạn, dài hạn…hình thành nên tỷ lệ lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất
ngắn, trung hạn và dài hạn.
Ở Việt Nam ,kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế
thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,gia
nhập WTO, lĩnh vực tài chính là lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự
đổi mới cả về mặt nhận thức và thực tiễn.
Sau một qúa trình học hỏi,tìm tòi và nghiên cứu .Dưới sự chỉ dẫn của
PSG.TS Vũ Anh Tuấn, tôi đã thực hiện xong đề án “thị trường tài chính Việt
Nam,thực trạng và giải pháp phát triển”. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
nhiệt tình của công ty chứng khoán Thủ Đô, cùng những bạn bè gần xa đã có
những lời tư vấn và góp ý chân thành.
Chương I: Những vấn đề lý luận về tài chính và thị trường
tài chính

hai chiều từ dân cư,doanh nghiệp và các tổ chức vào ngân sách nhà nước và
ngược lại.
-Quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, dân cư với hệ
thống ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần,hệ thống các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc tài trợ vốn cho
các hoạt động xã hội nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng, tạo thuận lợi
phát triển mạnh mối quan hệ tài chính-quan hệ tín dụng-giữa các doanh
nghiệp, các tổ chức dân cư với ngân hàng.
-Quan hệ tài chính giữa các chủ thể kinh tế với thị trường .
Đây là mối quan hệ thể hiện sự mua bán các “quỹ tiền tệ” tồn tại dưới
các hình thức khác nhau.Tham gia mua bán trên thị trường tài chính là hầu hết
các chủ thể kinh tế trong xã hội.Nhà nước cũng tham gia vào nhóm quan hệ
tài chính này với tư cách như người mua và bán các quỹ tiền tệ. Nhà nước bán
quỹ tiền tệ của mình bằng việc phát hành công trái. Trong mối quan hệ tài
chính nói trên, quan hệ mua bán “ vốn” giữa các doanh nghiệp và nhân dân
đặc biệt quan trọng. Nhà nước cần tạo ra các điều kiện và biện pháp hữu hiệu
để vừa hướng dẫn, điều tiết sự hình thành và phát triển của thị truờng tài
chính theo phương hướng đã định.
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn
SVTH: Nguyễn Quang Hội
2
Thị trường tài chính Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển
-Quan hệ tài chính trong nội bộ mỗi chủ thể (doanh nghiệp, tổ chức xã
hội, dân cư…) :
Quan hệ này biểu hiện ở sự dịch chuyển của giá trị trong quá trình hoạt
động của mỗi tổ chức thông qua việc chi trả lương, thưởng cho viên chức,
công nhân, nguời lao động; phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội
bộ mỗi chủ thể.
Thông qua hướng dẫn, điều tiết, nhà nước vừa đảm bảo cho các quan

tiết nền kinh tế theo kế hoạch đã định. Nhà nước có thể dung biện pháp đầu tư
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn
SVTH: Nguyễn Quang Hội
3
Thị trường tài chính Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển
thêm vốn, bổ sung vốn để đẩy mạnh những ngành phát triển kém và các lĩnh
vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước cũng có thể dung biện
pháp giảm vốn đầu tư và hỗ trợ để hạn chế phát triển những ngành và những
khâu chưa cần thiết… Đồn thời, nhà nước cũng có thể thông qua việc nâng
cao hoặc hạ thấp thuế suất để điều tiết hoạt động đầu tư kinh doanh giữa các
ngành nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển cân đối theo đinh hướng, muc
tiêu.
Hai là, xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế-xã hội
Để làm lành mạnh hoá quan hệ tài chính, một mặt nhà nước cần có
những biện pháp cấp bách điều chỉnh các quan hệ tài chính kể cả biện pháp
cấp bách buộc các doanh nghiệp thanh toán nợ nần trong thời gian ngắn. Mặt
khác, nhà nước còn phải chủ động tạo điều kiện thúc đẩy sự ra đời các thị
trường vốn trung hạn,dai hạn, nhất là thị trường chứng khoán và hướng dẫn
chúng phát triển đúng hướng.
Ba là, tích tụ và tập trung vốn, cung ứng vốn cho các nhu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong nền kinh tế luôn diễn ra quá trình di chuyển nguồn tài chính hai
chiều từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực phi sản xuất, từ trong nước ra nước
ngoài và ngược lại, từ lĩnh vực phi sản xuất sang lĩnh vực sản xuất và từ nước
ngoài vào trong nước. Nếu nhà nước có chính sách tốt điều chỉnh các quan hệ
tài chính nảy sinh trong các quá trình di chuyển nói trên thì có thể thúc đẩy
quá trình tập trung vốn cho đầu tư phát triển,giảm bớt các chi phí không cần
thiết và thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Bốn là, tăng cường tính hiệu quả của sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ thu-chi tài chính và phân phối

Có nhiều cách đến phân loại thị trường tài chính:
 Nếu phân loại theo công cụ tài chính trên thị trường thì ta có:
- Thị trường nợ
- Thị trường chứng khoán
 Nếu phân loại theo thời gian luân chuyển vốn, ta có:
- Thị trường tiền tệ: thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm
- Thị trường vốn: thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm trở lên
 Nếu phân loại theo hình thức phát hành, thì ta có:
- Thị trường sơ cấp: thị trường phát hànhc chứng khoán lần đầu tiên
- Thị trường thứ cấp: thị trường mua đi bán lại các chứng khoán
Tuy nhiên, trong thực tế việc sử dụng các hình thức phân loại nào thì sẽ
tuỳ thuộc vào vấn đề mà người ta muốn nghiên cứu đến. Thông thường, khi
nói đến thị trường tài chính người ta thường phân ra theo 2 cách dưới. [ 14,
web ]
1.2 Cấu thành của thị trường tài chính
Trong một thị trường tài chính hiện đại, luôn có ba thành phần cơ bản sau
đây tham gia: Người sử dụng cuối cùng,các định chế tài chính trung gian, và
các nhà đầu tư.
1.2.1Người sử dụng cuối cùng
Những doanh nghiệp, tư nhân khi cần đầu tư vốn cho kế hoạch kinh
doanh của mình. Họ có thể huy động nguồn vốn này trên thị trường tài chính,
bằng nhiều hình thức khác nhau thông qua các định chế tài chính trung gian.
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn
SVTH: Nguyễn Quang Hội
5
Thị trường tài chính Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển
Họ là những người sử dụng nguồn vốn này để thực hiện các kế hoạch kinh
doanh, tạo ra lợi nhuân. Đồng thời, họ cũng có những nghĩa vụ của người vay
nợ đối với người cho vay.
1.2.2Các định chế tài chính trung gian

khi nào đáo hạn, hoặc đối với cổ phiếu cho khi nào công ty tự nguyện thu hồi
hoặc nếu không tự nguyện thì phải chờ thanh lý tài sản. Mặc dù tất cả các thị
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn
SVTH: Nguyễn Quang Hội
6
Thị trường tài chính Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển
trường tài chính đều có tính thanh khoản, nhưng mức độ thanh khoản sẽ là
khác nhau giữa chúng.
 Thứ ba, giảm bớt chi phí tìm kiến và chi phí thông tin.
Để các giao dịch có thể được diễn ra thì những người mua và người bán
phải tìm được nhau. Họ phải mất rất nhiều tiền và thời gian cho việc tìm kiếm
này, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của họ. Chi phí đó là chi phí tìm kiếm.
Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư họ cần có các thông tin về giá trị đầu tư như
khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền kỳ vọng. Thị trường tài chính nhờ
có tính trung lập này – là nơi để người mua, người bán đến đó tìm gặp nhau,
là nơi cung cấp các thông tin một cách công khai và đầy đủ - nên có khối
lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn vì thế nó cho phép giảm đến mức thấp
nhất những khoản chi phí trên.
Thị trường tài chính phát triển cùng với trình độ phát triển của nền kinh tế,
đi từ đơn giản đến phức tạp. Ở trình độ phát triển ngày càng cao, thị trường tài
chính ngày càng có nhiều loại trung gian tài chính tham gia. Các trung gian
tài chính ngày càng tạo ra nhiều loại sản phẩm tài chính đa dạng, đáp ứng
ngày càng đầy đủ nhu cầu của các bên tham gia thị trường. [ 2 , trg 23 ]
Chương II: Thực trạng hoạt động của thị trường tài chính
ở nước ta thời gian qua
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường tài chính
1991 tới nay
Với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 7 năm
2000. Ta có thể dựa vào cột mốc đó để chia ra làm hai giai đoạn hình thành và
phát triển của thị trường tài chính

trường trái phiếu kho bạc, nghiệp vụ mở… ). Tuy chưa có điều kiện
phát triển nhưng hệ thống thị trường tiền tệ đã góp phần tích cực trong
việc khắc phục tình trạng ách tắc của lưu thông, thanh toán, phân phối
và điều chỉnh các nguồn vốn ở một mức độ nhất định; đồng thời mở ra
nhiều cơ hội kinh doanh cho các chủ thể kinh tế.
Trong giai đoạn này, thị trường tài chính đã dần dần có những bước đột
phá và thành công nhất đinh. Nhưng mức độ huy động vốn trong dân, và
từ nước ngoài vẫn chiếm một tỷ lệ chưa cao.
2.1.2 Giai đoạn từ năm 2000 cho đến này
Cột mốc đánh dấu đáng chú ý nhất, có ảnh hưởng lớn nhất và đáng tự
hào nhất của thị truờng tài chính Viêt Nam. Đó chính là sự ra đời của thị
trường chứng khoán, một thị trường vốn- một kênh huy động vốn hiệu quả
nhất cho nền kinh tê. Từ khi thị trường chứng khoán ra đời, đã tạo nên những
bước chuyển đổi và nhảy vọt quan trọng. Thị trường tài chính lớn mạnh hơn,
giúp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sau sở giao dich chứng khoán TP.Hồ Chí Minh, rồi đến lượt trung tâm
giao dich chứng khoán Hà Nội ra đời. Thị truờng tài chính lại bùng nổ, với
hàng loạt quỹ đầu tư trong nước và nước ngoài ra đời, các ngân hàng thương
mại cổ phần nhiều hơn, mức độ huy động vốn lớn hơn, tạo ra một súc mạnh
lớn cho nền kinh tế. Uớc tính mức vốn hoá của thị trường chứng khoán hiện
nay đã là 40% GDP. Con số này sẽ ngày càng được tăng lên trong những thời
gian tới. Có thể nói rằng, chưa bao giờ thị truờng tài chính Việt Nam lại phát
triển manh mẽ như lúc này. [ 4 , trg 331 - trg 337 ] [10, web] [9, web ]
2.2 Vai trò thị trường tài chính trong phát triển kinh tế thị trường
ở nước ta những năm qua
GVHD: PGS.TS Vũ Anh Tuấn
SVTH: Nguyễn Quang Hội
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status