TIỂU LUẬN: Thực hiện chính sách giáo dục - Đào tạo
ở Hải Phòng hiện nay - thực trạng và
giải pháp
tất cả các quốc gia, với từng con người. GD-ĐT phải đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực có
chất lượng cao cho xã hội.
Sau hơn 20 năm, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn. Việt Nam đang bước vào thời kỳ
phát triển mạnh với vị thế về diện mạo mới. Kinh tế liên tục phát triển đạt tốc độ tăng
trưởng cao. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Việt Nam đang
tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Mặc dù có những thành tựu, nền kinh tế
nước ta vẫn là nền kinh tế có mức thu nhập thấp. Các chỉ số về kết cấu hạ tầng, phát triển
con người vẫn ở mức thấp so với nhiều nước khu vực và trên thế giới. Thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa đồng bộ. Trong giai đoạn
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng
trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất
nước. GD-ĐT càng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đảng ta đã xác định: “Giáo dục - đào tạo là quốc sách”, tư tưởng, quan điểm của Đảng được thể chế hoá, hoạch định thông qua các
chính sách của Nhà nước, của ngành GD-ĐT. Thực trạng sự nghiệp GD-ĐT và công tác
xây dựng chiến lược GD-ĐT của nước ta đang đứng trước những thuận lợi và khó khăn,
bất cập trong việc hoạch định thực hiện các chính sách. Tháo gỡ và đổi mới GD-ĐT như
mục tiêu đặt ra phải quan tâm đến xây dựng hệ thống chính sách.
Thời kỳ trước đổi mới, Hải Phòng đã có đóng góp nhiều thành tựu cho đất nước về
kinh tế - xã hội. Từ đổi mới đến nay, Đảng bộ và chính quyền thành phố đã năng động,
sáng tạo thực hiện các Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước và có các chính
sách để xây dựng, phát triển thành phố “đô thị loại một cấp quốc gia”. Trong đó có các
chính sách về GD-ĐT đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố.
Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã xác định: “Đổi mới
mạnh mẽ, phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tăng cường đầu tư phát triển GD-ĐT theo quan điểm “là quốc sách hàng đầu” để tiếp tục
thực hiện toàn diện các mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
sách công; các công cụ nghiên cứu chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu
chính sách công.
- Chu Văn Thành (Chủ biên, 2004) Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công, một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp các
bài viết về dịch vụ công, trong đó có giáo dục với tư cách là những dịch vụ công chủ yếu
mà Nhà nước có nghĩa vụ cung cấp. Trong cuốn sách này, vấn đề nghiên cứu được đề cập
đến dưới góc độ vĩ mô, mang tầm quốc gia, đó là việc hoạch định và thực thi chính sách
giáo dục dưới góc độ chung.
- Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên, 2006), Giáo trình hoạch định và phân tích chính
sách công, Nxb Giáo dục. Cuốn sách đã đề cập đến chính sách công dưới góc độ chung
nhất, bao gồm các vấn đề như: nhận thức về chính sách công; hoạch định chính sách
công; tổ chức thực thi chính sách công; phân tích chính sách công.
2.2. Tiếp cận dưới góc độ chính sách giáo dục, tổng kết kinh nghiệm thực hiện
chính sách giáo dục- đào tạo
- Tiếp cận với góc độ này trong những năm gần đây, phải kể đến một số công
trình tiêu biểu: Phạm Tất Dong (1993), Giáo dục - đào tạo - nền tảng của chiến lược con người, Tạp chí Cộng sản (3). Phạm Văn Đồng (1999), Về giáo dục - đào tạo, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội. Trung tâm thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Toàn cảnh
giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Đình Hoà (2001), Mối quan
hệ giữa giáo dục, đào tạo và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Triết học (9). Phạm
Minh Hạc (2002), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Phạm Minh Hạc (2003),Về giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Thị
ái Lâm (2003), Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm
Đông á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Đặng Bá Lãm (2003), Giáo dục Việt Nam những
thập niên đầu thế kỷ XXI: chiến lược phát triển, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Lê Văn Giạng
(2003), Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Nguyễn Hữu Châu (2007), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
Các tác giả của các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận
về chính sách công, dịch vụ công, chính sách GD-ĐT trên nhiều phương diện khác nhau.
Những công trình này đã phân tích vai trò của GD-ĐT trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội; làm rõ mối quan hệ giữa phát triển GD-ĐT với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
trong thời kỳ đổi mới.
Một số công trình đã phân tích, đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong
quá trình phát triển GD-ĐT, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế khi tiến hành phát
triển GD-ĐT trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Một số tác giả đã đưa ra những dự báo về xu thế phát triển GD-ĐT ở nước ta
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; đưa ra những kiến
nghị về nâng cao chất lượng GD-ĐT Tuy nhiên, vẫn chưa có các công trình nghiên
cứu quá trình thực hiện chính sách GD-ĐT trên thực tế, đặc biệt việc thực hiện chính
sách đó ở một địa phương nhất định. Do đó, nghiên cứu về thực hiện chính sách GD -
ĐT ở Hải Phòng dưới góc độ chính trị học thì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở
nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
- Nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện chính sách GD-ĐT ở Hải Phòng trong giai đoạn 2000-2009.
- Đưa ra một số giải pháp về việc thực hiện hiệu quả chính sách GD-ĐT ở Hải
Phòng đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu việc thực hiện chính sách GD-ĐT từ góc độ lý luận.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách GD-ĐT ở Hải Phòng trong giai đoạn từ
năm 2000 đến 2009.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả chính sách GD-ĐT ở Hải
Phòng giai đoạn 2010-2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
quan tâm vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
3 chương, 6 tiết.
Chương 1
Một Số Vấn Đề Lý Luận
Về Thực Hiện Chính Sách Giáo Dục - Đào Tạo
1.1. CƠ Sở Lý Luận Về Chính Sách CÔNG Và Thực Hiện Chính Sách Giáo
Dục - Đào Tạo
1.1.1. Cơ sở lý luận về chính sách công
Khoa học về chính sách công được nghiên cứu ở phương Tây từ những năm 1940
của thế kỷ XX. Nhưng phải đến những năm 1980, chính sách công mới phát triển nhanh
chóng và được coi như một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt với các lý thuyết và các cách
tiếp cận của mình. ở Việt Nam, chính sách công mới được nghiên cứu vào những năm
cuối của thập niên 1990 và những năm đầu của thế kỷ XXI.
Định nghĩa về chính sách công là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận
trong nghiên cứu khoa học - thực tiễn của khoa học khoa học xã hội, được tập trung ở hai
nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm định nghĩa chính sách công với tư cách như là sản phẩm có mục đích của
nhà nước.
Thomas Dye quan niệm đặc trưng hoá chính sách công là “tất cả những gì nhà
nước lựa chọn làm hoặc không làm”. B.Guy Peters lại có một định nghĩa cụ thể hơn: “
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp,
đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân”. James Anderson đưa ra một định
nghĩa chung hơn cho khái niệm chính sách, trong đó chính sách công chỉ là một nội hàm
“chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều
(3). Quá trình hoạch định chính sách bao hàm sự trao đổi thông tin và các nguồn
lực, thảo luận, thương thuyết giữa và trong các thể chế nhà nước.
(4). Quá trình hoạch định chính sách cũng bao hàm sự tương tác với các tổ chức
bên ngoài nhà nước. Nội dung, sự khăng khít và thời gian của những tương tác này cũng
là những chủ đề quan trọng của việc nghiên cứu chính sách công.
(5). Mục đích căn bản của chính sách công là hướng tới việc làm tăng khả năng có
thể xảy ra của một hiện tượng xã hội đang khao khát. (6). Các thể chế nhà nước có quyền và trách nhiệm đối với các vấn đề công cộng
thường chính thống hoá các hoạt động của họ bằng cách tuyên bố rằng, những chính sách
của họ là vì lợi ích chung chứ không thiên vị một nhóm, một khu vực, hoặc một cá nhân
nào.
H.K.Colebatch, tác giả cuốn “Chính sách” (Policy) cho rằng, chính sách thường có
ba đặc trưng: sự chặt chẽ, tính thứ bậc và tính công cụ.
Sự chặt chẽ: là sự giả định rằng tất cả các phần nhỏ của hành động phù hợp với
nhau, chúng tạo thành bộ phận của một chỉnh thể có tổ chức, vượt hệ thống duy nhất và
chính sách liên quan đến hệ thống này được điều hành như thế nào.
Tính thứ bậc: tiến trình chính sách là những người ở trên cùng đưa ra các hướng
dẫn. Chính sách được xem là quyết định có tính cưỡng chế về những gì sẽ được làm
trong lĩnh vực cụ thể nào đó.
Tính công cụ: chính sách được hiểu là sự theo đuổi những mục đích cụ thể (những
mục tiêu chính sách).
Chính sách có ba thuộc tính: thẩm quyền, kỹ năng và trật tự. Trước hết chính sách
dựa vào thẩm quyền: quyền hành làm cho chính sách trở nên hợp pháp và các vấn đề chính
sách xuất hiện và bắt nguồn từ các nhân vật nắm quyền hành. Thứ hai, tính kỹ năng: chính
sách được xem, như một tiến trình mang quyền lực của tổ chức đặt vào một một khu vực vấn
đề cụ thể nào đó. Tri thức chính sách được chia nhỏ thành các khu vực chức năng: chính
sách giáo dục, chính sách giao thông. Tính trật tự: chính sách là một hệ thống và sự nhất
quán. Quyết định chính sách không thể tuỳ tiện hoặc thất thường [6, tr.11,12].
trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ
thể.
Chính sách công còn được hiểu là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà
nước nhằm cụ thể hoá đường lối của đảng cầm quyền tác động đến các lĩnh vực của đời
sống xã hội, nhằm đạt được mục tiêu trong mỗi thời kỳ khác nhau.
Mỗi chính sách được triển khai trên thực tế phải trải qua một chu trình với nhiều
công đoạn khác nhau. Chu trình chính sách là tất cả các công việc từ đầu đến cuối của
một chính sách, kể từ khi nảy ra ý tưởng tới việc định hình, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc
huỷ bỏ nó. Việc thực hiện chính sách công diễn ra theo một logic, trật tự và đặc biệt có tính kế thừa rất cao.
Quá trình thực hiện chính sách công chính là việc lần lượt thực hiện các bước sau:
(1) Xác lập nghị trình hành động; (2) Xây dựng chính sách hay ra quyết định chính sách;
(3) Triển khai thực hiện chính sách (4) Tổng kết, đánh giá chính sách hay phân tích tác
động của chính sách và cuối cùng là những phản hồi đối với các chính sách đang được áp
dụng, từ đó có thể dẫn tới việc xem xét lại hay chấm dứt chính sách công đó.
Như vậy, chính sách công là một chu trình khép kín. Quá trình hình thành chính
sách công trên thực tế là quá trình các chủ thể lợi ích đưa ra yêu cầu của mình và các chủ
thể chính sách căn cứ vào yêu cầu lợi ích của xã hội để điều chỉnh các mối quan hệ lợi
ích phức tạp ấy. Cụ thể các bước trong chu trình như sau:
Bước 1: Xác lập nghị trình
Xác lập nghị trình thực chất là xác định vấn đề gì cần được quan tâm, ra chính
sách. Đó là các yếu tố đầu vào của hệ thống chính sách.
Một chính sách ra đời bao giờ cũng là sản phẩm đầu ra của cả một hệ thống. ở tầm
vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị. Quá trình tạo ra được “sản phẩm đầu ra”
phải trải qua nhiều công đoạn. Trước hết, đó là phải xác định được vấn đề của chính sách.
Vấn đề của chính sách nằm ngay trong các nhu cầu chính sách (hay còn gọi là nhu cầu
chính trị). Các nhu cầu này xuất phát từ lợi ích cá nhân, các nhóm xã hội, của các đảng
chính trị, thậm chí của các quốc gia cần được đáp ứng.
thông tin để đưa ra được các chính sách bám sát vào những vấn đề của thực tiễn sinh
động, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương.
Các chính sách cũng phải đạt mục tiêu phát huy tính đoàn kết, thống nhất giữa các
dân tộc, thuyết phục được người dân tự giác trong quá trình thực hiện.
Bước 3: Triển khai thực hiện chính sách.
Các chính sách khi được thông qua đều phải được tổ chức triển khai. Giai đoạn
này bao gồm: ban hành các văn bản có tính pháp lý, quy định trách nhiệm, quyền hạn
cũng như việc thực thi các hành động và biện pháp cụ thể. Để triển khai có hiệu quả
chính sách, cần đảm bảo ba điều kiện tối thiểu:
- Cơ quan được giao nhiệm vụ các nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực
- Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền kỹ thuật chuyên môn để biến các mục tiêu thành các chương trình hành động cụ thể thích hợp.
- Cơ quan này cũng phải chịu trách nhiệm về các hoạt động triển khai nó.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả tập trung vào vấn đề triển khai thực hiện chính
sách, cụ thể là việc thực hiện chính sách GD-ĐT ở thành phố Hải Phòng trong giai đoạn
2000-2009.
Bước 4: Tổng kết đánh giá chính sách
Khâu quản lý chính sách có đạt được những mục tiêu đặt ra hay không phải được
thể hiện trong công đoạn tổng kết, đánh giá. Vì vậy, tổng kết để đánh giá quá trình triển
khai, hiệu quả triển khai và các tác động thực tế của chính sách. Việc đánh giá chính sách
được thực hiện trên một số khía cạnh như: đánh giá chính trị, đánh giá kỹ thuật, đánh giá
toàn diện, phân tích chi phí lợi nhuận, phân tích từ góc độ thông tin, những hạn chế của
chính sách, những kinh nghiệm được rút ra để phục vụ cho việc đề xuất, soạn thảo những
chính sách mới phù hợp hơn.
1.1.2. Thực hiện chính sách giáo dục - đào tạo
Thực hiện chính sách GD-ĐT là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách
công. Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau, xuất phát từ tầm quan trọng
của GD-ĐT, chính sách GD-ĐT là một trong những chính sách quan trọng. Chính sách
gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó
quyết định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo
một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Tuỳ theo tính chất
chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn
và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội
dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học,
kĩ thuật và văn hoá của đất nước. Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các
khái niệm đào tạo. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu,
đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa [57].
Đào tạo là một dạng đặc thù của giáo dục nên quá trình đào tạo cũng tuân theo
những quy luật chung của giáo dục. Song, do những đặc điểm riêng của đào tạo (mục
tiêu, đối tượng, phương pháp) nên trong thực tế giáo dục người ta thường tách riêng giáo
dục, đào tạo.
Qua những nghiên cứu, phân tích khái niệm chính sách công; giáo dục và đào tạo
ở trên, tác giả luận văn cho rằng: Chính sách GD-ĐT là hệ thống những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; các Bộ, ngành trung ương và chính quyền địa
phương về hoạt động GD-ĐT nhằm phát triển và hoàn thiện công tác GD- ĐT với mục
đích “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Từ quan niệm về chính sách GD-ĐT như trên, theo tác giả, thực hiện chính sách
GD-ĐT là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các
hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hoá các chính sách GĐ-ĐT
đã đề ra.
ở Việt Nam, chính sách quốc gia (trong đó có chính sách về GD-ĐT) trong giai
đoạn hiện nay có thể được biểu diễn qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Bộ máy chính sách của Nhà nước Việt Nam
Ch
ủ tịch UBND tỉnh
UBND tỉnh
B
ộ và c
ơ quan ngang b
ộ
S
ở
T
ổng bí th
ư
Bộ chính trị
VP Trung ương
Các ban c
ủa
Đ
ảng
Bí thư t
ỉnh ủy
Tỉnh ủy
Các ban
Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học, Tập bài giảng
Chính trị học, Hệ cử nhân chính trị, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Sơ đồ này chia theo hai trục: trục Nhà nước - Đảng, và trục Trung ương - địa
phương. Sơ đồ này chưa thể hiện được hết các đặc điểm của bộ máy chính sách nước ta,
tuy nhiên nó mô tả được hai đặc điểm quan trọng nhất của bộ máy, đó là: cơ chế song
trùng trực thuộc và sự phân định chức năng quản lý - lãnh đạo. Sơ đồ này cũng thể hiện
được nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong công cuộc đổi mới của nước ta - đó là đảm
bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị.
Cho đến nay, quan hệ giữa các cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) cũng như giữa
các cơ quan Đảng và Nhà nước vẫn rất phức tạp và chồng chéo. Vai trò và sự phân công,
phân quyền giữa các ngành lập pháp, tư pháp và hành pháp vẫn chưa rõ ràng. Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp vẫn chưa đủ năng lực và cơ sở vật chất để hoàn thành trách
nhiệm ngày càng cao. Các đổi mới về chức năng như vậy đòi hỏi phải thay đổi tổ chức và
thiết chế tương ứng cũng như việc quản lý ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, thực tế nước ta cho thấy sự cần thiết phải xây dựng quá trình ra chính
sách một cách khoa học, huy động được trí tuệ tập thể, thoả mãn được các nhu cầu,
nguyện vọng của nhân dân, khắc phục sự phiến diện và áp đặt tiềm ẩn của cơ quan ra
chính sách hiện nay. Việc huy động và tham khảo ý kiến của đông đảo cán bộ, nhân
dân, việc tuyên truyền giải thích chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi
các chính sách theo đúng như dự kiến.
Như vậy, có thể khái quát hoá sự đổi mới của bộ máy chính sách của nước ta
diễn ra trong 3 lĩnh vực chính: chức năng (sự chuyển giao theo chiều ngang Đảng -
Nhà nước, cũng như chiều dọc trung ương - địa phương), thiết chế (cải cách bộ máy
hành chính và bộ máy của Đảng), và quá trình (sự tham gia của các cơ quan tham
mưu, cán bộ đảng viên và nhân dân). Đây cũng là vấn đề mang tính cấp bách trong
hoạch định chính sách của nước ta.
1.2. Chính Sách Giáo Dục - Đào Tạo TRONG Thời Kỳ CÔNG Nghiệp Hoá,
Hiện Đại Hoá
danh khoa học, các loại hình trường lớp và các hình thức giáo dục khác; thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở và chống tái mù chữ.
- ở cấp Trung ương
Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo;
tham mưu cho Chính phủ xây dựng chính sách giáo dục theo quy định của Luật tổ chức
Chính phủ và Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT còn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác trong
việc hoạch định chính sách GD-ĐT.
- ở cấp địa phương
+ HĐND cấp tỉnh quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp GD-ĐT;
quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp, đảm bảo cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động GD-
ĐT ở địa phương.
+ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm về phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về GD-ĐT trên địa bàn tỉnh. Cụ thể, UBND tỉnh chịu
trách nhiệm trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển GD-
ĐT trên địa bàn tỉnh trình HĐND cấp tỉnh thông qua hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt.
+ Sở GD&ĐT có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về giáo dục trong phạm vi toàn tỉnh. Xây dựng và trình UBND cấp tỉnh quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển giáo dục ở địa phương; tổ chức thực hiện
sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ HĐND cấp huyện quyết định các biện pháp và điều kiện cần thiết để xây dựng
mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn theo quy hoạch chung.
UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển giáo dục
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn huyện. Xây dựng các chương trình, đề án
phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua; tổ
giảng dạy, học tập và các hoạt động khác của các cơ sở giáo dục trực thuộc.
+ Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục đối với
các cơ sở giáo dục trực thuộc; xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc theo quy định của pháp luật.
+ Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ
Nội vụ và các cơ quan có liên quan, tổng hợp chỉ tiêu đào tạo và bồi dưỡng hàng năm và
đưa kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
chịu trách nhiệm về tính hợp lý, sự đáp ứng nhu cầu thực tiễn và cân đối về cơ cấu nguồn
nhân lực được đào tạo.
+ Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng dự toán, phân bố,
tổ chức thực hiện ngân sách nhà nước; xây dựng các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định
mức về tài chính - ngân sách; bảo đảm tài chính và thực hiện thanh tra, kiểm tra tài chính
- ngân sách đối với lĩnh vực GD-ĐT theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước và các
văn bản pháp luật có liên quan.
+ Phối hợp với Bộ Nội vụ thực hiện những quy định về quản lý biên chế ngành
GD-ĐT quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 11 của Nghị định số 71/2003/NĐ-CP ngày 19
tháng 6 năm 2003 của Chính phủ và thực hiện quản lý viên chức sự nghiệp giáo dục và
đào tạo theo quy định tại Điều 46, Điều 47, Điều 49 của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP
ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán
bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước.
- ở cấp địa phương
+ HĐND cấp tỉnh giám sát việc thực hiện chính sách giáo dục trong phạm vi tỉnh,
đảm bảo cho công tác GD-ĐT phát triển đúng quy hoạch, kế hoạch và định hướng của
địa phương.
+ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm về phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về GD-ĐT trên địa bàn tỉnh và có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
(1). Thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển GD-ĐT trên
nghiệp GD-ĐT của tỉnh hàng năm trên cơ sở định mức biên chế do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành. Quyết định phân bổ chỉ tiêu biên chế hành chính của Sở GD&ĐT.
+ Trách nhiệm của Sở GD&ĐT.
Sở GD&ĐT có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về giáo dục trong phạm vi toàn tỉnh: (1). Thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển GD-ĐT ở địa
phương; tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(2). Chịu trách nhiệm quản lý các trường trực thuộc: trung tâm giáo dục thường
xuyên, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục cấp
tỉnh, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trường, lớp dành cho người tàn tật,
trường, cơ sở thực hành sư phạm.
(3). Giúp UBND cấp tỉnh quản lý công tác chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức, biên
chế nhân sự, tài chính, tài sản và các hoạt động giáo dục khác của các cơ sở giáo dục theo
quy định của pháp luật.
(4). Trình UBND cấp tỉnh cấp phép hoạt động của các tổ chức dịch vụ du học tự
túc trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra hoạt
động của tổ chức này theo quy định của pháp luật và phân công của Chủ tịch UBND cấp
tỉnh.
(5). Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện về chuyên môn, nghiệp vụ đối với
Phòng GD&ĐT và các cơ sở giáo dục trực thuộc các Sở, ngành khác.
(6). Chỉ đạo, kiểm tra các đơn vị sự nghiệp giáo dục trực thuộc lập kế hoạch biên
chế; tổng hợp và lập kế hoạch biên chế sự nghiệp giáo dục toàn tỉnh theo hướng dẫn của
cơ quan có thẩm quyền quản lý việc này.
(7). Tổ chức lập dự toán ngân sách giáo dục hàng năm của tỉnh gửi Sở Tài chính,
Sở kế hoạch và Đầu tư, lập dự toán chi các chương trình mục tiêu quốc gia theo quy định
của pháp luật. Sau khi được UBND cấp tỉnh giao dự toán ngân sách, phối hợp với Sở Tài
chính phân bổ và giao dự toán chi ngân sách, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện.
(8). Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và UBND cấp huyện thực hiện xoá mù
dân tộc bán trú, trường bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục huyện theo quy định của pháp
luật. Hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở giáo dục đào tạo công lập thuộc phạm vi quản lý của
huyện, xây dựng kế hoạch biên chế sự nghiệp hàng năm để UBND cấp huyện trình cấp
có thẩm quyền quyết định. Chủ trì, phối hợp với các phòng và UBND cấp xã thực hiện
phổ cập giáo dục trên địa bàn huyện. Hướng dẫn, chỉ đạo phong trào thi đua của ngành,
xây dựng và nhân điển hình tiên tiến về giáo dục trên địa bàn huyện. Quản lý, chỉ đạo
việc xây dựng, bảo quản, sử dụng tài sản và cơ sở vật chất trường học; việc phát hành