LUẬN VĂN: Bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Bình đẳng giới trong lao động và
việc làm ở nông thôn tỉnh
Bình Phước hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi
hàng nhiều thế kỷ. Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S.
Phuriê đã nhận định: trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội.
Luận điểm này tiếp tục được khẳng định trong học thuyết Mác – Lênin ngay từ khi nó ra
đời và được phát triển ở trình độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo. Những quan điểm

nông nghiệp, nông thôn đã tạo ra những thuận lợi, mở ra những cơ hội cho sự phát triển của
lực lượng lao động nói chung, lao động nữ nói riêng, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn,
thách thức và yêu cầu mới đối với lực lượng này, làm cho khoảng cách bất bình đẳng giới
trong lao động và việc làm nông thôn có xu hướng gia tăng nhanh hơn so với ở thành thị. Do
vậy, thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói chung, ở nông thôn nói riêng
nhằm tạo điều kiện để phụ nữ được hưởng các quyền cơ bản của mình, tham gia và hưởng
thụ một cách bình đẳng và đầy đủ trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội đang trở thành mục tiêu được quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước hiện
nay.
Bình Phước là một tỉnh miền núi, thuộc một trong 6 tỉnh của khu vực Đông Nam bộ. Đến
nay, Bình Phước vẫn là một tỉnh nông nghiệp với cơ cấu kinh tế năm 2008: nông nghiệp 53,17%,
công nghiệp 21,14%, dịch vụ 25,69% . Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới đã tạo
cho nông thôn Bình Phước có bước khởi sắc. Cũng như nam giới, phụ nữ ở Bình Phước có nhiều
cơ hội tham gia xây dựng kinh tế làm giàu cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên, lao động nữ ở
nông thôn tỉnh Bình Phước đang phải đối đầu với những thách thức mới, đó là lực lượng lao động
nữ nông thôn của tỉnh tăng lên không ngừng và luôn nhiều hơn lao động nam, trong khi việc làm
dành cho lao động nữ ở nông thôn của tỉnh lại hạn chế, khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường
lao động yếu hơn nam giới. Thực tế cho thấy, vấn đề bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới
trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay vẫn còn là vấn đề cần quan tâm
giải quyết. Từ những lý do nêu trên, với cương vị là một cán bộ công tác tại Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh Bình Phước, học viên mạnh dạn lựa chọn đề tài Bình đẳng giới trong lao động và
việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay làm luận văn tốt nghiệp hệ cao học,
nhằm góp phần đề xuất một số giải pháp tăng cường bình đẳng giới trong lao động và việc
làm cho khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan

hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình đẳng giới trong gia
đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt. Nếu trước đây người mang lại thu nhập
chính cho gia đình đồng thời cũng là người có uy quyền tối cao khi đưa ra các quyết định
lớn trong gia đình là người đàn ông trong gia đình, thì ngày nay vị thế của người phụ nữ
được khẳng định hơn đối với các vấn đề này.
- TS Hoàng Bá Thịnh (2002) “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công
nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong đó tác giả
đã phân tích những đóng góp quan trọng của phụ nữ nông thôn đối với sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn, qua đó kiến nghị một số giải pháp chủ yếu về phát triển chuyên môn -
kỹ thuật và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ nông thôn.
- TS Trần Thị Thu (2003) Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại Hà Nội), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Cuốn
sách đã chỉ ra, trong thời kỳ đổi mới đất nước đã và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm
cho lao động nữ trong các khu vực kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú,
nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao
động nữ.
- Vũ Tuấn Huy (2004) “Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm từ nghiên
cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương). Công trình nghiên cứu này đã phân tích về sự biến
đổi gia đình ngày nay, cuốn sách cũng nhấn mạnh “Sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội,
các yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ, di cư, sự biến đổi của định hướng giá trị đã tác
động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ, phân công lao động trong gia
đình, số con và khoảng cách sinh con…”. - PGS,TS Phan Thanh Khôi, PGS,TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2007) “Những vấn
đề giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình nghiên cứu
này đã đi sâu phân tích về vấn đề giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các xã hội có
tình trạng đối kháng giai cấp, áp bức, bất công. Các tác giả còn đi sâu phân tích quan
điểm giới, bình đẳng giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước…

số giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở lĩnh vực này trong thời gian tới.
Nhiệm vụ
- Phân tích cơ sở lý luận của vấn đề bình đẳng giới trong lao động và việc làm.
- Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng giới
trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
- Nêu lên những định hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần
thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm ở Bình Phước trong thời gian
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới trong lao
động và việc làm, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia lao động của phụ nữ và nam giới
ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
Phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện bình đẳng giới trong
lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước từ khi tách tỉnh (1997) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề bình đẳng giới và
mối quan hệ giữa bình đẳng giới với lao động và việc làm nói riêng và sự phát triển của
xã hội nói chung.
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp kết hợp
logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, điều tra xã hội học - so sánh.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn - Trên cơ sở khái quát về giới, bình đẳng giới, lao động, việc làm và vai trò của
bình đẳng giới trong lao động và việc làm, luận văn góp phần làm rõ tầm quan trọng của
bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
- Từ việc khảo sát, đánh giá đúng thực trạng bình đẳng giới trong lao động và việc
làm ở nông thôn cấp tỉnh, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, luận văn đề xuất một số
định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thúc đẩy bình đẳng giới trong thời

ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như:
phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Về mặt sinh học, nam và nữ
không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và
chức năng sinh sản.
Giới tính có đặc trưng cơ bản như: Tính bẩm sinh: Về phương diện sinh lý (hoóc
môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục…) nam giới và nữ giới đã khác nhau ngay từ trong
bào thai, được quy định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn
của con người. Nó ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản. Chức
năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch
cho nhau. Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có cấu tạo về mặt
sinh lý học giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh sản
như nhau. Tính không đổi và không thay đổi: Về phương diện sinh lý, chức năng sinh sản
của nữ giới hay nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau được. Sự khác
biệt về giới tính hầu như bất biến cả về thời gian cũng như về không gian. Ngoài những khác biệt sinh học như đã nêu, giữa phụ nữ và nam giới còn khác nhau ở nhiều đặc điểm
về mặt xã hội, và những khác biệt này dùng để phân biệt giới.
Khái niệm Giới
Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam
và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội
quan niệm hay quy định cho nam và nữ.
Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động,
phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ
trong xã hội. Theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì
phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ
chồng… Còn nam giới có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công
việc xã hội. Khi sinh ra con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần tiếp
thu và chấp nhận từ nền nếp gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa.
Như vậy, khi nói giới tính là nói đặc điểm của con người do tự nhiên quy định. Nó

quán… Đến lúc này, giới tính được nhìn nhận và giải thích theo quan niệm thiên lệch của
nam giới. Thực nghiệm khoa học và thực tế xã hội đã chứng minh đầy thuyết phục rằng khả
năng tư duy logic của nữ không kém nam, mặt khác, khả năng chăm sóc, nuôi dạy con của
nam cũng không khác nữ nhiều. Tuy nhiên từ trước đến nay, trong xã hội gần như tuyệt đối
hóa sự phân công, nam thì lao động trí óc, làm công việc khoa học, phụ nữ thì nuôi con và
làm mọi công việc nhà. Sự phân công đó in sâu vào quan niệm của mọi người, cả nam và nữ.
Nhiều thế hệ được giáo dục theo tinh thần chấp nhận, tuân thủ sự phân công đó từ trong gia
đình, nhà trường và xã hội.
Trong xã hội, người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác
biệt về giới. Các quan niệm rập khuôn, những thói quen đã làm những điều mà xã hội
chấp nhận thường được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực đánh giá phẩm chất của
mỗi giới. Những tác động này làm duy trì và tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa nam
giới và nữ giới trong xã hội.
Qua đó cho thấy, giới có đặc trưng là do dạy và học mà có: Đứa trẻ được dạy dỗ
để trở thành nữ giới hay nam giới theo khuôn mẫu của xã hội. Bắt đầu từ khi sinh ra, đứa
trẻ đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo nó là trai hay là gái. Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu sắc, cách nói năng, thái độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha mẹ,
anh chị. Con trai không được khóc, phải tỏ ra mạnh mẽ, dũng cảm, không chơi búp bê,
con gái không được cáu kỉnh, không nên nói to, phải dịu dàng, giúp mẹ cơm nước, nội
trợ. Giới còn có đặc trưng có thể thay đổi được. Mặc dù rất khó khăn và lâu dài, nhưng
các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có thể thay đổi được. Quan niệm
“bếp núc” là “thiên chức” của nữ giới đang được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi,
các thợ giặt tinh xảo là nam giới. Trong nhiều gia đình hạt nhân, khi cả vợ và chồng cùng
phải tham gia tích cực vào quá trình sản xuất nhằm tăng thu nhập thì nam giới cũng đang
tham gia một cách tích cực vào các công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc con
cái…Thậm chí trong một số gia đình, khi người vợ tham gia công việc quản lý, điều hành
xã hội, tham gia vào các công việc sản xuất nhiều hơn người chồng thì người chồng đã
thay vai trò của người vợ trong các công việc gia đình. Bởi vậy, để thay đổi quan hệ giới

chỉ thấy có một phía là không bình đẳng nghiêng về nữ, chắc sẽ dẫn đến hệ quả ngược lại
với mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới và cách giải quyết
sẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gì phụ nữ có và phải làm thì
đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ
để chỉ chia nhau cơ hội, lợi ích, trách nhiệm…
Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay còn cần phải gắn với quan điểm
phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Nó đòi hỏi một sự chuyển biến
đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với nam giới trong
hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và hành vi cụ thể trong mối
quan hệ với phái nữ. Để có thể đáp ứng được yêu cầu trên, cần đảm bảo hai yếu tố: Thứ
nhất. Đó là sự tôn trọng giá trị nhân phẩm (quyền con người toàn diện) cũng như giá trị
lao động của lao động nam cũng như lao động nữ trong những đóng góp của họ đối với
xã hội và gia đình. Thứ hai. Là cả lao động nữ lẫn lao động nam đều có trách nhiệm, chia
sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình và công việc chung của xã hội.
Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữ
được bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực kinh
tế, lao động và việc làm giữ vai trò cốt yếu nhất. Khái niệm Lao động
Lao động là một phạm trù kinh tế, một mặt, lao động là quá trình tác động giữa
con người với tự nhiên, trong quá trình đó, con người cải biến những vật tự nhiên làm
cho nó thích ứng với nhu cầu của mình; mặt khác, lao động luôn luôn được tiến hành
trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan hệ nhất định giữa người với người trong quá
trình tác động vào tự nhiên.
C.Mác chỉ ra: Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc
vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự
trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người. Con
người phải vận dụng sức lực tiềm tàng trong cơ thể mình, sử dụng công cụ lao động để
tác động vào tự nhiên một cách có mục đích, ý thức nhằm biến đổi những vật thể của tự

đầy đủ các nhu cầu của con người, thì lao động vẫn còn là phương tiện sinh sống của con
người.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là phương tiện
để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
mỗi thành viên và xã hội loài người. Do vậy, ở các quốc gia cũng như ở nước ta, vấn đề
lao động luôn luôn được coi trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Sau khi lãnh đạo nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền
về tay nhân dân Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Từ
sau khi giành chính quyền đến nay, Nhà nước đã nhiều lần thông qua Hiến pháp, đầu tiên
là Hiến pháp 1946, sau đó là các Hiến pháp sửa đổi, bổ sung vào các năm 1959, 1980,
1992. Trong tất cả các Hiến pháp nói trên đều quy định lao động là quyền và nghĩa vụ
của công dân.
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã hội loài
người. Từ xa xưa con người đã biết làm lụng, tìm kiếm thế giới xung quanh những sản
phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình. Khi xã hội phát triển, những hoạt động lao
động sản xuất nói chung ấy, được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và
người lao động được làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình. Mỗi
người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội. Từ đó cho thấy lao động có sự liên quan chặt
với vấn đề việc làm
Khái niệm Việc làm
Theo C.Mác vấn đề việc làm trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa có liên quan chặt
chẽ với lao động. Xét về mặt xã hội, việc làm thể hiện mối quan hệ giữa người với người
trong những giới hạn cần thiết mà trong đó quá trình lao động đang diễn ra, đồng thời nó
cũng là điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu cầu xã hội về lao động. Xét về mặt kinh tế,
việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con
người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.
Vấn đề việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đó là công việc của mỗi cá

Vấn đề việc làm luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm giải quyết, tạo
điều kiện để người lao động có việc làm, tăng thu nhập, thể hiện trong các văn bản pháp
lý như:
Điều 58, Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nước dựa vào phát triển kinh tế và văn
hóa mà tạo thêm việc làm, bố trí công tác căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và
nhu cầu xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải
thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI xác định: “Nhà nước cố gắng tạo thêm việc
làm và có chính sách để người lao động tự tạo việc làm bằng cách khuyến khích phát
triển kinh tế gia đình, khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác, kể cả
thành phần kinh tế tư bản tư nhân” [5, tr.88].
Đảng, Nhà nước đã xác định tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm và
thấy rõ mối quan hệ giữa các vấn đề giải quyết việc làm với phát huy nhân tố con người.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định: “giải quyết việc làm là yếu tố quyết
định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội,
đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [7, tr.210].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã đề ra các nhiệm vụ chủ yếu, trong đó
khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyến khích
làm giàu hợp pháp, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh xã hội” [8, tr.187] Mặc dù Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề việc làm, giải quyết việc
làm, song hiện nay vẫn còn tồn tại tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở cả lao động
nam và lao động nữ, tình trạng đó nghiêng về phía lao động nữ nhiều hơn, qua đó cho
thấy rõ trong xã hội và gia đình đã và đang tồn tại vấn đề giới trong lao động và việc làm.
Hai khái niệm lao động và việc làm có mối quan hệ chặt chẽ và rất khó phân biệt
rạch ròi, do vậy tác giả đề tài xin không tách biệt, mà trình bày gắn kết chung về hai khái
niệm trên, nghĩa là trình bày cả cụm từ: lao động và việc làm.
Khái niệm Bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Theo Luật Bình đẳng giới (2007), bình đẳng giới trong lao động được xác định:

sau:
Về việc làm:
Một là, lao động nữ ít có cơ hội hơn trong tiếp cận với việc làm (nhất là việc làm
phù hợp) và dễ bị thất nghiệp hơn so với lao động nam. Trong rất nhiều các đơn vị, doanh
nghiệp, quy trình tuyển dụng lao động (quảng cáo, tiêu chuẩn tuyển dụng, kiểm tra tuyển
chọn, phỏng vấn…) đã công khai ẩn ý thu hẹp hoặc gạt bỏ cơ hội của lao động nữ. Phụ nữ dễ
bị thất nghiệp hơn, nhất là ở vào những thời điểm mà các quốc gia đang có biến cố như:
chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, chuyển đổi nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hai là, chỉ những hoạt động kinh tế được trả thù lao bằng tiền hoặc hiện vật thông
qua trả lương, trả công…mới được nhìn nhận là việc làm. Ngoài ra, nhiều hoạt động khác
thuộc vai trò tái sản xuất ra con người không được coi là việc làm, như nội trợ, nuôi con,
chăm sóc người già, ốm.
Ba là: vấn đề giới còn thể hiện cụ thể hơn ở các ngành nghề ngoài xã hội, cộng
đồng và trong gia đình mà nam và nữ tham gia. Ngoài xã hội, trong phân công lao động
thể hiện vấn đề giới rất rõ, ở chỗ tỷ lệ nam nữ trong các ngành nghề rất khác nhau, phụ
nữ thường chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động ở các ngành nghề như nông nghiệp,
thương mại buôn và bán lẻ. Nghĩa là phụ nữ làm nhiều ở các ngành nghề kỹ thuật thấp,
lao động giản đơn và ít làm quản lý hơn…do vậy, vất vả hơn và thu nhập thấp hơn so với
nam giới. Các hoạt động thuộc lĩnh vực công cộng như tham gia xây dựng đường sá, vệ
sinh và các công trình cộng đồng nói chung nam và nữ đều tham gia, nhưng nam thường ở vị trí quyết định, làm công việc gián tiếp. Riêng các công việc trong gia đình không
được trả công như nấu ăn, chăm sóc con cái, mua bán…khoảng cách giới rất lớn [45,
tr.51].
Khoảng cách giới còn khá lớn, thể hiện ở thời gian làm việc giữa nam và nữ. Phần
lớn trong số lao động làm việc trên 50 giờ một tuần là phụ nữ. Ở mọi lứa tuổi, phụ nữ
phải làm việc nhà nhiều hơn nam giới. Ở lứa tuổi từ 25 đến 55, một năm người phụ nữ
phải làm đến khoảng 700 giờ việc nhà, thì người nam giới chỉ khoảng 300 giờ [50].
Nhìn chung, phụ nữ làm nhiều việc hơn, thời gian nhiều hơn, vất vả hơn và thu

bón, thông tin và tín dụng hơn các doanh nghiệp do nam giới điều hành [35,
tr.10]
Việc tiếp cận đã bất bình đẳng giới thì việc kiểm soát (quản lý, chi phối…) lại
càng có khoảng cách giới nhiều hơn. Điều này là do lao động nữ hạn chế về chuyên môn,
nhất là chiếm tỷ lệ thấp trong quản lý, lãnh đạo xã hội…do vậy, ít có cơ hội quản lý, chi
phối các yếu tố, các khâu hoạt kinh tế, hoạt động lao động tạo thu nhập và có thu nhập
cao: chủ gia đình, giám đốc doanh nghiệp, thủ trưởng cơ quan kinh tế và tổ chức sản xuất
kinh doanh.
Ở Việt Nam, trong điều kiện của nền kinh tế nhiều thành phần, định kiến giới vẫn
còn…thì bất bình đẳng nam, nữ về tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong lĩnh vực nói
chung, trong lao động và việc làm còn tồn tại ở những dạng nhất định như:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai trong gia đình trước khi có Luật Đất đai
sửa đổi 2003, chủ yếu chỉ ghi tên chồng, kể cả hiện nay, khi Luật Đất đai sửa đổi đã quy
định lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai mang tên cả hai người thì phần lớn vẫn
do nam giới đứng tên. Theo số liệu thống kê về giới của Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ
của phụ nữ Việt Nam thì: trung bình đất đai canh tác do phụ nữ quản lý chỉ bằng khoảng
một nửa đất canh tác do nam giới quản lý. Điều này gây khó khăn cho việc vay vốn, thiếu
chủ động về vốn của lao động nữ khi đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trong nông nghiệp, việc tiếp cận các hình thức chuyển giao khoa học, kỹ thuật
phục vụ sản xuất, chăn nuôi (tập huấn, hội thảo, mô hình, tham quan…) phần lớn là nam
giới. Qua công cụ phân tích giới tiếp cận và kiểm soát “càng nhận thấy tình trạng bất hợp lý
và bất bình đẳng giữa nam và nữ, vì phần lớn phụ nữ nước ta ở nông thôn và làm nông nghiệp (75%)” [45, tr.58]. Do vậy, sự hiểu biết về kiến thức khoa học, kỹ thuật canh tác
chăn nuôi của lao động nữ thấp hơn lao động nam, nên lao động nữ thường làm những
công việc giản đơn, năng suất lao động thường không cao, thu nhập thấp.
Về điều kiện và môi trường làm việc
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã có lồng ghép giới trong nghiên cứu, giải
quyết các vấn đề liên quan đến điều kiện và môi trường làm việc của người lao động, nếu có

lực, môi trường lao động. Lợi ích kinh tế thỏa đáng, công bằng giữa nam và nữ là động
lực mạnh mẽ trong lao động.
Trên thế giới, ở mọi quốc gia, nghiên cứu, bàn về lợi ích kinh tế là chủ đề hàng
ngày, nổi bật. Lợi ích kinh tế chủ yếu của người lao động thể hiện rất cụ thể: lương, tiền
công, tiền thưởng vật thưởng, tiếp cận phúc lợi xã hội…Bình đẳng giới về lợi ích kinh tế
là trả công, trả lương…bằng nhau cho nam và nữ ở những công việc có giá trị như nhau.
Ở Việt Nam, từ khi đổi mới đến nay, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn của các nguồn lực
khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội là cơ sở và điều kiện thuận lợi
để bình đẳng giới hơn về lợi ích kinh tế. Bộ luật Lao động, điều 111 ghi rõ “Người sử
dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng
bậc lương và trả công lao động”.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, người lao động cả nam và nữ có cơ hội việc
làm nhiều hơn, do vậy có quyền lựa chọn ngành nghề có thu nhập cao. Tuy vậy, nền kinh
tế nhiều thành phần, đã làm nảy sinh không ít vấn đề giới trong phân phối, đó là: Thứ
nhất, những công việc vệ tinh, những việc làm thuộc vai trò tái sản xuất mà phần lớn do
phụ nữ thực hiện, vẫn không được xã hội nhìn nhận, đánh giá đúng mức. Thứ hai, lao
động nữ thường có mức thu nhập thấp hơn lao động nam. Thứ ba, có không ít hiện tượng
người sử dụng lao động vi phạm luật Lao động về điều khoản quy định về tiền lương
(không đủ mức tiền lương tối thiểu, không đóng các loại bảo hiểm, trả lương chậm và
không đền bù, trả lương làm thêm giờ không tương xứng…), nhưng phần lớn chịu hậu
quả của sự vi phạm ấy là lao động nữ. Thứ tư, Lợi ích kinh tế thể hiện ở thu nhập, nhưng
đồng thời còn thông qua hưởng thụ. Người lao động nam, nữ trở về nhà là thành viên gia đình. Phụ nữ Việt Nam thường quản tiền nong, nhưng trước hết họ là những người vợ,
người mẹ, tiêu thì nhiều nhưng hưởng thì ít hơn chồng con.
1.1.2. Ý nghĩa của bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Thứ nhất: Vị trí quyết định của lao động và việc làm trong phát triển xã hội, phát
triển con người.

thu nhập), quan hệ xã hội, môi trường. Do đó, có việc làm, có thu nhập do việc làm đem
lại được coi là hai yếu tố quan trọng trong các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống của
con người.
Thứ hai: bình đẳng giới trong lao động và việc làm góp phần trực tiếp phát huy
lực lượng lao động nam, nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Để phát triển đất nước cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực con người trở
thành yếu tố quan trọng nhất. Nguồn lực con người bao gồm cả lao động nam và lao động
nữ, khi có bình đẳng giới sẽ phát huy được cả hai lực lượng lao động này, lao động nữ
chiếm một nữa bầu trời, nếu họ được bình đẳng với nam giới họ sẽ phát huy hết tiềm
năng, như vậy nguồn lực lao động sẽ có chất lượng hơn.
Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm, đồng nghĩa với việc giúp lao
động nữ có điều kiện, cơ hội tìm kiếm việc làm như lao động nam, từ đó giúp họ tự
khẳng định mình trong gia đình và ngoài xã hội, đồng thời cân bằng cuộc sống cho bản
thân, cho con và các thành viên trong gia đình, qua đó giúp họ có lòng tin đối với xã hội,
và cũng chính là điều kiện thực hiện quyền cơ bản nhất trong Hiến pháp, đó là quyền
được làm việc.
Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký
thì việc khắc phục và xóa bỏ dần khoảng cách giới trong lĩnh vực lao động, việc làm là
điều kiện quan trọng nhất. Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm sẽ tạo
điều kiện cho lực lượng lao động yếu thế hơn (chủ yếu là lực lượng lao động nữ) có cơ
hội tìm kiếm việc làm, góp phần phát huy được vai trò của họ trong quản lý gia đình,
nuôi dạy con cái, giảm nghèo khổ, tăng thu nhập, đảm bảo sự bình đẳng nam nữ; phát
triển thể lực, trí lực, tài năng, sáng tạo, cũng như nâng cao nhân cách, địa vị của người
lao động, trong đó có lao động nữ, đó còn là một trong những biện pháp hữu hiệu hạn chế
sự phát sinh những tệ nạn xã hội, nhức nhối nhất là tệ nạn mại dâm. Ý nghĩa sâu xa của

Trích đoạn Thực trạng thu nhập của lao động nam và nữ ở nơng thơn tỉnh Bình Phước Nguyên nhân của bất bình đẳng giới trong lao động và việc là mở nơng thơn tỉnh Bình Phước MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NƠNG THƠN TỈNH BÌNH PHƯỚC Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm gắn liền với sự nghiệp giải phĩng phụ nữ, phát huy vai trị của phụ nữ Bình Phước nĩi chung, phụ Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc là mở nơng thơn tỉnh gắn liền với chiến lược phát triển việc làm, phát triển dân số, phát triển nguồn nhân lực và
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status