LUẬN VĂN:Giáo dục đạo đức mới cho thanh niên potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Giáo dục đạo đức mới cho thanh niên

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là một lực lượng xã hội đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong sự vận
động và phát triển của xã hội. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng sự thành - bại,
thịnh - suy của mỗi dân tộc phần lớn đều phụ thuộc vào thanh niên. Chính vì vậy việc
giáo dục, đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên là một việc làm thường xuyên và cần
thiết.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo đã và đang mang lại những kết quả to lớn trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Với những thành tựu đó đã tạo điều kiện cho thanh niên học tập, giao
lưu với các nước, đặc biệt là các nước có nền khoa học - công nghệ tiên tiến. Từ đó giúp
cho thanh niên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu, có cơ hội tiếp thu những tinh

đức mới nói chung, cho thanh niên nói riêng đã được Đảng ta và nhiều nhà khoa học
bàn đến. Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) Đảng ta đã đề cập đến vấn đề kế thừa giá
trị văn hoá truyền thống dân tộc để xây dựng nền văn hoá Việt Nam với nội dung “dân
tộc - khoa học - đại chúng”; Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1980)
của Giáo sư Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội,); Về giá trị tinh thần truyền thống
(1993) Nxb thông tin lý luận, Hà Nội; Văn hoá dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước
ta hiện nay. (Khoa Văn hoá Xã hội chủ nghĩa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ chí Minh,
Nxb CTQG, Hà Nội năm 1995; “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá
trị” chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX 07 - 04, Hà Nội năm 1995;
“Quan hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của
Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Triết học, số 6,1996); Nghị quyết Trung ương 5 Ban chấp
hành trung ương khoá VIII (1998) với nội dung: “Xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”; “Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức
sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của tác giả Nguyễn Văn Huyên
(Tạp chí Triết học, số 4, 1998); “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục,
rèn luyện trong nền kinh tế thị trường” của Hoàng Trung (Tạp chí Triết học 5, 1998)…
Một số chuyên khảo tiêu biểu đi sâu nghiên cứu nhằm xác định các giá trị đạo
đức truyền thống làm cơ sở cho việc xây dựng đời sống văn hoá đặc biệt là đời sống văn hoá và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: “Giáo dục đạo đức với sự hình thành
và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Sĩ Phán
(luận án Tiến sĩ, 1999); “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới
cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Quế (luận văn thạc sĩ, 2000);
“Giá trị đạo đức và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội”của Mai Xuân Lợi, (tạp chí
Triết học số 3, 2001); “Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam
hiện nay”của Doãn Thị Chín (luận văn thạc sĩ, 2004); “Đạo đức mới - đạo đức cách
mạng từ các cách tiếp cận khác nhau” của Trịnh Duy Huy (tạp chí triết học số 1,2006);
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về thế hệ trẻ và giáo dục thế hệ trẻ” của Thái Thanh Thuỷ
(thông tin công tác Trường chính trị, số 1, 2006); “Toàn cầu hoá “nguy cơ tha hoá” và

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn tập trung:
- Làm rõ vai trò của giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức
mới cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng việc phát huy những giá trị đạo đức truyền thống trong
việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay và những
vấn đề đang đặt ra.
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy các giá trị
đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên Bạc Liêu hiện
nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đạo đức của thanh niên và việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh
niên Bạc Liêu hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm cả mặt tích cực và hạn chế,
trong luận văn này tác giả tập trung nhiều hơn đến mặt tích cực cần được kế thừa và
phát huy trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên Bạc Liêu hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn Luận văn này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về đạo đức và đạo đức
thanh niên, đồng thời kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên
cứu khoa học có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp giữa phương pháp lịch sử và logic, phân tích
và tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, thống kê để
thực hiện mục đích mà đề tài nghiên cứu.

học… Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau, khái niệm về giá trị có thể mang những
nội dung khác nhau.
Ngay từ thời cổ đại, gắn liền với triết học, con người đã có những hiểu biết ban
đầu sơ khai về “giá trị”, “giá trị học”. Mãi đến cuối thế kỷ XIX giá trị học mới tách
riêng thành một lĩnh vực khoa học độc lập và từ đó thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ
một khái niệm khoa học.
Trong lĩnh vực kinh tế học, phạm trù giá trị gắn liền giá trị hàng hoá, giá cả và
sản xuất hàng hoá và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của người làm ra hàng
hoá. Theo quan điểm kinh tế, giá trị kinh tế là sức mạnh của sản phẩm này khống chế
những sản phẩm khác thông qua trao đổi, giá trị của một vật phẩm thể hiện ở tính có ích
của nó, nghĩa là vật phẩm đó có khả năng đáp ứng thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người. Do vậy trong phân tích kinh tế thì giá trị là vị trí tương đối của hàng hoá trong
trật tự ưu tiên, vị trí của nó càng cao thì giá trị của nó càng lớn .
Trong lĩnh vực triết học, khi đề cập đến phạm trù giá trị có nhiều quan điểm khác
nhau. Những người theo chủ nghĩa tiên nghiệm (duy tâm khách quan) như Kant, M.SheLer, N.Gartman … coi giá trị là sự tồn tại của những bản chất tiên nghiệm, những
chuẩn mực lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật không phụ thuôc vào nhu cầu và ham muốn
của con người. Trái lại, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượng của ý thức,
là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà người đó đang
đánh giá. Những người theo thuyết tự nhiên chủ nghĩa lại coi giá trị là biểu hiện những
nhu cầu tự nhiên của con người, từ đó làm nảy sinh các quan điểm xã hội, kinh tế và
thực dụng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính nhận
thức được và tính thực tiễn của giá trị và coi giá trị xã hội là những hiện tượng xã hội
đặc thù, giá trị không phải là những cái tiên nghiệm, thần bí, có từ hư vô mà mọi giá trị
đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng và khi nói đến giá trị bao giờ
cũng nói đến mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể. Con người có khả năng nhận thức
được giá trị và thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm giá trị. Hay nói cách khác, thực tiễn

Trong các giá trị vật chất, người ta thường đề cập đến giá trị sử dụng và giá trị
kinh tế.
Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị như: giá trị
khoa học (giá trị nhận thức, cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính nghĩa, cái cách
mạng), giá trị tôn giáo (sự thiêng liêng, sự thánh thiện, giá trị đạo đức (cái thiện, cái
ác)… tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính tương đối. Trong phạm vi luận văn này
tác giả xin góp phần làm rõ thế nào là“giá trị đạo đức”?
Trong hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội thì giá trị đạo đức là một
yếu tố vô cùng quan trọng, nó là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những
quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi của con người trên cơ sở tự
nguyện, tự giác .Vì vậy giá trị đạo đức được đánh giá là: “có ý nghĩa tích cực đối với
đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình, dư luận biểu dương. Giá trị đạo đức vì thế
có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã hội” [17, tr.51]. Theo Giáo sư Huỳnh Khái
Vinh: “giá trị đạo đức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ người -
người với giới tự nhiên và xã hội (gia đình, cộng đồng …) trên tinh thần yêu thương hay
thù hận, tôn trọng hay không tôn trọng, sự phát triển hay kìm hãm tài năng, tự do và
hạnh phúc” [63, tr.60]. Xét theo thời gian, giá trị đạo đức có thể phân thành giá trị đạo đức truyền thống
và giá trị đạo đức hiện đại. Giá trị đạo đức truyền thống có thể được hiểu là những
chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử được hình thành trong
cuộc sống và có ý nghĩa tích cực, được lặp đi, lặp lại nhiều lần trong lịch sử, nhằm điều
chỉnh và chuẩn hoá hành vi của con người.
Mỗi dân tộc đều có những giá trị đạo đức truyền thống của mình. Là một bộ phận
trong hệ giá trị tinh thần của của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyền thống liên tục
nảy sinh, phát triển trong suốt chiều dài của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc,
nó được lưu truyền, chắt lọc, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác và chiếm vị trí cốt
lõi trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc ta.
Sớm xác định được vai trò quan trọng của giá trị đạo đức truyền thống của dân

Trong các chủ trương, đường lối của Đảng ta và nhiều công trình nghiên cứu của
các nhà khoa học Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về các giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc. Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng, giá trị đạo đức của dân tộc Việt
Nam bao gồm: “lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tinh
thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người” [17, tr.74], còn theo Giáo sư
Trần Văn Giàu, thì giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: “yêu
nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [10, tr.94]. Trong
các văn kiện của Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết của bộ chính trị về một số định hướng
lớn trong công tác tư tưởng đã xác định: “Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của
dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người
như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động” [8, tr.19]. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII, đã khẳng
định:
Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền
vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn,
tự hào dân tộc, tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -
tổ quốc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù
sáng tạo trong lao động, là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, là sự tế nhị trong cư xử, tính giản dị trong
lối sống [6, tr.10].
Quan điểm trên của Đảng ta và các nhà khoa học tuy có những điểm cụ thể khác
nhau, cách diễn đạt khác nhau, thế nhưng đều khẳng định rõ vị trí nổi bật của các giá trị
đạo đức truyền thống của dân tộc. Dựa trên cách tiếp cận về giá trị, giá trị đạo đức
truyền thống, ta thấy rằng dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước đã
tạo nên những giá trị đạo đức truyền thống cơ bản sau:
Chủ nghĩa yêu nước:
Bất cứ một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới đều có tình yêu đất nước.

Tổng kết truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định:
Dân tộc Việt Nam có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống
quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi
sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước
[37, tr.171].
Tóm lại, chính lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường dân tộc đã tạo ra sức
mạnh vô cùng to lớn, giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi gian nguy, chiến thắng
mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, tự do cho tổ quốc. Chính vì vậy yêu nước là
niềm tự hào của dân tộc và là một truyền thống cực kỳ quý báu mà chúng ta cần phải kế
thừa và đổi mới trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay.
Truyền thống cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo:
Truyền thống cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo cũng là một trong những
giá trị đạo đức có từ bao đời của dân tộc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển
trong điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội khó khăn khắc nghiệt ngay từ những ngày
đầu dựng nước và giữ nước. Trong quá trình sản xuất, con người luôn phải sống và lao
động trong những điều kịên thiên nhiên khắc nghiệt: như hạn hán, lũ lụt, mưa bão…
Mặt khác, Việt Nam là một nước có nhiều tài nguyên khoáng sản, là đầu mối giao thông
của các nước, nên thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm xâm lược. Chính vì vậy
những người dân Việt Nam trong quá trình lịch sử của mình đã kiên trì bám làng, bám đất, vừa sản xuất, vừa đánh giặc để giữ gìn chủ quyền và độc lập cho dân tộc. Sống
trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả tưởng chừng như không thể nào vượt qua nổi, nhưng
nhờ có đức tính cần cù và tiết kiệm mà nhân dân ta đã vượt qua, để từng bước tự khẳng
định mình trong quá trính phát triển của dân tộc. Tất cả những khó khăn đó được thể
hiện trong rất nhiều câu ca dao, dân ca Việt Nam: “cày đồng đang buổi ban trưa, mồ hôi
thánh thót như mưa ruộng cày”, “một bông lúa vàng chín giọt mồ hôi” Chính vì sự khó
nhọc đó đòi hỏi con người phải quý trọng những thành quả lao động ấy: “ai ơi bưng bát

lợi ích cho đồng bào, cho tổ quốc thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”
[36, tr.637].
Thực tiễn chứng minh, nhờ có cần cù và sáng tạo trong lao động mà cha ông ta
đã xây dựng được non sông gấm vóc và giữ vững nền độc lập của đất nước đến ngày
nay. Trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay, chúng ta cần phải kế thừa và phát huy
đức tính cần cù trong lao động, chiến đấu và học tập vì cần cù là nguồn gốc của sự sống
còn, hạnh phúc, trí tuệ và của mọi sự tiến bộ xã hội.
Lòng nhân ái - yêu thương con người:
Lòng nhân ái - yêu thương con người là một đức tính nhân đạo cao cả của dân
tộc Việt Nam. Đức tính ấy đã thấm sâu vào các mối quan hệ gia đình, làng xóm, đến
cộng đồng xã hội và nhân loại. Truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam thể hiện rõ
trong cuộc sống hằng ngày, trong lao động, học tập và chiến đấu. Mặc dù trong những
giai đoạn lịch sử khác nhau, lòng nhân ái mang những nội dung mới khác nhau, nhưng
về cơ bản vẫn giữ được nét đặc sắc riêng, là cơ sở quan trọng để thiết lập mối quan hệ
giữa người và người trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
Lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam được thể hiên trước hết trong quan hệ gia
đình: cha mẹ hết lòng quan tâm đến việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái khi chúng còn
nhỏ dại và ngược lại, con cái phải có trách nhiệm tôn kính cha mẹ, khi cha mẹ về già
hay đau yếu phải hết lòng nuôi dưỡng; trong quan hệ anh - em thì “anh em như thể tay
chân, rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng
lạnh”…
Lòng nhân ái không chỉ thể hiện trong quan hệ gia đình mà nó còn xuất phát từ
lòng yêu thương con người “thương người như thể thương thân”, “đánh người chạy đi chứ ai đánh người trở lại”… Lòng nhân ái - yêu thương con người là cơ sở cho cách xử
thế ở đời của người Việt Nam: hết lòng vì nghĩa, giúp đỡ, đùm bọc nhau khi khó khăn
hoạn nạn mà không hề toan tính. Lòng yêu thương con người ở Việt Nam còn là điều
kiện để tồn tại, là vũ khí để chiến đấu, là lẽ sống bền vững, là hạnh phúc lớn nhất của
con người. Tình yêu thương ấy được xây dựng và củng cố trong cộng đồng và gia đình,

những gông cùm nô lệ - đó là con đường của cách mạng vô sản do Lênin vạch ra. Tình
yêu thương con người của Hồ Chí Minh còn được thể hiện trong mối quan hệ bạn bè,
đồng chí, với mọi người trong quan hệ hàng ngày. Tình yêu thương ấy đòi hỏi phải tự
nghiêm khắc với mình, nhưng phải rộng rãi, độ lượng với người khác. Lòng nhân ái của
dân tộc Việt Nam còn được thể hiện với những người sai lầm khuyết điểm nhưng đã
nhận ra và cố gắng sửa chữa. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, lòng nhân ái của
Bác đã trở thành sức mạnh, nó có tác dụng cảm hoá hàng vạn con người đã trót lầm
đường, lạc lối, trước đây đã theo giặc, đi ngược với lợi ích của nhân dân nay đã ăn năn,
hối hận, Bác xem họ như những đứa con “lạc bầy” cần được cưu mang hoạn dưỡng.
Lòng yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vô hạn, nhưng Người cũng
phân biệt rất rõ ranh giới giữa bạn và thù, giữa bọn thống trị và nhân dân của nước ấy.
Đối xử với tù binh, tha chết và tiễn đưa quân xâm lược bại trận về nước, nhanh chóng
lập lại tình hữu nghị sau mỗi trận chiến tranh - đó là đạo lý của con người Việt Nam
trước cộng đồng nhân loại.
Tinh thần đoàn kết cộng đồng sâu sắc:
Tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau là một trong những truyền thống quý báu
của dân tộc Việt Nam, nó được hình thành trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm,
chống thiên nhiên khắc nghiệt. Bởi trong những điều kiện khó khăn đó, con người muốn
vượt qua họ phải “chung lưng, đấu cật”, góp sức, góp trí …vì vậy tinh thần đoàn kết
cộng đồng sâu sắc được hình thành là một lẽ tất nhiên trong đời sống của con người, để
đáp ứng nhu cầu khách quan đang đòi hỏi. Dân tộc Việt Nam luôn xem đoàn kết là một
sức mạnh làm nên mọi thắng lợi. Đoàn kết thể hiện trong mọi thành công và thất bại,
“có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia”. Đặc biệt tinh thần đoàn kết thể hiện rõ nhất và
quý nhất khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Khi đói rét thì “nhường cơm xẻ áo” khi gặp hoạn
nạn, khó khăn thì “chị ngã em nâng” Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam thể hiện trong mọi không gian và thời
gian. Trong gia đình: “thuận vợ thuận chồng, tác biển đông cũng cạn”, trong sản xuất
cũng như trong đời sống hằng ngày giữa các cá nhân với nhau thì đoàn kết thể hiện ở

Do hiếu học, nên dân tộc Việt Nam sớm có truyền thống “tôn sư trọng đạo”,
“tiên học lễ, hậu học văn”, học trước hết để làm người sau đó để làm việc. Cho nên để
trở thành người tốt, làm việc tốt thì phải học. Người có học thức cao luôn được xã hội
suy tôn. Vì vậy “tôn sư trọng đạo” trở thành một truyền thống vô cùng cao đẹp của dân
tộc ta, nó góp phần định hướng giá trị trong quá trình phát triển xã hội. Trong tác phẩm
“bàn về khoan dung trong văn hoá” của Giáo sư, tiến sĩ Huỳnh Khái Vinh và Tiến sĩ
Nguyễn Thanh Tuấn đã nhận định rằng: “Giá trị hiếu học, coi trọng học vấn và tôn sư
trọng đạo là truyền thống lâu bền và là một hàm nghĩa của văn hiến Việt Nam” [63,
tr.316]. Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu thì cho rằng: “hiếu học là truyền thống quý báu tự
ngàn xưa của dân tộc ta. Truyền thống ấy cần được giữ gìn và phát huy trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bất chấp những “sóng gió” của kinh tế thị
trường” [2, tr.4].
Hiếu học là một truyền thống tốt đẹp, nó được kế thừa và phát huy trong suốt
chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trong xã hội Phong kiến, trong điều kiện khắc
nghiệt của thiên nhiên, sự thiếu thốn về mọi thứ nên người Việt Nam sớm ý thức được
rằng chỉ có học mới có thể thoát khỏi những đói nghèo, khổ cực. Hình ảnh Mai Thúc
Loan đầu đội mâm đồng nặng trĩu nhưng vì ham học đã “học trộm” đến tê cả gót chân
mà vẫn không hay, về sau trở thành vị vua nổi tiếng của nước ta; Nguyễn Hiền, mồ côi
cha, sống trong túp lều ở chùa, nghèo nên phải bắt đom đóm làm đèn để học, năm 13
tuổi đã đỗ trạng nguyên - đây là vị trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng
Việt Nam; Mạc Đĩnh Chi, mồ côi cha sớm, nhà nghèo phải đốt lá rừng để học và đã trở
thành vị trạng nguyên tài giỏi của dân tộc… và còn nhiều gương hiếu học khác in dấu
trong lịch sử của dân tộc. Có thể nói rằng, trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau
nhưng truyền thống hiếu học luôn được nhân dân ta kế thừa, phát huy và nâng lên thành
lẽ sống.
Trong cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
xâm lược, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn thử thách, nhưng truyền thống hiếu học vẫn luôn được nhân dân ta kế thừa và phát huy cao độ. Trong

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự chuẩn bị điều kiện cơ bản, quyết định cho những
thắng lợi oanh liệt và những bước nhảy vọt trong quá trình phát triển của dân tộc ta. Từ
những kinh nghiệm và hiểu biết ở tuổi thanh niên của chính bản thân mình, Nguyễn Ái
Quốc đã dẫn dắt cả một thế hệ thanh niên yêu nước Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, mà
hăng hái đi đầu là học sinh, sinh viên đầy nhiệt huyết đến được với chân lý cách mạng
của thời đại.
Các thế hệ thanh niên về sau luôn tự hào về lớp thanh niên yêu nước đã sớm đi
theo con đường của Nguyễn Ái Quốc, trực tiếp tham gia xây dựng Đảng, Đoàn thanh
niên như Trần Phú (Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng khi mới 26 tuổi), Ngô Gia Tự,
Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai họ đã
trở thành những chiến sĩ cách mạng kiên cường của Đảng và nhân dân ta. Đoàn thanh
niên với những phong trào hành động, tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng cách mạng. Khẩu
hiệu của thanh niên Tiền phong lúc này là: “Thanh niên: tiến !”.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), ngay từ những ngày
đầu, tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên đã tích cực tham gia vào các tổ chức chiến
đấu, phục vụ chiến đấu, tiến hành cuộc chiến tranh du kích. Nhiều tấm gương hy sinh
anh dũng của tuổi trẻ, đồng loạt các thanh niên xin gia nhập các đoàn quân “Nam tiến”,
đánh đuổi giặc Pháp.
Ngày 19/12/1946, đáp ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, đội thám tử quân Hà Nội ra đời. Tiêu biểu cho những tấm gương chiến đấu
bất khuất đó là thanh niên Vũ Chí Thành đã hy sinh ngay trong đêm đầu của cuộc kháng
chiến. Ngoài ra các phong trào thanh niên còn diễn ra dưới nhiều hình thức như biểu
tình, rải tuyền đơn, tuyên truyền khẩu hiệu đấu tranh, trực tiếp tham gia lao động sản
xuất để chi viện cho chiến trường chiến đấu với “giặc đói” và “giặc dốt”.
Tiếp nối truyền thống yêu nước của các thế hệ tiền bối, thanh niên Việt Nam đã
góp phần lớn lao vào thắng lợi cuộc kháng chiến thần thánh Điện Biên Phủ chống thực
dân Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ.
Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tinh thần yêu nước, nhiệt
tình cách mạng của thanh niên lại được phát huy mạnh mẽ hơn nữa. Một phong trào

đầy nhiệt tình và sức sống - là lứa tuổi sẵn sàng đón nhận những nhiệm vụ khó khăn,
nặng nề, nguy hiểm. Được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dìu dắt, thuộc tính đó được
nâng lên thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Chiến tranh là một thử thách vô cùng
khắc nghiệt. Nhưng sự ác liệt trong chiến tranh là môi trường tôi luyện phẩm chất anh
hùng cách mạng của thanh niên. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, hưởng ứng
lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lớp lớp thanh niên đã xung phong ra
chiến trường, hăng hái tòng quân giết giặc. Dù bất cứ ở nhiệm vụ nào, tham gia dân
công hay hay xung phong phục vụ tuyền tuyến thì bản lĩnh tiên phong của thanh niên
đều được thể hiện. Trước những khó khăn tưởng chừng không thể nào vượt qua, trước
những thử thách cam go, thậm chí là sự hy sinh tính mạng, nhưng với tinh thần hăng
hái, vượt khó đã giúp cho thanh niên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào
công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Khẩu hiệu mà thanh niên hằng tâm
niệm“đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên” đã biến thành phong trào cách
mạng rộng khắp trong thanh niên, đó là “phong trào 5 xung phong chống Mỹ cứu
nước”, “ba xung phong giải phóng miền Nam”… Chính vì vậy trong di chúc của mình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc điều
hăng hái, xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ…
Khi thống nhất đất nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng được tiếp tục phát huy
trong thời kỳ mới, bất cứ ở đâu, khi nào mà Đảng và nhân dân cần đến thanh niên sẵn
sàng đáp ứng. Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều thanh niên tự nguyện rời
khỏi thành thị, rời bỏ những vị trí có thu nhập cao để xung phong đến công tác ở các vùng
cao, vùng sâu, hải đảo - nơi còn nhiều khó khăn về vật chất. Bởi hơn ai hết, thanh niên
đã tự ý thức được rằng chỉ có họ những người trẻ, khoẻ, đầy nhiệt huyết mới có thể
gánh vác những công việc khó khăn này. Ngoài ra, tinh thần xung phong, hăng hái, vượt
khó còn thể hiện qua các phong trào “thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước”, “phong
trào tuổi trẻ xung kích, sáng tạo”, “phong trào thanh niên tình nguyện”… Với tinh thần
xung phong, hăng hái đó, đã một mặt góp phần làm giàu đẹp cho quê hương đất nước,
nhưng mặt khác cũng đã rèn luyện cho thanh niên một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh

xã hội thực tiễn và trong bồi dưỡng nhân cách người học sinh, sinh viên mới. 1.2. ĐẠO ĐỨC MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN
THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN VIỆT
NAM HIỆN NAY
1.2.1. Vai trò và yêu cầu đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay
Đạo đức không sinh ra từ đạo đức, mà nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội,
là kết quả sự phát triển lịch sử. Đạo đức được hình thành từ rất sớm, ngay từ khi bắt đầu
hình thành xã hội loài người. Tuỳ thuộc vào các giai đoạn lịch sử và cách tiếp cận khác
nhau mà vấn đề đạo đức được hiểu theo những nghĩa khác nhau. Ở phương Đông cổ
đại, người Trung Quốc đã đưa ra nhiều học thuyết về đạo đức được biểu hiện trong
quan niệm về “đạo” và “đức” của họ. “Đạo” mang nghĩa là đường đi, con đường. Về
sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Ngoài
ra đạo còn là một phạm trù để chỉ đường sống của con người trong xã hội.
Khái niệm “đức” lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu Trung Quốc
và sau được người Trung Quốc sử dụng nhiều. “Đức” là sự biểu hiện của đạo, là đạo
nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Nói tóm lại, theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại
thì đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải
tuân theo.
Ở phương tây, ngay từ thời cổ đại cũng có nhiều nhà triết học đưa ra nhiều quan
niệm khác nhau về vấn đề đạo đức. Trong số đó, Xôcrát (469 - 399 TCN) là người đầu
tiên đặt nền mống cho khoa học đạo đức học. Về sau Arixtot (384 - 322 TCN) đặc biệt
quan tâm đến phẩm hạnh con người và cho ra đời bộ sách đạo đức học. Nội dung của
phẩm hạnh con người theo Arixtot chính là ở chỗ con người biết định hướng đúng, biết
làm việc thiện. Epiquya là nhà triết học rất quan tâm đến vấn đề đạo đức. Ông là người
đầu tiên đưa ra phạm trù lẽ sống và là một trong những người có công luận giải về sự tự
do của con người.
Kế thừa những tư tưởng quý báu về đạo đức trước đó, chủ nghĩa Mác - Lênin
đưa ra quan niệm về đạo đức:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status