LUẬN VĂN: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản
xuất ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh Hà giang
Lời nói đầu Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nứơc trong đó có đổi mới về cơ
chế quản lý kinh tế, những năm qua ngành ngân hàng đã thực hiện được chiến lược đổi
mới mạnh mẽ từ mô hình tổ chức đến phương thức hoạt động của mình. Về mô hình tổ
chức từ hệ thống ngân hàng một cấp chuyển thành hệ thống ngân hàng 2 cấp, hệ thống
các ngân hàng thương mại làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ tín dụng tăng cường huy
động, khai thác mọi nguồn vốn, tích cực đầu tư cho các thành phần kinh tế, đổi mới
thể sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và hộ sản xuất. Đây là sự chuyển hướng phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác đi vào thị trường tín dụng nông thôn và
phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn. Thị trường tín dụng nông thôn là mảnh đất còn chứa ẩn nhiều tiềm năng mà Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần phải vươn tới để thực hiện nhiệm vụ kinh
doanh và thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là xoá đói - giảm nghèo.
Song hiện nay quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
đối với kinh tế hộ sản xuất còn hạn hẹp do nhiều vướng mắc và trở ngại. Vì vậy, việc
nghiên cứu thực trạng nhằm tìm ra nguyên nhân và cách tháo gỡ là rất cần thiết.
Qua thời gian học tập tại trường ĐHTCKT Hà Nội và quá trình thực tập nghiên
cứu, khảo sát thực tế tại Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà
Giang. Em chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay
hộ sản xuất ở Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang -”
làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương.
Chương I: Hộ sản xuất và vai trò tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển
của hộ sản xuất.
Chương II: Thực trạng cho vay hộ sản xuất tại Hội sở Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất ở Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà giang.
Chương I
hộ sản xuất và vai trò của tín dụng Ngân hàng nông nghiệp
đối với sự phát triển của hộ sản xuất
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo lần thứ
V đã đề ra là " Xoá bỏ triệt để quan liêu, bao cấp trong giá, lương, tiền là yêu cầu hết
nhiều tổ chức Quốc tế tài trợ vốn, đầu tư vốn cho nông nghiệp, lâm nghiệp nhiều nguồn
vốn được hình thành. Song hiện nay nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp
vẫn là người bạn đồng hành chủ yếu cuả các hộ sản xuất.
1.1. Vị trí, vai trò của kinh tế hộ sản xuất
1.1.1. Vị trí:
Nước ta là một nước nông nghiệp thuần tuý với trên 80% dân số sống ở khu vực
nông thôn, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chiếm giữ vai trò hết sức quan
trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và phát triển kinh tế của đất
nước. “Chỉ khi nào nông thôn được công nghiệp hoá - hiện đại hoá, khi học vấn, kiến
thức và công nghệ tiên tiến nằm trong tay nông dân, được bà con sử dụng thành thạo và
vững chắc thay cho “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, khi xưởng máy mọc lên ở các
làng mạc, thị trấn, ngành nghề phát triển rộng khắp, một bộ phận đáng kể nông dân trở
thành công nhân công nghiệp, hình thành cục diện mới ở các vùng nông thôn thì lúc đó
mới có thể nói công nghiệp hoá - hiện đại hoá được hoàn thành cơ bản trên phạm vi cả
nuớc”
(1)
. Chính vì lẽ đó kinh tế nông nghiệp nông thôn mà chủ nhân là hộ sản xuất có vị
trí vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước.
Hộ sản xuất ra đời là một yêu cầu bức xúc của ngành kinh tế, thể hiện chủ
trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi Chỉ thị 100 khoán 10 ra
đời, kinh tế hộ sản xuất đã hình thành và phát triển đa dạng. Thực chất hộ sản xuất là
đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất cũng như tiêu thụ sản
phẩm mà mình làm ra. Nói cách khác hộ sản xuất là chủ thể trong mọi mối quan hệ sản
xuất kinh doanh.
1.1.2. Đặc trưng của kinh tế hộ sản xuất.
Hộ sản xuất là bộ phận quan trọng hợp thành tổng thể nền kinh tế quốc dân, có
viên của hợp tác xã, nông trường, tập đoàn sản xuất, doanh nghiệp Nhà nước. Sự xuất
hiện các hình thức tổ chức mới đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế hộ sản xuất, tăng
thu nhập của hộ. Tuy nhiên các hình thức tổ chức như thế này cũng chịu mức độ rủi ro
rất lớn vì vậy Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ thích hợp để kinh tế hộ sản
xuất củng cố và nâng cao vị trí của mình trong tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Với những đặc trưng kể trên kinh tế hộ sản xuất được coi là nhân tố quyết định
sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay và trong tương lai, quan tâm phát triển
kinh tế hộ sản xuất, làm cho hộ nghèo giảm bớt, hộ giàu thêm nhiều là vấn đề quan
trọng trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới hiện đại rút ngắn khoảng
cách giữa thành thị và nông thôn. Đây là vấn đề lớn quan trọng.
Hộ sản xuất thuộc nhiều ngành nghề khác nhau như dịch vụ, tiểu thủ công
nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, song phần lớn hiện nay trong tổng số lao động nằm trong
các ngành sản xuất vật chất thì riêng ngành nông nghiệp chiếm hơn 70%. Hộ sản xuất
vừa sản xuất vừa làm nghề phụ kinh doanh để tăng thu nhập cho gia đình nâng cao đời
sống .
1.1.3. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất và vai trò của hộ sản xuất.
1.1.3.1. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất.
* Trước Chỉ thị 100.
Sản xuất nông nghiệp nông thôn tồn tại dưới hình thức tập trung như hợp tác xã,
nông trường quốc doanh người lao động làm việc theo kiểu ghi công tính điểm, họ
không có quyền gì trong vấn đề lựa chọn kế hoạch sản xuất, ăn chia, phân phối hay sở
hữu tư liệu sản xuất. Lúc này khái niệm hộ sản xuất chưa có, hiệu quả sản xuất kém.
* Sau Chỉ thị 100 và khoán 10.
Khi chủ trương của Nhà nước được đưa ra thực hiện việc giao khoán sản phẩm
cuối cùng đến nhóm người lao động thì hình thức hộ sản xuất nhận khoán ra đời. Họ là
người nhận ruộng khoán và tự mình mua sắm vật tư sản xuất, tiến hành đầu tư thâm
canh trên ruộng của mình và chỉ phải nộp sản phẩm theo quy định cho tập thể. Nhất là
khi có quyết 652 của Nhà nước thực hiện giao ruộng đất lâu dài cho hộ gia đình thì kinh
lao động, xí nghiệp quốc doanh là 12 triệu đồng trên một lao động ( chỉ là vốn cố định,
chưa kể vốn lưu động). Như vậy chi phí cho một lao động trong hộ sản xuất thấp.
Trong điều kiện hiện nay, nước ta còn nghèo, vốn tích luỹ trong nước còn ít thì
với đặc điểm kể trên kinh tế hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế phù hợp, nâng
cao thu nhập cho lực lượng lao động trong cả nước nói chung và nông thôn nói riêng.
* Kinh tế hộ sản xuất nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên,
công cụ lao động.
Việc giao quyền sử dụng, quản lý lâu dài đất đai, tài nguyên cho hộ sản xuất đã
tạo ra động lực mới thúc đẩy các hộ chăm lo sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài
nguyên của các hộ sản xuất được gắn liền với hiệu quả sử dụng tài nguyên nên các hộ
đã có những biện pháp thích hợp làm tăng độ màu mỡ của đất, kết hợp việc khai thác
với duy trì, bảo vệ tài nguyên. Hộ sản xuất với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ sẽ phải tự
chịu trách nhiệm và đã toàn quyền sử dụng đối với các công cụ sản xuất của mình, do
đó họ sẽ tìm mọi cách thức, biện pháp để sử dụng chúng có hiệu quả nhất, kết hợp với
việc bảo quản tốt để có thể sử dụng lâu dài.
* Khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, thúc đẩy sản xuất hàng hoá của nền
kinh tế hộ.
Trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh, các đơn vị kinh tế tự chủ nói chung,
các hộ sản xuất nói riêng có quyền quyết định mục tiêu, quy trình công nghệ sản xuất
kinh doanh, trực tiếp quan hệ với thị trường, tự hạch toán lỗ lãi để muốn tồn tại và phát
triển được trong cơ chế thị trường thì các doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng sản
xuất. Thường xuyên nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với như cầu
của thị trường, phải kết hợp với việc hạ giá thành sản phẩm, hạ giá bán để khích thích
nhu cầu người tiêu dùng. Một trong những ưu điểm lớn nhất của kinh tế hộ sản xuất là
có được bộ máy gọn nhẹ, năng động do đó sẽ dễ dàng nắm bắt được thay đổi của thị
trường để kịp thời nghiên cứu, điều chỉnh, triển khai phương thức sản xuất mới. Bên
cạnh đó bộ máy tổ chức, quản lý gọn nhẹ còn góp phần làm giảm chi phí quản lý, từ đó
giá thành sản phẩm hạ làm tăng thêm khả năng cạnh trạnh của sản phẩm trên thị trường.
năng vốn, kỹ thuật để mở rộng phát triển sản xuất. Kinh tế hộ sản xuất cũng chịu ảnh
hưởng lớn của quy luật nói trên trong nền kinh tế thi trường, hộ nào có trình độ quản lý,
có vốn, có sức lao động, có điều kiện kỹ thuật thì sẽ có khả năng phát triển ngành nghề
của mình theo ý muốn ngược lại những hộ nào không có đủ điều kiện ở trên thì họ sẽ bị
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, không chủ động tiến hành sản xuất được, do vậy họ đã
nghèo lại càng nghèo thêm . Như vậy, việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường một mặt làm tăng số hộ giàu ở nước ta lên, mặt
khác cũng làm tăng hố sâu phân cách giàu nghèo dẫn đến có sự phát triển không đều
giữa các hộ sản xuất.
+ Xu hướng phát triển đa dạng các loại hình, các quy mô sản xuất:
Tuỳ thuộc vào khả năng về vốn, lao động, điều kiện tự nhiên các hộ sản xuất sẽ
lựa chọn đối tượng, phương án sản xuất kinh doanh, qui mô sản xuất sao cho có hiệu
quả nhất. Nhờ vậy mà kinh tế hộ sản xuất phát triển đa dạng, các hộ có kinh nghiệm, có
ruộng đất, không đủ điều kiện về vốn, kỹ thuật sẽ tập trung vào việc trồng lúa hoặc một
số loại cây trồng, vật nuôi như chè, cà phê, mía, cây ăn quả, trâu bò, lợn gà còn đối
với hộ có điều kiện về vốn, kỹ thuật thì tổ chức sản xuất kinh doanh tổng hợp chặt chẽ
giữa trồng và chăn nuôi với kinh doanh ngành nghề phụ.
+ Xu hướng liên doanh liên kết hợp tác trong quá trình sản xuất:
Để tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị trường các hộ sản xuất phải bổ
sung, hỗ trợ lẫn nhau, liên kết với nhau để nâng cao cạnh tranh. Chính sự liên kết đó sẽ
tạo ra các hình thức hợp tác mới, sự liên doanh, liên kết hợp tác giữa các hộ sản xuất
không đồng nghĩa với việc tập trung sản xuất những đơn vị nhỏ thành những xí nghiệp,
hợp tác xã mà là hợp tác để tăng sức mạnh của từng đơn vị sản xuất. Khi trình độ sản
xuất phát triển, có nhiều vấn đề hộ sản xuất không tự giải quyết được như những thông
tin thị trường, khoa học công nghệ do đó sự phát triển kinh tế hộ đòi hỏi tất yếu phải
hình thành các hình thức hợp tác kinh tế mới.
1.2. vai trò của tín dụng Ngân hàng trong việc phát triển kinh tế hộ.
1.2.1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng.
xuất ra, đồng thời mua từ thị trường những hàng hoá mà họ cần để đạt được điều đó các
hộ sản xuất cần nhiều vốn để mua vật tư, đầu tư đổi mới kỹ thuật, mua sắm máy móc thiết bị, trong khi vốn tự có của các hộ còn rất hạn chế, nên các hộ sản xuất cần tới sự
trợ giúp của ngân hàng để mở rộng sản xuất được liên tục.
Vì thế tín dụng ngân hàng nó cực kỳ quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn
cho hộ sản xuất để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay.
1.2.2.2. Thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất trên cơ sở đó góp phần tích cực
vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn:
Tại một thời điểm nhất định trong xã hội luôn xuất hiện một lượng tiền tạm thời
nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, đồng thời cũng xuất hiện những tổ chức kinh tế, cá
nhân cần vốn để sản xuất kinh doanh. Nghiệp vụ của ngân hàng là tập trung nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi để cho các đơn vị, cá nhân tạm thời thiếu vốn để sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng tập trung đầu tư tín dụng cho các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả, phù
hợp với định hướng phát triuển của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
kinh doanh của hộ sản xuất, khuyễn khích các hộ kinh doanh có hiệu quả hơn nữa để
được ngân hàng trợ giúp cho vay.
Đầu tư là quá trình tất yếu vừa hạn chế được rủi ro tín dụng cho ngân hàng, vừa
thúc đẩy sự tăng trưởng kink tế.
Ngân hàng thương mại với tư cách là trung gian tài chính, là cầu nối tiết kiệm và
đầu tư đã thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất trên cơ sở đó góp phần
tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
1.2.2.3. Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ đắc lực cho các ngành kinh tế:
Thông qua hệ thống ngân hàng cụ thể là hoạt động tín dụng ngân hàng Nhà
nước đã góp phần tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi
với lãi suất thấp thời gian dài, mức vốn lớn. Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông
nghiệp là ngành sản xuất quan trọng đáp ứng phần lớn với nhu cầu cần thiết cho xã hội
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng sản xuất ở nông thôn chưa phát
triển, kết cấu hạ tầng còn kém lại chịu ảnh hưởng khắt khe của điều kiện tự nhiên, đơn
trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán có khả năng kiểm soát bằng đồng tiền đối với
hoạt động của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng thanh toán.
Để thực hiện được món vay, cán bộ tín dụng phải nắm được tình hình sản xuất
kinh doanh trước, trong và sau khi cho vay có đạt được hiệu quả hay không để tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất. Qua đó tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được các hoạt
động của hộ sản xuất.
Nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng là vay vốn phải được hoàn trả đầy đủ
cả gốc và lãi đúng thời hạn khi sử dụng vốn vay các hộ sản xuất phải thực hiện đầy đủ
các cam kết đã ghi trong hợp đồng tín dụng, phải trả nợ đúng hạn và các điều kiện kèm
theo khác, như vậy để sản xuất kinh doanh có hiệu qủa, có đủ lợi nhuận trang trải lãi
vay ngân hàng thì các hộ sản xuất phải hạch toán kinh tế.
1.2.2.6. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy hộ sản xuất tiếp cận mở rộng sản xuất
hàng hoá:
Ngân hàng đã tạo ra một bước chuyển hướng quan trọng trong phương thức sản
xuất của hộ sản xuất khi được ngân hàng đầu tư vốn, hộ sản xuất phải hạch toán kinh tế
sao cho vốn vay được sử dụng có hiệu nhất, để tăng thu giảm chi nhằm thu lợi nhuận,
để hoàn trả cả vốn và lãi vay cho ngân hàng. Muốn vậy hộ sản xuất phải nghĩ tới thị
trường để tiêu thụ sản phẩm thì mới thu được lợi nhuận cao, giúp hộ sản xuất hình thành
những biện pháp tốt nhất để tiếp cận và thích nghi với thị trường như nâng cao chất
lượng sản phẩm, thay đổi các loại cây trồng vật nuôi cho phù hợp với nhu cầu thị
trường, cải tiến cách thức sản xuất để tiết kiệm vật tư, giảm chi phí, thu hiệu quả cao
nhờ sự tài trợ vốn của ngân hàng để mở rộng qui mô sản xuất, nhờ đó tính chất sản xuất
hàng hoá cũng được tăng lên.
1.2.2.7. Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị xã hội:
Tín dụng ngân hàng không những thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to
lớn về mặt chính trị xã hội. Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động trong cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng đặc biệt là với
một nước có trên 80% dân số sống ở nông thôn. Tín dụng ngân hàng thông qua cho vay
- Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, hiệu quả tín dụng ngân hàng trước
tiên được thể hiện trong các chỉ tiêu kinh tế xã hội nói chung của một số quốc gia. Tín
dụng ngân hàng chỉ thực sự mạng lại hiệu quả cho nền kinh tế khi nó làm tăng tổng sản
phẩm quốc dân, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm lạm phát, góp phần thúc
đẩy cơ cấu kinh tế, làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế tín dụng ngân hàng thực sự có hiệu quả khi nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước.
- Mức độ lợi nhuận mà ngân hàng thu được với phương châm đi vay để cho vay,
do đó, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phụ thuộc lớn vào khả năng mở rộng đầu
tư, cụ thể là hoạt động ngân hàng có tập trung được nguồn vốn nhàn rỗi, có thực hiện
cho vay nhiều, sử dụng vốn có hiệu qủa thì mới tồn tại và đứng vững được. Đối với các
ngân hàng, hiệu quả tín dụng được thể hiện cụ thể nhất, dễ nhận ra nhất đó chính là lợi
nhuận mà ngân hàng có được. Một ngân hàng được coi là có hiệu quả cao nếu có mức
lợi nhuận thu được năm sau cao hơn năm trước.
Mức độ rủi ro mà ngân hàng phải chịu trong cơ chế thị trường hiện nay, ngân
hàng thương mại là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập cho nên việc đảm bảo an toàn tín
dụng là rất quan trọng hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào
mức lãi suất mà ngân hàng thu được, mà còn phụ thuộc vào khả năng thu hồi an toàn
của mỗi đồng vốn bỏ ra theo đúng kỳ hạn đã ghi trong hợp đồng tín dụng để tạo ra rủi
ro các ngân hàng thương mại phải chấp hành đầy đủ các qui định, qui chế về an toàn tín
dụng do ngân hàng Nhà nước ban hành, thẩm định cẩn thận trước khi cho vay, thường
xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn của người vay.
+ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển kinh
tế hộ sản xuất.
Chỉ tiêu 1: Doanh số cho vay hộ sản xuất
Tổng số hộ sản xuất
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn mà hộ sản xuất vay được từ ngân hàng, tín dụng
ngân hàng được coi là có hiệu quả khi doanh số cho vay cao, số hộ được vay nhiều và
vay cao kết hợp với tỷ lệ doanh số thu nợ hộ sản xuất trên doanh số cho vay hộ sản xuất
hợp lý để hạn chế bớt ruỉ ro.
Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất
x 100%
Tổng dư nợ cho vay hộ sản xuất
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả tín dụng hộ sản xuất. Tín dụng
hộ sản xuất chứa đựng nhiều rủi ro mà mỗi rủi ro là một cách thức đối với sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay do đó việc
đảm bảo thu hồi vốn vay đúng thời hạn là hết sức quan trọng và là yếu tố quyết định hiệu quả tới đúng hộ sản xuất đối với ngân hàng để tránh những rủi ro từ phiá khách
hàng, ngân hàng không nên dựa dẫm vào tài sản thế chấp mà phải chủ động đầu tư vào
hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả và ít rủi ro nhất.
1.2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiẹu quả tín dụng đối với hộ sản xuất :
+ Về phiá khách hàng:
- Do sử dụng vốn vay sai mục đích.
- Do tình hình tài chính của hộ sản xuất có biến đổi.
- Do năng lực quản lý yếu kém và trình độ áp dụng công nghệ có phù hợp không.
- Những vấn đề liên quan đến sự thay đổi thị trường cung cấp đầu vào.
- Khách hàng thiếu sự sẵn sàng hoàn trả vốn vay
+ Về phía ngân hàng:
Chấp hành không nghiêm các qui trình cho vay.
- Cán bộ tín dụng trình độ chuyên môn còn yếu, đạo đức nghề nghiệp còn hạn
chế.
- Yếu kém về mặt quản lý và điều hành.
- Không chấp hành những qui định của pháp luật
+ Nhân tố khách quan:
- Tình hình kinh tế xã hội của quốc gia
- Cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nếu
vay từ 10 triệu đồng trở lên và các hộ sản xuất phải có vốn tự có bằng tiền, giá trị vật tư,
hay ngày công lao động đóng góp vào tổng số vốn của dự án sản xuất kinh doanh. Hộ
sản xuất phải có hộ khẩu thường trú tại địa phương, những hộ ở địa phương khác đến
phải có xác nhận của UBND nơi có hộ khẩu thường trú và được UBND nơi đến cho
phép sản xuất kinh doanh. Hộ sản xuất phải chấp nhận sự kiểm tra giám sát của ngân
hàng trước, trong và sau khi cho vay. Đồng thời hộ sản xuất phải cung cấp cho ngân
hàng những tài liệu có liên quan đến việc sử dụng vốn vay đó. Đối tượng cho vay cuả ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
nam gồm có:
- Cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) đối tượng là vật tư, chi phí trồng trọt, chăn
nuôi, chi phí các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp vật tư, hàng hoá đối với các hộ làm
dịch vụ và kinh doanh thương nghiệp.
- Cho vay trung hạn (từ 1 năm -5 năm) đối tượng cho vay là chi phí mở rộng diện
tích canh tác xây dựng cơ bản đồng ruộng để gieo trồng cây hàng năm, chi phí đào đắp
ao hồ, xây dựng chuồng trại chi phí cải tiến, đổi mới công nghệ, chi phí sữa sữa lớn tàu
thuyền, phương tiện vận tải loại nhỏ.
- Cho vay dài hạn (trên 5 năm) đối tượng là chi phí xây dựng mới đồng ruộng,
đồi cây, ao hồ, nhà xưởng, máy móc thiết bị tầu thuyền, phương tiện vận tải vừa và lớn,
chí phí trồng và chăn sóc cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp, khi xét
duyệt cho vay ngân hàng yêu cầu các hộ vay vốn phải nộp đầy đủ các thủ tục theo từng
loại hộ vay và thời hạn cho vay.
- Cho vay ngắn hạn:
+ Đối với hộ vay thực hiện bảo đảm bằng tài sản thủ tục vay vốn gồm:
Giấy đề nghị vay vốn có xác nhận của chính quyền địa phương và giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, bản chính hoặc giấy nhận quyền sử dụng đất không có tranh
chấp do UBND xã, phường, thị trấn cấp. Sổ vay theo mẫu in sẵn của Ngân hàng Nông
nghiệp.
Chương II
thực trạng về cho vay hộ sản xuất ở hội sở
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn tỉnh Hà Giang
2.1- Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn có ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng
2.1.1- Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và môi trường kinh doanh của Ngân hàng:
2.1.1.1. Hoàn cảnh kinh tế- xã hội.
Thị xã Hà Giang là trung tâm hành chính, trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh. Là
thị xã của tỉnh miền núi nên địa hình, địa lý tự nhiên rất khó khăn, hiểm trở, có tới 75%
diện tích là đồi núi cao, sông, suối sâu, giao thông khó khăn, lâm thổ sản bị khai phá bừa
bãi, lại bị chiến tranh biên giới (1979-1986) tàn phá chưa khôi phục được.
Thị xã Hà Giang có diện tích tự nhiên 97km
2
với 5 xã thuần nông và 4 phường
bán nông nghiệp, diện tích canh tác đất nông nghiệp là 1.200ha.
Dân số của thị xã có gần 30 vạn người, hơn 10 dân tộc cùng chung sống. Tổng số
hộ sản xuất 4.100 hộ với 13.900 khẩu, trong đó có 3.500 lao động.
Kinh tế nông nghiệp đã chuyển dần từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất
chuyên canh và giao lưu hàng hoá đã phát triển. Trình độ dân trí dần được nâng cao,
nhiều hộ đã biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, phá bỏ tập
tục du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc thả rông.
Bên cạnh đó, các điều kiện về môi sinh của thị xã chưa được tốt như nạn chặt
cây, phá rừng, đào đãi vàng, quặng đã làm cho nguồn nước cạn kiệt, xói mòn, lũ quét và
hạn hán xảy ra gây nên sự mất mùa, gây thiệt hại tiền của cho các hộ sản xuất nông
nghiệp.
Trong những năm gần đây do chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước, quan hệ
của Đảng và Nhà nước là môi trường pháp lý ổn định đảm bảo điều kiện cơ bản để hoạt
động cho các tổ chức tín dung nói chung và Hội sở NHNo & PTNT Hà Giang nói riêng.
Giúp cho Hội sở NHNo&PTNT Hà Giang tạo cơ sở vững chắc cho quá trình hoạt động
kinh doanh trên thị trường với nhiệm vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay . Với chức năng của Ngân hàng là kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ Ngân
hàng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước,
làm uỷ thác các nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của chính phủ, các tổ chức kinh
tế xã hội, thực hiện tín dụng tài trợ chủ yếu cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn .
2.1.2- Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất trên địa bàn
thị xã Hà Giang:
Hà Giang là một tỉnh miền núi cao mới được chia tách từ tháng 10/1991, nơi
chưa hề có cho vay nông hộ, lại có những đặc thù như đã nêu trên, có nhu cầu vốn đầu
tư rất lớn để khai thác tiềm năng tự nhiên, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức sản
xuất, tạo công ăn việc làm cho lao động Trong khi các nguồn vốn khác không đáng
kể, mọi nhu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu trông vào vốn tín dụng Ngân
hàng.
Với hơn 2.100 hộ sản xuất trên địa bàn thị xã rộng 97km
2
, gồm 5 xã, 4 phường,
cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, việc cho vay hộ sản xuất tại
địa bàn thị xã Hà Giang không chỉ đơn thuần là vốn kinh doanh mà còn phục vụ chính
sách chiến lược của Đảng, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nông thôn, nông dân là
bước đi lên công nghiệp hoá.
Để cho vay được tới hộ sản xuất ở thị xã Hà Giang, thực chất là phải giải quyết
được các vấn đề sau:
Một là về cán bộ tín dụng: Yêu cầu về cán bộ tín dụng phải thực sự toàn diện
trên mọi mặt, phải có trình độ, có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp, có sức khoẻ, có
quan điểm phục vụ nhân dân hết mình.