LUẬN VĂN:
Vốn lưu động và các biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của công ty TNHH
Thương mại Điện tử Hoàng
Lời mở đầu
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, vốn chính là tiền đề tiên quyết, song việc
sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng
của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, bất cứ một doanh nghiệp nào khi sử dụng vốn sản xuất nói
chung và vốn lưu động nói riêng đều phải quan tâm đến hiệu quả mà nó mang lại.
Trong các doanh nghiệp, vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của vốn sản xuất nói
chung và vốn đầu tư nói riêng. Quy mô của vốn lưu động, trình độ quản lí, sử dụng vốn lưu
ty TNHH Thương mại Điện tử Hoàng Sơn.
Chương 1
Vốn lưu động và sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động trong doanh nghiệp
I. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
1. Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động ra
còn phải có đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của ĐTLĐ sẽ thông qua quá trình
chế biến hợp thành thực thể sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản
xuất, ĐTLĐ chỉ có thể tham gia một chu kỳ sản xuất chu kỳ sau lại phải dùng loại ĐTLĐ
khác. Cũng do những đặc điểm trên nên toàn bộ giá trị của ĐTLĐ được chuyển dịch toàn bộ
một lần vào sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện.
ĐTLĐ trong doanh nghiệp được biểu hiện trong hai bộ phận: một bộ phận là những vật
tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục (Nguyên, nhiên vật liệu ) một bộ
phận khác là những vật tư trong quá trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán thành
phẩm ). Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là TSLĐ, còn về hình thái giá
trị được gọi là VLĐ của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp người ta thường chia TSLĐ thành hai loại: TSLĐ trong sản xuất và
TSLĐ trong lưu thông. TSLĐ trong sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng
thay thế, bán thành phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. Còn
TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các
khoản vốn trong thanh toán, các loại chi phí chờ kết chuyển , TSLĐ nằm trong quá trình
sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông thay chỗ nhau vận động không ngừng
nhằm đảm bảo cho quă trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.
quá trình tái sản xuất tiếp theo, VLĐ là điều kiện không thể thiếu được của quá trình tái sản
xuất.
VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, đó là sự phản
ánh quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp sự
vận động của vốn là sự vận động của vật tư, nhìn chung VLĐ nhiều hay ít phản ánh số lượng
vật tư, hàng hoa dự trữ ở các khâu nhiều hay ít; mặt khác VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm
phản ánh số lượng vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông
có hợp lý không. Bởi vậy thông qua tình hình luân chuyển VLĐ còn có thể đánh giá một
cách kịp thời đối với các khía cạnh mua sắm, dự trữ và tiêu thụ của doanh nghiệp.
1.2. Thành phần và kết cấu vốn lưu động
Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý VLĐ có một vấn đề quan trọng,
doanh nghiệp sử dụng VLĐ càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều sản phẩm.
Để quản lý VLĐ đựơc tốt thì cần phải phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau. Thông
thường có các cánh phân loại sau:
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh: Theo cách
phân loại này VLĐ của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại.
- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: Giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ
- VLĐ trong khâu sản suất bao gồm: Các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả
vàng bạc, đá quý ) các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay
ngắn hạn, các khoản vốn trọng thanh toán ( các khoản phải thu, các khoản tạm ứng )
Qua cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của VLĐ trong từng khâu của quá
trình kinh doanh, từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu VLĐ sao cho có hiệu quả.
* Phân loại theo hình thái biểu hiện: Theo phân loại này VLĐ có thể chia thành 2 loại.
-Vốn vật tư hàng hoá là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như
nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số VLĐ được hình thành từ vốn góp liên doanh của
các bên tham gia DN liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện
vật như vật tư hàng hoá theo thoả thuận các bên liên doanh.
- Nguồn vốn đi vay: Là vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín
dụng, vốn vay của người lao động trong DN, vay các DN khác, vốn huy động từ thị trường
vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.
Việc phân loại VLĐ theo nguồn hình thành giúp cho DN tháy được cơ cấu nguồn tài trợ
cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ
đều có chi phí sử dụng của nó, do đó DN cần xem xét cơ cấu nguần tài trợ tối ưu để giảm
thấp chi phí sử dụng vốn.
Từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu VLĐ theo những
tiêu thức khác nhau. Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các
thành phần trong tổng số vốn VLĐ của doanh nghiệp, ở các DN khác nhau thì các số kết cấu
VLĐ cũng không giống nhau. Việc phân tích các kết cấu VLĐ của doanh nghiệp theo các
tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp DN hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về VLĐ mà
mình đang quản lý, sử dụng từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ
có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của DN. Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết
cấu VLĐ trong các thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực và hạn chế
về mặt chất lượng trong công tác quản lý VLĐ của từng DN.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ, có thể quy thành 3 loại là:
+ Những nhân tố về mặt sản xuất: Các doanh nghiệp có quy mô sản xuất khác nhau, tính
chất sản xuất khác nhau, trình độ sản xuất khác nhau, chu kỳ sản xuất khác nhau, trình độ
phức tạp của sản phẩm và những yêu cầu về nguyên liệu, điều kiện sản xuất có ảnh hưởng
đến sự khác nhau về tự trọng VLĐ bỏ vào khâu dự trữ sản xuất và khâu sản xuất.
+ Những nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm: Khoảng cách giữa các doanh
nghiệp với nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng và khối lượng
vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp
i=1 j=1
Trong đó:
Vnc : nhu cầu VLĐ của DN
M : Mức tiêu dùng bình quân một ngày của loại vốn được tính toán.
N : Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán.
i : Số khâu kinh doanh (i= 1, k)
j : Loại vốn sử dụng (j = 1, n)
Mức tiêu hao bình quân một ngày (M) được tính bằng tổng mức tiêu dùng trong kỳ (theo
dự tính chi phí) chia cho số ngày trong kỳ (360).
Số ngày luân chuyển một loại vốn (N) được xác định căn cứ vào các nhân tố liên quan về
số ngày luân chuyển của loại vốn đó trong từng khâu tương ứng.
- Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất.
VLĐ trong khâu sản xuất bao gồm giá trị các nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ lao động nhỏ.
+ Đối với nhu cầu vốn nguyên vật liệu chính:
Vnl = Fnl*Nnl
Trong đó:
Vnl : Nhu cầu vốn nguyên liệu chính năm kế hoạch.
Fnl : Chi phí tiêu hao bình quân ngày về nguyên liệu chính kỳ kế hoạch
Nnl : Số ngày dự trữ hợp lý về nguyên vật liệu chính.
Mnl : Được xác định bằng cách lấy tổn chi phí sử dụng nguyên vật liệu chính trong
năm kế hoạch chia cho số ngày trong năm.
Nnl : Là số ngày kể từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua cho đến khi đưa nguyên vật
liệu vào sản xuất. Bao gồm số ngày hàng đi trên đường, số ngày nhập kho cách nhau sau khi
Pn : Được tính bằng mức tổng mức chi phí chi ra chia cho số ngày trong kỳ.
Ck : Là khoảng thời gian kể từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất cho đến khi
chế tạo xong và kiểm tra nhập kho.
Hs : Là tỷ lệ phần trăm giữa giá thành bình quân sản phẩm đang chế tạo và giá
thành sản xuất sản phẩm.
+ Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển (chi phí phân bổ dần - Vpb). Chi phí chờ
kết chuyển là khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào giá thành sản phẩm
trong kỳ mà được phân bổ dần vào nhiều kỳ tiếp theo để phản ánh đúng đắn tác dụng của chi
phí mà không gây biến động lớn đến gíá thành sản phẩm, gồm chi phí sửa chữa lơn, chi phí
nghiên cứu, thí nghiệm, chế thử sản phẩm Để xác định vốn phân bổ phải căn cứ vào số dư
chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ, số chi phí chờ kết chuyển dự kiến phát sinh trong kỳ và số chi
phi chờ kết chuyển dự kiến phân bổ vào thành giá sản phẩm trong kỳ.
Công thức tính
VPb = Vpd + Vpt - Vpg
Trong đó
Vpb : Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch.
Vpd : Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ.
Vpt : Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ.
Vpg : Vốn chi phí chờ kết chuyển vào giá thành trong kỳ.
- Xác định nhu cầu VLĐ trong khâu lưu thông
Là nhu cầu VLĐ để lưu giữ bảo quản sản phẩm, thành phẩm ở kho với quy mô cần thiết
trước khi xuất giao cho khách hàng.
Công thức tính
Vtp = Ztp*Ntp
Trong đó:
Vtp : Vốn thành phẩm kỳ kế hoạch
Ztp : Giá thành sản xuất sản phẩm hàng hoá bình quân một ngày.
VLo : Số dư bình quân VLĐ năm báo cáo.
t% : Tỉ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch so với
năm báo cáo.
K
1
- K
0
t% = * 100%
K
0
Trong đó:
t% : Tỉ lệ giảm hoặc tăng số ngày luân chuyển VLĐ.
K
0
: Kì luân chuyển VLĐ năm kế hoạch.
K
1
: Kì luân chuyển VLĐ năm báo cáo.
Sau khi xác định được nhu cầu VLĐ, để xác định nhu cầu VLĐ cần thiết cho năm kế
hoạch cho từng khâu kinh doanh (dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu thông) theo phương pháp
tính toán gián tiếp trên, doanh nghiệp có thể căn cứ vào tỉ trọng VLĐ được phân bổ hợp lý
trên các khâu kinh doanh theo thống kê kinh nghiệm ở các năm trước bằng cách:
Khâu dự trữ sản xuất : Vdt = %DT*Vnc
Khâu sản xuất : Vsx = %SX*Vnc
Khâu lưu thông : Vlt = %LT*Vnc
doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ NSNN, vốn
do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp cổ phẩn, vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi
nhuận Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp, tỉ trọng vốn
chủ sở hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao.
- Các khoản nợ: Là các khoản VLĐ được hình thành từ các khoản vay của các ngân hàng
thương mại hay tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách
hàng chưa thanh toán
* Phân loại căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn vồn VLĐ của doanh
nghiệp chia thành 2 loại:
- Nguồn VLĐ thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn, bao gồm
vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết
của doanh nghiệp.
Nguồn VLĐ thường xuyên = Tổng TSLĐ - Nợ ngắn hạn
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các khoản vay ngắn hạn
ngân hàng và các tổ chức tính dụng khác, các khoản nợ ngắn hạn được dùng để đáp ứng
nhu cầu VLĐ có tính chất tạm thời, bất thường, phát sinh trong quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nguồn VLĐ tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
* Phân loại theo phạm vi huy động vốn: VLĐ được hình thành từ hai nguồn:
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân
doanh nghiệp bao gồm: Vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh doanh, các quĩ của
doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản Sử dụng triệt để nguồn vốn
bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã phát huy được tính chủ động trong quản lí và
sử dụng VLĐ của mình.
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động từ
bên ngoài, gồm: Vốn của bên liên doanh, vốn vay các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín
dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp, nợ khách hàng và các
Trên thực tế, trong những năm qua, hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói
riêng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNTN đạt thấp. Nguyên nhân chính là các doanh
nghiệp chưa bắt kịp với kinh tế thị trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lí và sự
dụng vốn Việc tổ chức quản lí, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là khâu quan trọng của
công tác quản lí tài chính, là vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế. Vì vậy, nền kinh tế muốn phát triển
thì doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả. Việc sử dụng có hiệu quả VLĐ là một nhân tố
tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Do đó, việc nâng cao hiệu
quả sử dụng VLĐ có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
2. Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn lưu
động của doanh nghiệp
Tình hình tổ chức quản lí, sử dụng và hiệu quả sử dụng VLĐ cao hay thấp đều có ảnh
hưởng rất lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay
xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kỳm hãm với việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ; để có
những đánh giá sâu hơn về hiệu quả VLĐ của doanh nghiệp người ta xem xét trên một số chỉ
tiêu.
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đây là những chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như các nhà đầu tư, người cho vay,
các nhà cung cấp Họ luôn đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ
đến hạn không.
- Hệ số nợ: Là một chỉ tiêu tài chính phản ánh trong một đồng vốn hiện nay doanh
nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng vốn nợ.
Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn
Hệ số nợ cao không tốt cho doanh nghiệp, hệ số nợ hợp lý là tốt nhất, còn hệ số nợ thấp
thể hiện tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Số vòng quay hàng tồn kho
- Vòng quay các khoản phải thu: Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành
tiền mặt của doanh nghiệp.
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản nợ càng nhanh. Đó là biểu hiện
tốt đối với tình hình quản lí và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Kì thu tiền trung bình (số ngày của một vòng quay khoản phải thu): Phản ánh số ngày
cần thiết để thu được các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu
tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại.
360
Kỳ thu tiền trung bình =
Vòng quay các khoản phải thu
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bất cứ một doanh nghiệp nào khi sử dụng vốn
vào sản xuất nói chung và VLĐ nói riêng đều phải quan tâm đến hiệu quả mang lại. Để
đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp người ta thường sử dụng các chỉ
tiêu chủ yếu sau:
a. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hợp lí, tiết kiệm VLĐ được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển VLĐ
của doanh nghiệp nhanh hay chậm. VLĐ luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng VLĐ
của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển VLĐ được đo bằng hai chỉ tiêu, đó là: Số lần luân chuyển (số vòng
quay VLĐ) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay VLĐ).
Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm dương lịch)
VLĐ
1
> VLĐ
0
M
1
* (K
1
- K
0
)
Vtk =
360
Trong đó:
Vtk : VLĐ tiết kiệm
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch
K
0
, K
1
: Kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo, năm kế hoạch
c. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
VLĐ của doanh nghiệp trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân
chuyển và biểu hiện dưới các hình thái khác nhau. Trong quá trình vận động, VLĐ chịu ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố, những nhân tố này tác động không nhỏ tới hiệu quả sử dụng VLĐ
- Về mặt khách quan: Hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một
số nhân tố.
+ Lạm phát: Do tác động của nền kinh tế có lạm phát hoặc thiểu pháp, sức mua của đồng
tiền bị giảm sút dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng hoá Vì vậy, nếu doanh nghiệp
không kịp điều chỉnh kịp thời giá trị của các loại tài sản thì sẽ làm cho VLĐ bị mất theo tốc
độ trượt giá của tiền tệ.
+ Rủi ro: Do những rủi ro bất thường trong quá trình SXKD mà các doanh nghiệp
thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trường có nhiều thành phần
kinh tế tham gia cùng cạnh tranh với nhau. Ngoài ra, doanh nghiệp còn gặp phải những rủi
ro do thiên tai gây ra như hoả hoạn, lũ lụt mà các doanh nghiệp khó có thể lường trước
được.
+ Ngoài ra, do chính sách vĩ mô của nhà nước có sự thay đổi về chính sách chế độ, hệ
thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.
- Về mặt chủ quan: Ngoài những nhân tố khách quan còn có rất nhiều nhân tố chủ quan
của chính bản thân doanh nghiệp, làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ cũng như toàn
bộ quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp như:
+ Xác định nhu cầu VLĐ: Do xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính xác dẫn đến tình trạng
thừa hoặc thiếu vốn trong SXKD, ảnh hưởng không tốt tới quá trình hoạt động sản xuất cũng
như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Việc lựa chọn các phương án đầu tư: Là nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra những sản phẩm lao
vụ, dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời hạ giá
huy động vốn bên ngoài nhưng nếu sử dụng vốn không hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ gặp khó
khăn vì phải trả chi phí sử dụng vốn, chịu sự giám sát của chủ nợ làm hiệu quả SXKD giảm.
- Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm cùng với các bộ phận sản xuất, không ngừng
nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng cường
công tác tiếp thị, quảng cáo
- Ngoài ra, doanh nghiệp phải chú ý làm tốt công tác thanh toán công nợ, tránh tình trạng
bán hàng khong thu được tiền, vốn bị chiếm dụng, gây nên nợ khó đòi làm thất thoát VLĐ.
Để đề phòng rủi ro, doanh nghiệp nên mua bảo hiểm và lập quỹ dự phòng tài chính
- Tăng cường phát huy vai trò của tài chính trong việc quản lý và sử dụng VLĐ, thực
hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng vốn
ở tất cả các khâu dự trữ hàng tồn kho đmả bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, kiểm
tra việc tiêu thụ sản phẩm, kiểm tra việc chi trả cho người bán, thanh toán với người mua
- Tăng cường bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lí nhất là đội ngũ
cán bộ quản lí tài chính. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ tài chính phải năng động, nhạy bén với thị
trường, mặt hàng. Huy động linh hoạt các nguồn vốn có lợi nhất để phục vụ cho quá trình
SXKD của doanh nghiệp.
Trên đây là một số biện phát nhằm nâng cao hiệu quả tó chức quản lí và sử dụng VLĐ ở
doanh nghiệp. Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm khác nhau (trong từng
ngành, nghề và trong toàn bộ nền kinh tế) nên doanh nghiệp cần căn cứ vào những phương
hướng và biện pháp cụ thể có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ
của mình, phục vụ cho mục đích SXKD. Sau đây là những nghiên cứu cụ thể về việc tổ chức
quản lí và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ tại công ty TNHH Thương mại Điện tử Hoàng
Sơn.