LUẬN VĂN:
Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài
chính tại cͪ ng ty cổ phần bao bì tiền phong
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường kinh doanh ngày nay đang ngày một mở rộng hơn, một mặt mang lại
những lợi ích dài hạn để doanh nghiệp phát triển thông qua mở rộng thị trường và đổi
mới cơ chế quản lý và kinh doanh theo yêu cầu cạnh tranh, mặt khác sẽ là những thách
thức không nhỏ đối với khả năng của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu
Nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp bao gồm 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và quản lý tài chính trong doanh
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính của Công ty cổ phần bao bì Tiền Phong.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần bao bì Tiền
Phong.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.2.2. Chức năng giám đốc bằng tiền
Bên cạnh chức năng phân phối thì tài chính doanh nghiệp còn có chức năng giám
đốc bằng tiền. Chức năng này không thể tách khỏi chức năng phân phối, nó giúp cho
chức năng phân phối diễn ra có hiệu quả nhất. Kết quả của mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đều được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính như thu, chi,
lãi, lỗ… Các chỉ tiêu tài chính này tự thân nó đã phản ánh được tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh cũng như tình hình thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của doanh
nghiệp và còn giúp các nhà quản lý đánh giá được mức độ hợp lý và hiệu quả của quá
trình phân phối, để từ đó có thể tìm ra được phương hướng và biện pháp điều chỉnh để
đạt được hiệu quả cao hơn trong kỳ kinh doanh tiếp theo.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa hai chức năng của tài chính doanh nghiệp
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chức năng phân phối là tiền đề của hoạt động sản
xuất kinh doanh, nó xảy ra trước và sau một chu trình sản xuất kinh doanh. Chức năng
giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng phân phối, ở đâu có sự phân phối thì ở đó có
giám đốc bằng tiền và có tác dụng điều chỉnh quá trình phân phối cho phù hợp với điều
kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hai chức năng này cùng tồn tại và hỗ trợ cho
nhau để hoạt động tài chính doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.3. Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1. Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp
muốn xuất hiện trên thị trường thì trước tiên doanh nghiệp phải có được giấy phép hoạt
động do Nhà nước cấp và doanh nghiệp muốn tồn tại thì mọi hoạt động của doanh nghiệp
phải diễn ra trên khuôn khổ của hiến pháp, pháp luật do Nhà nước quy định. Doanh
nghiệp vừa nhận được các lợi ích từ Nhà nước vừa phải chịu các nghĩa vụ đối với Nhà
nước. Doanh nghiệp có thể nhận được những khoản trợ cấp của Nhà nước, sự hỗ trợ về
cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn thông qua các khoản cho vay ưu đãi và doanh
nghiệp cũng có thể nhận được sự bảo trợ của Nhà nước trên thị trường trong nước và
quốc tế… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ đối với
của quá trình này có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên
thị trường. Thông qua thị trường này doanh nghiệp có thể tiêu thụ được các sản phẩm mà
mình sản xuất ra cũng như mua các sản phẩm của các doanh nghiệp khác mà mình có nhu
cầu. Quá trình này giúp cho thị trường hàng hoá vô cùng đa dạng và luôn luôn phát triển.
- Mối quan hệ với thị trường lao động: Các sản phẩm được tạo ra trên thị trường chính là
kết tinh của sức lao động. Chính vì vậy mà thị trường lao động có mối quan hệ rất mật
thiết với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp là nơi thu hút và giải quyết công ăn việc làm
cho một số không nhỏ người lao động. Ngược lại, thị ttrường lao động lại là nơi cung cấp
cho doanh nghiệp những doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, là cầu nối
giữa người lao động và doanh nghiệp.
- Mối quan hệ với các thị trường khác: Bên cạnh các thị trường trên thì doanh nghiệp còn
có mối quan hệ với rất nhiều thị trường khác như thị trường khoa học công nghệ, thị
trường tư liệu sản xuất, thị trường bất động sản, thị trường thông tin… Đối với các thị
trường này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là nhà cung ứng các dịch vụ đầu vào vừa đóng
vai trò là khách hang tiêu thụ các sản phẩm đầu ra.
Duy trì và phát triển được các mối quan hệ với các thị trường này sẽ giúp cho
doanh nghiệp chủ động hơn trong mọi hoạt động của mình trên thị trường.
1.1.3.3. Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
Trong nội bộ doanh nghiệp cũng phát sinh rất nhiều mối quan hệ như mối quan hệ
giữa các bộ phận sản xuất- kinh doanh trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các phòng ban,
quan hệ giữa người lao động với người lao động trong quá trình làm việc, quan hệ giữa
doanh nghiệp với người lao động, quan hệ giữa doanh nghiệp với người quản lý doanh
nghiệp, quan hệ giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn…
Các mối quan hệ này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và doanh nghiệp có
thể kiểm soát được. Nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ này thì sẽ tạo được
động lực rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khi đó hoạt
động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trôi chảy, các thành viên đều có trách nhiệm đối với
hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả
hơn. Chính vì vậy, các nhà quản lý cần phải nắm vững tầm quan trọng của các mối quan
tài chính nảy sinh, đòi hỏi các nhà quản lý phải nhạy bén và năng động để đưa ra các
quyết định kịp thời và khoa học để giải quyết các vấn đề đó, có như vậy mới đảm bảo cho
doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Để tồn tại và phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở công tác hoạch định cả về mặt chiến lược và
chiến thuật. Về mặt chiến lược phải xác định rõ mục tiêu kinh doanh, các hoạt động dài
hạn và các chính sách tài chính của doanh nghiệp. Về mặt chiến thuật phải xác định
những công việc trong thời hạn ngắn, cụ thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của
doanh nghiệp. Các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật của doanh nghiệp được
lựa chọn chủ yếu trên cơ sở của sự phân tích, cân nhắc về mặt tài chính.
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản lý doanh nghiệp, thực
hiện các nội dụng cơ bản của quản lý tài chính đối với các quan hệ phát sinh trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu doanh nghiệp đã đề ra.
Quản lý tài chinh doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân tích và xử lý
mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ tài chính giúp các
nhà quản lý đưa ra được những quyết định tài chính đúng đắn và mang lại hiệu quả cao
cho doanh nghiệp.
1.2.3. Nội dung cơ bản về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.2.3.1. Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các
khâu khác trong quá trình quản lý tài chính. Khâu này sẽ là cơ sở cho việc lựa chọn các
phương án hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong tương lai và cũng đồng thời là căn
cứ để tiến hành kiểm tra, kiểm soát các bộ phận trong tổ chức.
Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5 bước như
sau:
Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường
Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu các nhân
tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xác định được
các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh
phức tạp có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mọi hoạt động của tổ nên hoạt động kiểm
tra tài chính lại càng trở nên quan trọng và cần được tổ chức đúng quy trình và nghiêm
túc. Kiểm tra tài chính giúp cho cơ quan quản lý theo dõi thực hiện các quyết định tài
chính được ban hành và giúp ngăn chặn, sửa chữa kịp thời những sai sót trong việc thực
hiện quyết định của cấp trên.
Nội dung của kiểm tra tài chính gồm 3 giai đoạn:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
1.2.3.3. Quản lý vốn luân chuyển
Quản lý vốn luân chuyển bao gồm 3 nội dung quan trọng là: Quản lý vốn cố định,
Quản lý vốn lưu động và Quản lý vốn đầu tư tài chính.
- Quản lý vốn cố định
Vốn cố định là tổng lượng tiền khi tiến hành định giá tài sản cố định. Tài sản cố
định là những tư liệu lao động có giá trị sử dụng trong thời gian dài, tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vật chất không thay đổi từ khi đưa vào sản xuất cho
đến khi thanh lý. Để quản lý vốn cố định một cách có hiệu quả, tổ chức cần thực hiện
những nhiệm vụ sau:
+ Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo chu kỳ và
phải đảm bảo chính xác.
+ Dựa vào đặc điểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tài sản của Bộ
Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thu hồi vốn nhanh,
khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý.
+ Thường xuyên đổi mới, nâng cấp để không ngừng nâng cao hiệu suất sản xuất của tài
sản cố định.
+ Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán, đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn cố định. Từ đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biện pháp khắc phục
những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tài sản cố định.
- Quản lý vốn lưu động
nhiên không thể xuất phát một chiều hoàn toàn từ những khả năng tài chính hiện có để kế
hoạch hoá mở rộng sản xuất. Điểm xuất phát của kế hoạch hoá tái sản xuất mở rộng là
việc tiến hành những dự đoán: Sự phát triển nhu cầu, những thay đổi trong quy trình công
nghệ của sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài
nước, những sự hoàn thiện nhằm mục đích tăng khối lượng sản xuất sản phẩm đang có
ưu thế trên thị trường và tổng lợi nhuận. Quán triệt quan điểm này, doanh nghiệp phải
một mặt chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, mặt khác huy động các
nguồn vốn khác bằng các hình thức linh hoạt và sử dụng vốn vay một cách thận trọng và
hợp lý.
- Quản lý vốn đầu tư tài chính
Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu, trái
phiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác để góp phần đảm
bảo cho nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng thu nhập cho doanh
nghiệp. Trong xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại thì đầu tư tài chính ngày càng
phát triển và mang lại lợi ích ngày càng lớn cho các doanh nghiệp. Chính vì thế hoạt
động quản lý vốn đầu tư tài chính ngày càng có vai trò quan trọng đối với các doanh
nghiệp.
1.2.3.4. Phân tích tài chính
Phân tích tài chính là “một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho
phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh
nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp
người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp”
1
.
Từ khái niệm phân tích tài chính như vậy, ta có thể thấy rằng phân tích tài chính là
một vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp và cũng đòi hỏi cả một quá
trình nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học và kỹ lưỡng. Để hoạt động phân tích tài
chính đạt được hiệu quả thì yêu cầu nguồn dữ liệu cung cấp phải chính xác, người tiến
hành phân tích phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng làm việc nhất định.
trình phân tích rất đa dạng và cần được kết hợp một cách hợp lý. Trong tất cả các tài liệu
được sử dụng thì Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng và được sử dụng chủ yếu để
phân tích tài chính. Báo cáo tài chính thể hiện toàn bộ tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và là nơi để cung cấp nguồn thông tin chính xác và thiết thực
cho các chủ thể cả trong doanh nghiệp lẫn ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là một
tài liệu được xây dựng qua quá trình tính toán tỉ mỉ và chi tiết, có sự kết hợp của tất cả
các bộ phận trong doanh nghiệp nên các thông tin trong đó rất cụ thể, chính xác và phản
ánh đúng tình hình của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính có 3 loại là: Bảng cân đối kế
toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
c) Nội dung phân tích tài chính
Phân tích tình hình tài chính là vô cùng quan trọng, do đó khi tiến hành phân tích phải
đảm bảo được các nội dung sau:
- Phân tích khái quát một số vấn đề:
+ Phân tích tình hình diễn biến tài sản và kết cấu tài sản của doanh nghiệp.
+ Phân tích kết cấu nguồn vốn, diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng nguồn vốn
của doanh nghiệp.
+ Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phân tích tình hình thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Phân tích các nhóm chỉ tiêu đặc trưng tài chính của doanh nghiệp.
d) Các chỉ tiêu tài chính
Việc phân tích các đặc trưng tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà lãnh đạo và
bộ phận tài chính doanh nghiệp thấy được tình hình của đơn vị mình và chuẩn bị căn cứ
lập kế hoạch cho thời kỳ tương lai, giúp cho các ngân hàng hay các nhà đầu tư xem xét
tình hình doanh nghiệp và có các quyết định thích hợp trong lĩnh vực của mình.
Có 4 nhóm chỉ tiêu đặc trưng tài chính của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: Chỉ
tiêu về khả năng thanh toán
Chỉ tiêu về kết cấu tài chính( tỷ trọng nợ )
Chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực
Chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận
Hệ số góp vốn là chỉ tiêu đặc trung về kết cấu tài chính của doanh nghiệp. Hệ số
góp vốn đo lường sự góp vốn của những chủ sở hữu doanh nghiệp so với sự tài trợ của
những người cho vay( Ngân hàng, người mua trái phiếu doanh nghiệp…). Nếu vốn tự có(
góp cổ phần, ngân sách cấp, tự bổ sung bằng lợi nhuận) chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong sự tài
trợ vốn cho doanh nghiệp thì tính rủi ro của hoạt động doanh nghiệp sẽ do những người
cho vay gánh chịu là chính.
Hệ số nợ
Hệ số nợ được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các
chủ nợ, được tính như sau:
Tổng số nợ của doanh nghiệp bao gồm các khoản phải trả, các khoản nợ ngân
hàng, các khoản phải nộp ngân sách nhưng chưa nộp, các khoản phải trả công nhân viên,
số nợ qua việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp. Hệ số nợ càng nhỏ thì càng tốt đối
với doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán lợi tức vay
Vốn bằng tiền + Các khoản phải thu
Tổng số nợ trong hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
Hệ số nợ =
Tổng số nợ của doanh nghiệp
Tổng số vốn của doanh nghiệp Nếu hệ số thanh toán lợi tức vay thấp thì doanh nghiệp sẽ khó có khả năng bổ
sung vốn kinh doanh bằng đi vay vì không có khả năng trả lợi tức vay. Do đó hệ số này
càng cao càng tốt đối với doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực
Các hệ số kinh doanh có tác dụng đo lường xem doanh nghiệp khai thác, sử dụng
các nguồn lực có hiệu qủa như thế nào.
Số dư bình quân vốn lưu động của
doanh nghiệp trong kỳ
=
Số vòng quay vốn lưu động cho biết một đồng tài sản lưu động tạo ra bao nhiêu
đồng doanh thu trong kỳ phân tích. Đối với các doanh nghiệp thì chỉ tiêu này càng lớn
càng tốt.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định cho biết đầu tư một đồng vào tài sản cố định thì tạo
ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ phân tích. Chỉ tiêu này càng cao thì càng hiệu
quả đối với doanh nghiệp.
Hiệu suất sử dụng
vốn cố định
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Số dư bình quân vốn cố định
=
Hệ số vòng quay toàn bộ vốn
Hệ số vòng quay toàn bộ vốn hay hiệu suất sử dụng tổng tài sản cho biết một đồng
đầu tư tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận
Doanh lợi sản phẩm tiêu thụ
Nếu doanh lợi sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp nhỏ hơn mức trung bình của
nghành có nghĩa là giá bán sản phẩm của doanh nghiệp thấp hơn hoặc chi phí sản xuất và
tiêu thụ của doanh nghiệp cao hơn mức trung bình của ngành.
Doanh lợi vốn
Để tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp tiến hành việc đầu tư tài chính ra bên
ngoài. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường luôn biến động như ngày nay thì những
quyết định này càng trở nên khó khăn và mức độ rủi ro cũng tăng. Do đó các nhà quản lý
tài chính cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trước khi đưa ra các quyết định đầu tư,
đảm bảo duy trì và phát triển nguồn tài chính của doanh nghiệp. Nhà quản lý đưa ra các
quyết định đầu tư dựa trên cơ sở lựa chọn các phương án căn cứ vào các chỉ tiêu cụ thể
bao gồm cả đầu tư vào doanh nghiệp lẫn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp để các quyết định
đầu tư thực sự đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.
1.2.4. Các nguyên tắc trong quản lý tài chính
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu
quả thì phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định. Tuân thủ các nguyên tắc trong quản
lý tài chính sẽ góp phần đảm bảo cho doanh nghiệp có được tiềm lực tài chính vững
mạnh, thúc đẩy cho sự phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, công tác quản lý tài chính
của doanh nghiệp cần phải đảm bảo thực hiện những nguyên tắc sau:
Thu nhập cổ phần =
Lợi nhuận ròng
Số lượng cổ phiếu thường
Một là, tôn trọng pháp luật
Mọi loại hình doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì phải được Nhà
nước cho phép và tuân thủ đúng luật pháp nước sở tại. Do đó tôn trọng luật pháp là
nguyên tắc bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Vì thế Nhà nước thông qua các
công cụ quản lý vĩ mô của mình như luật pháp, các chính sách tài chính… để quản lý các
doanh nghiệp cũng như quảnlý công tác quản lý tài chính tại các doanh nghiệp nhằm đảm
bảo lợi ích, sự công bằng cũng như thực hiện những trách nhiệm của mọi chủ thể trong
nền kinh tế.
Hai là, tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh
Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất quyết định sự sống còn của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, doanh nghiệp
cần đảm bảo lấy thu bù chi và đảm bảo có doanh lợi. Do đó, các doanh nghiệp cần phải
2.1. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ TIỀN PHONG
Công ty cổ phần bao bì Tiền Phong có tên giao dịch quốc tế TIFOPACK.
Địa chỉ: Số 2 An Đà, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Điện thoại: 031.385.2073 – 3640973
Số Fax: 84.31.640.133
Tài khoản: 10390.0 Ngân hàng INDOVINA Hải Phòng.
Mã số thuế: 0200590620
Công ty CP bao bì Tiền Phong( sau đây gọi là “Công ty”) là một công ty cổ phần
hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Vốn điều lệ của Công ty là 4.000.000.000 VND.
Trong đó, Nhà nước nắm 40% cổ phần. 23,33% số cổ phần được bán cho lao động trong
Công ty và 36,67% số cổ phần bán cho các đối tượng ngoài Công ty.
Công ty chuyên sản xuất các loại bao PP, bao xi măng và các loại mành KP phục
vụ cho việc đóng gói lương thực, thực phẩm, hoá chất, phân bón, xi măng… Gần đay
Công ty có nhập thêm dây chuyền sản xuất ống nhựa PVC dùng cho gia dụng và các
công trình xây dựng.
Tổng số lao động thực tế của Công ty là 139 người. Trong đó, lao động gián tiếp là 29
người, lao động trực tiếp là 110 người được chia thành 8 tổ sản xuất.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần bao bì Tiền Phong tiền thân là Công ty liên doanh sản xuất bao bì
VINAPAC, tên giao dịch là VINAPAC CO.,LTD, được thành lập vào ngày 26 tháng 11
năm 1992 theo giấy phép đầu tư 471/GP của UB Nhà nước về hợp tác và đầu tư, nay là
Bộ kế hoạch và đầu tư, gồm 4 bên tham gia với số vốn 3.550.000 USD ( Vốn pháp định
2.000.000USD):
- Liên hiệp sản xuất xuất nhập khẩu nhựa VINAPLAST
- SUMITOMO CORPORATION (Nhật Bản)
- SUMITOMO CORPORATION (SINGAPORE) PTE.LTD (Singapore)
- TEGO SENDIRIAN BERHAD (Malaysia)
Tình hình hoạt động của Công ty liên doanh gặp nhiều khó khăn và luôn bị thua lỗ