LUẬN VĂN: NGHIÊN CỨU TÍCH HỢP HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUÁ TRÌNH GIAO VẬN TRONG NGÂN HÀNG - Pdf 15

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
VŨ MINH TUẤN

NGHIÊN CỨU TÍCH HỢP HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT QUÁ TRÌNH GIAO VẬN
TRONG NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ



Mã số: 60 48 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NGỌC HOÁ
HÀ NỘI - 2011

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm của riêng cá
nhân tôi. Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bày hoặc là
của cá nhân hoặc là được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu. Tất cả các tài liệu tham
khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định cho lời cam đoan của
mình.

Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2011

Mục lục
DANH MỤC HÌNH VẼ 7
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIS VÀ CÔNG NGHỆ GPS 11
1. Giới thiệu chung 11
2. Tổng quan về GIS 11
2.1 Khái niệm 11
2.2 Biểu diễn dữ liệu không gian 12
2.3 Cấu trúc của hệ thống thông tin địa lý 13
2.4 Các chức năng của GIS 17
2.5 Các phép chiếu 18
2.6 Một số ứng dụng của GIS 21
3. Tổng quan về hệ thống định vị toàn cầu 22
3.1 Cấu trúc của hệ thống định vị toàn cầu GPS 22
3.2 Nguyên lý định vị GPS 23
3.3 Các ứng dụng của GPS 26
4. Kết luận 29
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TÍCH HỢP HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUÁ TRÌNH
GIAO VẬN TRONG NGÂN HÀNG 30
1. Bài toán đặt ra 30

4. Thực nghiệm 51
4.2 Đánh giá 55
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Dạng Vector và Raster 12

Hình 1.2: Mô hình chức năng của GIS 13

Hình 1.3: Mặt chiếu hình nón
19

Hình 1.4: Mặt chiếu hình trụ
20

Hình 1.5: Các vị trí của mặt phẳng phương vị 20

Hình 1.6: Xác định hiệu số giữa các thời điểm
24

Hình 2.1: Quy trình giao vận trong ngân hàng
31

Hình 2.2: Mô hình tích hợp hệ thống
36

Hình 2.3: Mô hình hệ thống thông tin đi động GSM
38

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
GPS Global Positioning System
GIS Geographic Information System
DBMS Database Management System
DDS Decision support system
ISP Internet Service Provider
ICAO International Civil Aviation Organization
GSM Global System for Mobile Communications
BIDV Bank for Intevestment and Development Of VietNam
UC Usercase
BD Brief description
Ex Exception
FE Flow of Event
CSDL Cơ sở dữ liệu
HSC Hội sở chính
PGD Phòng giao dịch
QTK Quỹ tiết kiệm
9

MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh
chóngcủa các định chế tài chính, các ngân hàng. Trong những năm gần đây các định chế
tài chính, các ngân hàng đã liên tục mở rộng quy mô hoạt động, gia tăng số lượng chi
nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm. Đi đôi với sự phát triển này là nhu cầu vận
chuyển các hàng hóa có giá trị lớn như:tiền mặt, giấy tờ có giá, vàng giữa trụ sở chính
của ngân hàng với các chi nhánh, giữa chi nhánh ngân hàng nhà nước với các ngân hàng
thương mại tăng cao.Nhu cần đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối các đối tượng được
vận chuyển giữa các điểm giao dịch trong các ngân hàng, tổ chức tài chính.

o Nghiên cứuxây dựng quy trình chung và đặc tả chi tiết quá trình giao
vận trong ngân hàng.
o Tích hợp công nghệ trong quá trình giao vận: Nghiên cứu các phần mềm
GIS hỗ trợ lập trình, tìm hiểu thiết bị GPS.
- Chương 3.Thực nghiệm: Chương này trình bày những kết quả thực nghiệmvới
hệ thống kiểm soát quá trình giao vận cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV)gồm các chức năng chính như:
o Quản lý bản đồ
o Khai báo lộ trình khi có xe mới. Hoặc khai báo lại lộ trình của xe
o Giám sát được chính xác vị trí và các tình huống xảy ra như: Xe đỗ tại
một vị trí quá lâu, xe đi không đúng lộ trình đề ra
o Quản lý nhân viên và xe chở tiền
Phần cuối của luận văn được tác giả tóm tắt những đóng góp chính của luận văn,
đồng thời trình bày một số hướng phát triển kế tiếp của luận văn.


nên trong thời gian ngắn.Do vậy, để có thể khai thác hiệu quả lượng dữ liệu to lớn này,
đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ GIS vào việc lưu trữ, xử lý, quản lý, truy cập và biểu
diễn chung. Đó chính là mối liên quan giữa GIS và GPS được đề cập và tìm hiểu, ứng
dụng ở luận văn này.
2. Tổng quan về GIS
2.1 Khái niệm
Hệ thống thông tin địa lý - GIS là một hệ thống để quản lý và khai thác bản đồ,
phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất. Công nghệ GIS kết hợp các thao tác
cơ sở dữ liệu thông thường (như cấu trúc hỏi đáp) và các phép phân tích thống kê, phân
tích địa lý, trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh được cung cấp duy nhất từ các
bản đồ. Những khả năng này phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác và khiến cho
GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tích các sự kiện,
dự đoán tác động và hoạch định chiến lược).
Hiện nay, những thách thức chính mà chúng ta phải đối mặt - bùng nổ dân số, ô
nhiễm, phá rừng, thiên tai-chiếm một không gian địa lý quan trọng.Khi xác định một
công việc kinh doanh mới (như tìm một khu đất tốt cho trồng chuối, hoặc tính toán lộ
trình tối ưu cho một chuyến xe khẩn cấp), GIS cho phép tạo lập bản đồ, phối hợp thông
tin, khái quát các viễn cảnh, giải quyết các vấn đề phức tạp, và phát triển các giải pháp
hiệu quả mà trước đây không thực hiện được. GIS là một công cụ được các cá nhân, tổ
chức, trường học, chính phủ và các doanh nghiệp sử dụng nhằm hướng tới các phương
thức mới giải quyết vấn đề.
Việc thể hiện những dữ liệu liên quan đến thông tin địa lý trong GIS chủ yếu được
sử dụng hai dạng cơ bản sau:
12

 Dữ liệu không gian: mô tả vị trí tương đối và tuyệt đối của một đặc tính địa lý.
 Dữ liệu thuộc tính: mô tả các tính chất của dữ liệu không gian và liên quan. Các tính
chất này có thể là số lượng hay chất lượng trong tự nhiên. Dữ liệu thuộc tính thường
được mô hình hoá bằng mô hình quan hệ.
2.2 Biểu diễn dữ liệu không gian


Hình 1.2 Mô hình chức năng của GIS
2.3.1 Dữ liệu không gian
Dữ liệu không gian cỏ thể đến từ nhiều nguồn, có các nguồn tư liệu sau: số liệu
tính toán thống kê, báo cáo, các quan trắc thực địa, ảnh vệ tinh, ảnh máy bay, bản đồ
giấy (dạng analog). Kỹ thuật hiện đại về viễn thám và hệ thống thông tin địa lý có khả
năng cung cấp thông tin không gian bao gồm các thuộc tính địa lý, khuôn dạng dữ liệu,
tỷ lệ bản đồ và các số liệu đo đạc. Việc tích hợp các tư liệu địa lý từ nhiều nguồn khác
nhau là đặc điểm cơ bản của một phần mềm GIS.
Thông thường, tư liệu không gian được trình bày dưới dạng các bản đồ giấy với
các thông tin chi tiết được tổ chức ở một file riêng. Các tư liệu đó không đáp ứng được
các nhu cầu hiện nay về tư liệu không gian là vì những lý do sau:
 Đòi hỏi không gian lưu trữ rất lớn, tra cứu khó khăn. Để nhập và khai thác dữ liệu,
nhất thiết phải liên kết được với các thông tin địa lý trên bản đồ và các dữ liệu
14

thuộc tính khác được lưu trữ riêng biệt và điều này trở nên rất khó khăn với hình
thức lưu trữ dạng kho hoặc thư viện.
 Các khuôn dạng lưu trữ truyền thống thường không tương thích với các tiêu chuẩn
dữ liệu hiện nay. Thay thế cho các dữ liệu dạng truyền thống, hiện nay tư liệu dạng
số với một khối lượng rất lớn có thể được lưu trữ trong các đĩa CD, tương ứng với
những khối lượng rất lớn của tư liệu analoge. Tư liệu số còn cho khả năng xử lý tự
động trên máy tính.
Như vậy, hệ thống thông tin địa lý là sự phát triển đặc biệt để sử dụng công nghệ và
nghệ thuật máy tính trong việc xử lý tư liệu không gian dạng số.[1]
2.3.2 Người điều hành
Vì hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống tổng hợp của nhiều công việc kỹ thuật,
do đó đòi hỏi người điều hành phải được đào tạo và có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh
vực. Người điều hành là một phần không thể thiếu được của Hệ thống thông tin địa lý.
Hơn nữa sự phát triển không ngừng của các kỹ thuật phần cứng và phần mềm đòi hỏi

hệ thống thông tin địa lý có những chức năng hạn chế hơn. Các hệ xử lý GIS trước đây,
phần lớn đều chạy trong trạm Unix. Trạm Unix cho phép lưu trữ cơ sở dữ liệu lớn và
nhiều chức năng xử lý khác nhau. Tất nhiên với sự trợ giúp của window NT thì PC cũng
có thể so sánh được với hệ unix. Ví dụ điểm hình về một hệ thống có hiệu quả là một hệ
Unix nhỏ có cài đặt phần mềm ARC/INFO để quản lý và vận hành Hệ thống thông tin
địa lý. Hiện nay, các hệ thống xử lý liên tục được nâng cấp và khoảng cách giữa trạm
Unix và PC càng hẹp dần.
Nhập, lưu dữ và xuất dữ liệu: các thiết bị ngoại vi phục vụ cho việc nhập dữ liệu là:
Bàn số hoá, máy quét để chuyển đổi dữ liệu analoge thành dạng số. Hoặc đọc băng và
đĩa CD - ROM có nhiệm vụ lấy thông tin hiện có trong băng và đĩa. Các phương tiện
thông dụng là ổ đĩa cứng, ổ đọc băng, ổ đĩa quang có thể ghi và xoá dữ liệu. Thiết bị
xuất dữ liệu bao gồm máy in đen trắng và màu, báo cáo, kết quả phân tích, máy in kim
(plotter). Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ tin học và điện tử, đặc biệt là khi có
thiết bị mạng cho phép san sẻ các chức năng và trao đổi giữa những người sử dụng và
càng tạo điều kiện cho hệ thống thông tin địa lý phát triển.
2.3.4 Phần mềm
Một hệ thống phần mềm xử lý GIS yêu cầu phải có hai chức năng sau: tự động hoá
bản đồ và quản lý cơ sở dữ liệu. Sự phát triển kỹ thuật GIS hiện đại liên quan đến sự
phát triển của hai hợp phần này.
a. Tự động hóa bản đồ
16

Bản đồ học là môn khoa học, nghệ thuật và kỹ thuật thành lập bản đồ. Do đó, tự
động hoá bản đồ là thành lập bản đồ với sự trợ giúp của máy tính. Một bản đồ là sự thể
hiện bằng đồ họa của mối quan hệ không gian và các hình dạng (Pobinson và NNK,
1984) và mỗi một bản đồ là sự mô hình hoá thực tế theo những tỷ lệ nhất định. Mô hình
đó yêu cầu biến đổi các số liệu ghi bản đồ thành bản đồ và gồm các công đoạn sau: Lựa
chọn, phân loại, làm đơn giản hóa và tạo mẫu ký tự (Den - 1990).
Máy tính trợ giúp cho bản đồ học ở nhiều phương diện như sau:
 Trước hết, bản đồ trong máy tính là dạng số nên dễ dàng chỉnh sửa và việc chỉnh lý

 Thứ hai: sự thay đổi về những chi tiết bản đồ nhất thiết phải phù hợp với sự thay
đổi về tự nhiên thuộc tính. Ví dụ, sự thay đổi về diện tích đô thị về số liệu phải
tương xứng với sự thay đổi về đường ranh giới thành phố. Khi thay đổi ranh giới
thì số liệu tính toán về diện tích cũng tự động được thay đổi.
2.4 Các chức năng của GIS
Một phần mềm GIS các các chức năng cơ bản như sau: nhập dữ liệu, lưu trữ dữ
liệu, điều khiển dữ liệu, hiển thị dữ liệu theo cơ sở địa lý và đưa ra những quyết định
(decision making) (Calkins và Tomlinson 1997). Có thể khái quát về các chức năng đó
như sau:
Nhập và bổ sung dữ liệu (entry and updating): Một trong những chức năng quan
trọng của hệ thống thông tin địa lý là nhập và bổ sung dữ liệu mà công việc đó không
tiến hành riêng rẽ. Bất kỳ một hệ thống nào cũng phải cho phép nhập và bổ sung dữ liệu,
nếu không có chức năng đó thì không được xem là một hệ thống thông tin địa lý vì chức
năng đó là một yêu cầu bắt buộc phải có.
Việc nhập và bổ sung dữ liệu phải cho phép sử dụng nguồn tự liệu dưới dạng số
hoặc dạng analog. Dạng tư liệu không gian như bản đồ giấy hoặc ảnh vệ tinh, ảnh máy
bay phải được chuyển thành dạng số và các nguồn tư liệu số khác cũng phải chuyển đổi
được để tương thích với cơ sở dữ liệu trong hệ thống đang sử dụng.
Chuyển đổi dữ liệu: chuyển đổi dữ liệu là một chức năng rất gần với việc nhập và
bổ sung dữ liệu. Nhiều phần mềm thương mại cố gắng giữ độc quyền bằng cách hạn chế
đưa các khuôn dạng dữ liệu theo loại phổ cập. Tuy nhiên người sử dụng phải lựa chọn
để hạn chế việc phải số hóa thêm những tài liệu hiện đang có ở dạng số. Trong thực tế,
cùng một tư liệu nhưng có thể tồn tại ở nhiều khuôn dạng khác nhau. Vì vậy, đối với tư
liệu quốc gia, không thể chỉ lưu giữ ở một dạng thuộc tính riêng biệt mà cần thiết phải
lưu giữ ở nhiều khuôn dạng có tích chất phổ biến để sử dụng được trong nhiều ứng dụng
khác nhau. Như vậy, một phần mềm GIS cần phải có chức năng nhập và chuyển đổi
nhiều khuôn dạng dữ liệu khác nhau.
Lưu giữ tư liệu: Một chức năng quan trọng của hệ thống thông tin địa lý là lưu giữ
và tổ chức cơ sở dữ liệu do sự đa dạng và với một khối lượng lớn của dữ liệu không
gian: đa dạng về thuộc tính, về khuôn dạng, về đơn vị đo, về tỷ lệ bản đồ. Hai yêu cầu

bản đồ thì chức năng đó là băt buộc. Với một hệ thống như vậy thì các mô tả bằng lời có
thể tổ chức thành các tham số riêng, các mô hình giải thích, dự báo đều có thẻ thực hiện
trong chức năng xử lý không gian.
2.5 Các phép chiếu
Trong phần này ta sẽ tìm hiểu ba phép chiếu cơ bản và thường được sử dụng nhất đó là
phép chiếu với mặt chiếu: mặt hình nón, mặt hình trụ và mặt phẳng phương vị.
19

Bước đầu tiên khi tiến hành phép chiếu này là tạo ra một hay một tập các điểm tiếp xúc.
Các điểm tiếp xúc này được gọi là các tiếp điểm hay là tiếp tuyến (trong trường hợp là
đường thẳng). Các điểm này có vai trò rất quan trọng, vì độ biến dạng của phép chiếu
trên những điểm này bằng không. Độ biến dạng sẽ tăng khi khoảng cách giữa điểm
chiếu và điểm tiếp xúc tăng.
Mặt hình nón
Để thực hiên phép chiếu này người ta cho dùng một mặt hình nón “úp” lên bề
mặt cầu. Đường thẳng tiếp xúc giữa mặt nón và mặt cầu là một vĩ tuyến và được gọi là
vĩ tuyến chuẩn. Các đường kinh tuyến sau khi chiếu mặt nón sẽ thành những đường
thẳng đứng, các đường vĩ tuyến sẽ tạo thành những đường tròn.
Sau khi thực hiện phép chiếu, người ta sẽ cắt hình nón dọc theo một kinh tuyến bất kỳ,
lúc này ta sẽ được kết quả của phép chiếu trên bề mặt nón. Sự giao nhau giữa những
đường thẳng và cung tròn sẽ tạo nên một mặt lưới. Đường thẳng đối diện với đường cắt
được gọi là kinh tuyến trung tâm.
Càng xa vĩ tuyến chuẩn độ biến dạng càng tăng. Do đó để tăng độ chính xác người ta cắt
bỏ phần đỉnh của mặt nón hay ta không tiến hành chiếu lên vùng này. Phép chiếu này
thường được dùng cho việc chiếu các vùng có các vĩ tuyến trung bình chạy quavà hướng
theo chiều đông - tây. Hình 1.3: Mặt chiếu hình nón


dùng nhất. Trong phép chiếu này, các đường kinh tuyến sẽ được chiếu thành một chùm
21

đường thẳng giao nhau ở điểm cực, vĩ tuyến là các đường tròn có cùng tâm là cực của
mặt cầu. Góc giữa các đường kinh tuyến được bảo tồn.
1

2.6 Một số ứng dụng của GIS
GIS có phổ ứng dụng rất rộng, từ hỗ trợ quản lý tài nguyên/môi trường, quy hoạch, phát
triển, giao thông, …[7].
Một ứng dụng quan trọng của GIS là mô hình hoá các cấu trúc căn bản thực của
thế giới trên dữ liệu con số. Các mô hình này có thể cho phép phân tích những khuynh
hướng, định nghĩa những nhân tố gây ra chúng, trình bày các khả năng cho phép chọn
lựa các giải pháp để giải quyết những vấn đề được đặt ra, hoặc chỉ ra các mối quan hệ
mật thiết và các kết quả của một quyết định. Thí dụ, GIS có thể chỉ ra các nguồn tài
nguyên thiên nhiên có khả năng bị ảnh hưởng do các quyết định nào đó trên cơ sở các
dữ liệu của ảnh vệ tinh. Những vùng chịu tổn thất từ vùng khai hoang có thể được định
nghĩa và phân tích trên cơ sở dữ liệu chồng lấp của các yêu cầu về loại đất, sự gia tăng
năng suất, thời gian, loại, tỷ lệ, và khả năng quản lý, nhu cầu thực tế có thể được chỉ ra
và định rõ kết quả.
Trong nông nghiệp, sự thiệt hại về tiềm năng tài nguyên thiên nhiên do việc mở
rộng diện tích trồng lúa có thể được đánh giá về mặt số lượng, việc đánh giá trên cơ sở
về mặt kinh tế của nơi có sự thay đổi về mặt kỹ thuật. GIS có thể chỉ ra sự thay đổi ở
mặt giới hạn về số lượng (trong việc phát triển diện tích của một vùng mới). GIS cũng
được sử dụng để chỉ ra những tuyến đường tốt nhất cho giao thông đường bộ và thuỷ
lợi.
Một hướng sử dụng quan trọng khác của GIS là trong phân tích thống kê những
đặc điểm (như diện tích của khu rừng hay chiều dài của con sông, kênh, đường, vùng)
qua việc xác định các vùng đệm. Ví dụ, đất xung quanh một khu rừng được giới hạn có
thể được nghiên cứu để quyết định cách sử dụng đất thích hợp nhất, vùng đệm xung

Hệ thống định vị toàn cầu GPS được viết đầy đủ là NAVSTAR GPS (Navigation
Satellite Timing and Global Positioning System). Ngày 22 tháng 2 năm 1978 vệ tinh đầu
tiên của hệ thống định vị toàn cầu GPS đó đưa lờn quỹ đạo. Từ năm 1978 - 1985 có 11
vệ tinh Block I được phóng lên quỹ đạo. Hiện nay hầu hết số vệ tinh thuộc Block I đó
hết thời hạn sử dụng. Việc phóng vệ tinh thế hệ Block II bắt đầu vào năm 1989, sau giai
đoạn này hệ thống gồm 24 vệ tinh triển khai trên 6 quỹ đạo nghiêng 55o so với mặt phẳ

ng xích đạo trái đất với chu kỳ 12h ở độ cao khoảng 20.200 km. Loại vệ tinh thế
hệ II (Block IIR) được đưa lên quỹ đạo năm 1995 , cho đến nay có 32 vệ tinh GPS đang
hoạt động.
Trước năm 1980 hệ thống GPS chỉ được sử dụng cho mục đích quân sự,sau năm
1980 chính phủ Mỹ đó cho phép đưa vào sử dụng trong các lĩnh vực về dân sự.[10]
3.1 Cấu trúc của hệ thống định vị toàn cầu GPS
Hệ thống định vị toàn cầu GPS gồm 3 bộ phận chính là:
- Bộ phận không gian.
- Bộ phận điều khiển.
- Bộ phận sử dụng.
3.1.1 Bộ phận không gian
Gồm các vệ tinh nhân tạo phát tín hiệu bay trên các quỹ đạo xác định quanh trái
đất, các vệ tinh bay trên 6 mặt phẳng quỹ đạo nghiêng 55o so với mặt phẳng xích đạo
trái đất, mỗi quỹ đạo có 4-5 vệ tinh.
23

Quỹ đạo vệ tinh gần hình tròn, ở độ cao 20.200 km, chu kỳ 12h. Mỗi vệ tinh có trang bị
tên lửa đẩy để điều chỉnh quỹ đạo và thời gian sử dụng của mỗi vệ tinh khoảng 7,5 năm.
3.1.2 Bộ phận điều khiển
Bộ phậnđiều khiển gồm 5 trạm mặt đất phân bố đều quanh trái đất trong đó có
trạm chủ (Master Station) đặt tại căn cứ không quân Falcon ở Colorado Sping, bang
Colorado, USA và 4 trạm theo dõi (Monitor Station). Trạm chủ là nơi nhận và xử lý các
tín hiệu thu từ vệ tinh tại 4 trạm theo dõi.

là x,y,z; thời gian lan truyền tín hiệu từ vệ tinh đến điểm xét là t, sai số không đồng bộ
giữa đồng hồ trên vệ tinh và trong máy thu là Δt, khoảng cách giả đo được là R, ta có
phương trình:

trong đó c là tốc độ lan truyền tín hiệu.
Trong trường hợp sử dụng C/A-code, theo dự tính của các nhà thiết kế hệ thống
GPS, kỹ thuật đo khoảng thời gian lan truyền tín hiệu chỉ có thể đảm bảo độ chính xác
đo khoảng cách tương ứng cỡ 30m. Nếu tính đến ảnh hưởng của điều kiện lan truyền tín
hiệu, sai số đo khoảng cách theo C/A code sẽ ở mức 100m là mức có thể chấp nhận
được để cho khách hàng dân sự được khai thác. Song kỹ thuật xử lý tín hiệu code này đã
được phát triển đến mức có thể đảm bảo độ chính xác đo khoảng cách cỡ 3m, tức là hầu
như không thua kémso với trường hợp sử dụng P-code vốn không dành cho khách hàng
đại trà.Chính vì lý do này mà Mỹ đã đưa ra giải pháp SA để hạn chế khả năng thực tếcủa
C/A code. Nhưng ngày nay do kỹ thuật đo GPS có thể khắc phục được nhiễu SA, Chính
phủ Mỹ đã tuyên bố bỏ nhiễu SA trong trị đo GPS từ tháng 5năm 2000.[4,6]
b) Đo pha sóng tải
Các sóng tải L1,L2 được sử dụng cho việc định vị với độ chính xác cao.Với mục
đích này người ta tiến hành đo hiệu số giữa pha của sóng tải do máythu nhận được từ vệ
tinh và pha của tín hiệu do chính máy thu tạo ra. Hiệu số pha do máy thu đo được ta hãy
ký hiệu là Φ (0<Φ<2π).
Khi đó ta có thể viết:

trong đó: R là khoảng cách giữa vệ tinh và máy thu;
λ là bước sóng của sóng tải;
25

N là số nguyên lần bước sóng λ chứa trong R;
Δt là sai số đồng bộ giữa đồng hồ của vệ tinh và máy thu;
N còn được gọi là số nguyên đa trị, thường không biết trước mà cần
phải xác định trong thời gian đo.

Trên thực tế với hệ thống vệ tinh hoạt động đầy đủ như hiện nay, sốlượng vệ tinh
mà các máy thu quan sát được thường từ 6-8 vệ tinh, khi đónghiệm của phương trình sẽ
tìm theo nguyên lý số bình phương nhỏ nhất.[4,6]

Trích đoạn Tích hợp công nghệ trong quản lý giao vận Cài đặt chương trình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status