Báo cáo tốt nghiệp: “Một số giải pháp nâng cao lợi nhuận tại ngân hàng nông nghiệp Nam Hà Nội” - Pdf 15

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

“Một số giải pháp nâng cao lợi nhuận tại ngân
hàng nông nghiệp Nam Hà Nội”
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi bước vào hoạt động kinh doanh, bất cứ một doanh nghiệp nào
cũng vì mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận luôn là mục đích cuối cùng cấn
đạt được. Lợi nhuận không chỉ là chỉ tiêu phản ánh kết quả của doanh
nghiệp mà nó còn phản ánh khả năng tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp . Ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp – Doanh nghiệp
đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên lợi nhuận cũng là
vấn đề được đạt ra hàng đầu.
Trong thế kỷ thứ 21 này – thế kỷ mở cửa và hội nhập, khi kinh tế
thị trường các quốc gia là một, các ngân hàng không những cạnh tranh
với những đối thủ trong nước mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng
đầy kinh nghiệm nước ngoài. Đây vừa là gánh nặng nhưng cũng đồng
thời cũng là thách thức đôi với các ngân hàng nước nhà. Vì vậy bài toán
lợi nhuận càng trở lên khó khăn hơn. Làm sao để tăng thu nhập, tiết kiệm
chi phí để nâng cao lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh – đây là vấn
đề bức xúc của các ngân hàng. Vì vậy nên em chọn đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao lợi nhuận tại ngân hàng nông nghiệp Nam Hà Nội” làm
chuyên đề thực tập cho mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài rộng liên quan tới tất cả các mảng hoạt động của

LỢI NHUẬN CỦA NHTM
1.1. Khái quát về NHTM trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm kinh doanh của NHTM.
1.1.1.1 Khái niệm NHTM
NHTM là một trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất, là một
bộ phận hợp thành trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường.
Nó hoạt động theo định chế tổ chức tài chính mang tính tổng hợp có chức
năng dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn nhằm tạo điều kiện cho
đầu tư phát triển kinh tế. Ngân hàng huy động vốn dưới nhiều hình thức
và tiến hành cho vay các đối tượng có nhu cầu.
Để đưa ra được định nghĩa về NHTM người ta thường phải dựa vào
tính chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi
còn kết hợp tính chất mục tiêu và đối tượng hoạt động.
1.1.1.2 Đặc điểm kinh doanh của NHTM
Ngày nay trong thế giới hiện đại hoạt động của các tổ chức tài chính
là môi giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển cả về số lượng
và quy mô hoạt động, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau.
Người ta phân biệt NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác ở
đến tiền tệ. Đây là đặc trưng cơ bản nhất, phân biệt kinh doanh ngân
hàng những đặc trưng cơ bản sau:
- NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác
liên quan với lĩnh vực kinh doanh khác và là đặc điểm nói lên tính đặc
biệt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo cơ chế thị trường.
Các ngân hàng huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để
dùng vào mục đích cho vay, đầu tư vào những lĩnh vực được nhà nước
cho phép. Những hoạt động huy động vốn , cho vay là nghiệp vụ chủ yếu
của ngân hàng.
- Kinh doanh ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro. Với chức năng làm
trung gian thanh toán ngân hàng toạ ra cơ hội để thu lợi nhuận cao nhất
cho mình nhưng cũng nhận về mình ngững rủi ro cả từ phía người gửi

1.1.2.2. Giảm thiểu rủi ro
Vậy rủi ro là gì ?
Trong thuật ngữ tài chính , rủi ro liên quan đến khả năng mất mát tài
chính của ngân hàng, rủi ro là một phần của bất cứ giao dịch tài chính và
cũng như bản thân các giao dịch tài chính có cần được sự quản lý một
cách khoa học .
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng được phân chia theo
nguyên nhân – các nhân tố tác động bao gồm:
- Rủi ro tín dụng : Là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng
phải gánh chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc
không trả đầy đủ cả vốn và lãi.
- Rủi ro hối đoái: Là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng
phải chịu khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá sự thay đổi dự tính .
- Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất thay
đổi ngoài dự tính .
- Rủi ro thanh khoản: Là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân
hàng khi nhu cầu thanh khoản dự kiến làm gia tăng các chi phí để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng mất khả năng thanh
toán.
- Rủi ro tồn đọng vốn: Xảy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay
và đầu tư làm thu nhập của ngân hàng giảm sút.
Rủi ro luôn tồn tại song song cùng với quá trình hoạt động kinh
doanh của ngân hàng và nó có thể gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Nếu ở mức nhẹ thì gây ra tổn
thất cho ngân hàng, điều này làm thu nhập của ngân hàng giảm sút dẫn
đến tỷ suất lợi tức và thị giá cỏ phiếu của ngân hàng giảm. Việc cổ phiếu
giảm nếu không được kíp thời chấn chỉnh sẽ có thể kéo theo việc bán
hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, là điểm mở đầu của quá trình mua lại,
sáp nhập và thay thế ban quản lý ngân hàng. Còn nếu rủi ro ở mức cao
thì có thể gây ra sự đổ vỡ ngân hàng, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến

vốn huy động này thường xuyên không ổn định .
- Tiên gửi có kỳ hạn: Là loại tiền mà người gửi tiền vào ngân hàng
với thời hạn cụ thể , với mục đích an toàn tài sản và hưởng lãi. Đây là
nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn khoản
tiền này vào hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm
cách đa dạng hoá loại tiền gửi bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức
lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. Đối với
loại tiền gửi này người gửi tiền có thể rút trước hạn nhưng phải báo trước
cho ngân hàng và phải chịu phạt theo qui định của ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Là loại tiền gửi của các tẩng lớp dân cư trong
xã hội với mục đích tích luỹ và hưởng lãi. Loại tiền gửi này có tính chất
ổn định nên ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn .
b) Nghiệp vụ đi vay
Nghiệp vụ đi vay thể hiện quan hệ vay mượn giữa NHTM với
NHTW hoặc giữa các NHTM với nhau hay vay của các TCTD khác.
NHTM vay để bổ sung vào vốn hoạt động của mình trong trường hợp
tạm thời thiếu hụt vốn khả dụng.
- NHTM đi vay NHTW thông qua hình thức vay ngắn hạn hoặc tái
cấp vốn . Vay ngắn hạn là hình thức các NHTM xin vay vốn để bổ sung
vốn ngắn hạn của mình . Trong hình thức vay này , các NHTM chỉ được
vay khi còn HMTD và trong HMTD đã thoả thuận. Còn hình thức tái cấp
vốn là việc NHTW cho NHTM vay trên cơ sở tái chiết khấu GTCG hay
cho vay có bảo đảm bằng các GTCG như thương phiếu và các công cụ nợ
khác.
- Một nguồn khác mà NHTM có thể sử dụng là vay của NHTM và các
TCTD khác dưới hình thức vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng,
hoặc vay từ nước ngoài để xử lý những biến động bất thường của bản
thân và thị trường. Việc vay vốn này có nhiều hình thức và thời hạn vay
linh hoạt nhằm bổ sung nguồn vốn của nhân hàng trong trường hợp không
tự huy động được. Tuy nhiên vốn đi vay của NHTM thường phải trả chi

được sử dụng dư nợ vượt quá số dư trên tài khoản vãng lai.
- Cho vay theo dự án: Là hình thức cho vay trung dài hạn, là phương
pháp tài trợ vốn cho dự án đã được xây dựng trước. Trong đó việc cho
vay được tiến hành trên một văn bản hoàn chỉnh về việc vay và trả nợ đã
được nghiên cứu, soạn thảo, được ký kết giữa chủ dự án và ngân hàng.
- Cho vay thuê mua: Là hình thức tín dụng trung dài hạn được thực
hiện thông qua việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, động sản và
bất động sản giữa bên cho thuê là ngân hàng và khách hàng thuê. Bên
thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn
thuê và đặc biệt không đươc đơn phương huỷ bỏ hợp đồng. Khi hết thời
hạn thuê, khách hàng được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó
theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng.
- Cho vay hợp vốn: Là nghiệp vụ mà một nhóm các ngân hàng sẽ
cùng cho vay đối với cùng một dự án vay vốn, trong đó sẽ có một tổ chức
đứng ra làm đầu mối để dàn xếp theo quy định.
Ngoài ra nghiệp vụ tín dụng còn có các loại hình khác như tín dụng
ngân quỹ, tín dụng bằng chữ ký, tín dụng tiêu dùng….rất phong phú và
đa dạng.
b) Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Đầu tư tài chính là nghiệp vụ phổ biến trong nghiệp vụ tài sản có
của các NHTM. Ngân hàng có thể đầu vào trái khoán chính phủ, hoặc
trái khoán công ty để thu lợi tức đầu tư mang lại thu nhập cho ngân
hàng. Nghiệp vụ này cũng nâng cao khả năng thanh toán cho ngân hàng,
bảo tồn ngân quỹ ,đặc biệt khi đầu tư vào trái khoán chính phủ vì loại
trái khoán này co tính lỏng cao. Đồng thời nó còn làm đa dạng hoá các
hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Việc sử dụng vốn để đầu tư vào nghiệp cụ này các NHTM phải tuân
theo những quy định chặt chẽ và chỉ được sử dụng nguồn vốn tự có để
góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác.

nhuận, thực hiện các dịch vụ quản lý hưu trí, uỷ thác và làm đại lý cho
các tổ chức từ thiện, các tổ chức khác.
Thực hiện dịch vụ uỷ thác không những mang lại cho ngân hàng một
nguồn thu nhập khá lớn (nguồn thu lệ phí và hao hồng uỷ thác hàng năm)
mà còn giúp ngân hàng củng cố và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với khách
hàng.
Ngoài các dịch vụ chủ yếu đó ra thì trong hệ thống dịch vụ của các
NHTM còn bao gồm nhiều các dịch vụ khác như: dịch vụ bảo lãnh, dịch
vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo quản và ký gửi….
1.2. Lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM
1.2.1. Lợi nhuận của NHTM
1.2.1.1. Khái niệm
NHTM là những doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín
dụng và dịch vụ ngân hàng với nhiệm vụ cơ bản của các NHTM là kinh
doanh và phục vụ cho các chính sách kinh tế của đất nước. Do đó lợi
nhuận của NHTM cũng xuất phát từ hoạt động kinh doanh này.
Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kính doanh của NHTM bao
gồm lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận thu được
từ các hoạt động khác. Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được
xác định giữa tổng doanh thu trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ
trong năm tài chính. Thời điểm xác định lợi nhuận hàng năm được thực
hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết toán niên độ, lập báo cáo tài chính
năm. Để việc xác định lợi nhuận được chính xác thì phải xác định được
chính xác tổng doanh thu và tổng chi phí của toàn hệ thống trong năm.
Công thức xác định lợi nhuận:
Lợi nhuận trước thuế = tổng thu nhập – tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế = lợi nhuận trước thuế - thuế thu nhập
Thuế thu nhập = lợi nhuận trước thuế x thuế suất thuế thu nhập
Thông thường, việc xác định lợi nhuận được thực hiện tại các đơn vị
thành viên ( chi nhánh ) , sau đó tổng hợp lên cấp chủ quản ( hội sở

tiền vay, chi kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quí, chi quản lý …trong đó
chi trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất. Mỗi khoản chi phí có tính
chất và vai trò khác nhau.
Chi phí của ngân hàng rất đa dạng và phức tạp, xuất phát từ đặc
điểm kinh doanh của ngân hàng và tính chất vô hình của sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng. Việc xác định mức chi phí hợp lý là rất quan trọng và cũng
là một công việc khó khăn vì nó quyết định đến sự tồn tại và lợi nhuận
của ngân hàng. Hiện nay, các khoản chi phí chủ yếu của ngân hàng gồm
có :
*) Chi phí cho nghiệp vụ kinh doanh: Đây là chi phí thường xuyên,
chiếm tỷ trọng lớn gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trong khoản mục này chi phí gồm có:
- Chi phí hoạt động huy động vốn: Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng
lớn nhất bao gồm :
+ Chi trả lãi tiền gửi: Là khoản tiền mà ngân hàng phải bỏ ra để
được sử dụng nguồn vốn từ người gửi tiền. Qui mô của khoản chi này
phụ thuộc vào số dư các loại tiền gửi, cơ cấu vốn huy động và mức lãi
suất phải trả.
+ Chi trả lãi tiền vay: Là khoản phải trả cho các khoản tiền vay như
vay NHNN, vay các TCTD khác trong và ngoài nước.
+ Chi trả lãi phát hành giấy tờ có giá: Là khoản lãi mà ngân hàng
phải trả khi phát hành GTCG để huy động vốn trên thị trường. Tuy nhiên,
đây không phải là hình thức mà các NHTM thường xuyên sử dụng do đó
chi phí cho việc phát hành GTCG chiếm tỷ trọng nhỏ.
- Chi phí hoạt động dịch vụ: Gồm các khoản chi như chi lệ phí tham
gia hệ thống thanh toán liên hàng, chi về giấy tờ thanh toán, phí bưu điện
và mạng viễn thông trong dịch vụ thanh toán, chi kiểm đếm, phân loại
bảo quản tiền.
- Chi về nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế: bao
gồm các khoản chi trực tiếp cho hoạt động kinh doanh ngoại hối như mua

chủ sở hữu ( ROE ) và tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) .
ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng sau thuế chia cho vốn
chủ sở hữu. Đây được xem là thước đo gần như chuẩn nhất, phản ánh
trình độ cảu ban điều hành trong việc tối đa hoá tài sản của chủ sở hữu
ngân hàng. Hệ số này cho biết ngân hàng đã sản sinh ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận trên mỗi trăm đồng vốn tự có, biểu thị gián tiếp về khả năng
tạo ra thu nhập, hiệu quả hoạt động, đòn bẩy tài chính và kế hoạch thuế.
ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng sau thuế chia cho tổng
tài sản có. Hệ số này phản ánh khả năng của ban điều hành ngân hàng
trong việc tận dụng các nguồn vốn để tạo ra thu nhập.
Hai chỉ số ROE và ROA có mối quan hệ chặt chẽ, được thể hiện qua
biểu thức sau:
ROE = ROA x tổng tài sản/vốn chủ sở hữu.
Từ đẳng thức trên cho thấy thu nhập củ ngân hàng rất nhạy cảm với
phương thức tài trợ tài sản – sử dụng nhiều nợ hơn hoặc nhiều vốn chủ
sở hữu hơn. Một ngân hàng có ROA thấp có thể đạt được ROE khá cao
thông qua việc sử dụng nhiều nợ (đòn bẩy tài chính ) và sử dụng tối
thiểu vốn chủ sở hữu .
Sử dụng chỉ tiêu phân tích ROE không những cho thấy nguyên nhân
gây ra kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh trong, một ngân hàng
mà còn cung cấp cho nhà phân tích một sợi dây kết nối các hiện tượng
tài chính nhờ đó có thể đưa ra một kế hoạch tổng thể có tính đồng bộ
cao.

1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM
Mỗi hoạt động đều diễn ra trong một môi trường nhất định . Mỗi môi
trường đó đều có tính hai mặt của nó , một mặt nó tạo điều kiện cho hoạt
động kinh doanh nhưng mặt khác nó cũng có thể hạn chế sự phát triển
của những hoạt động đó của các doanh nghiệp. Vì vậy hoạt động kinh
doanh chịu sự tác động của môi trường xung quanh rất lớn. Hoạt động

kiện mở rộng các nghiệp vụ, phân bố đầu tư vào nhiều ngành nghề, khu
vực khác nhau từ đó phân tán được rủi ro, tăng thu nhập.
Tóm lại, sự biến động của môi trường kinh tế chính trị, xã hội tạo
cho ngân hàng những thuận lợi trong kinh doanh nhưng đồng thời cũng
gây ra những khó khăn đe doạ hoạt động của ngân hàng. Vì vậy ngân
hàng phải biết phát huy, tận dụng những thuận lợi đó cũng như chế
những điểm bất lợi để hoạt động ngân hàng mình có hiệu quả nhất.
*) Nhân tố chủ quan
Nếu nhân tố khách quan là nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tồn
tại khách quan thì nhân tố chủ quan là những nhân tố bên trong thuộc bản
thân ngân hàng, bao gồm: nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, cơ cấu tổ
chức, sản phẩm dịch vụ…
Nguồn tài chính của ngân hàng được xem xét dựa trên các yếu tố như
qui mô vốn chủ sở hữu, qui mô kết cấu tài sản, kết cấu nguồn vốn có hợp
lý không, sự hợp lý thể hiện tiềm lực tài chính vững mạnh, có tác động
tích cực, tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng.
Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, nguồn nhân lực đóng vai trò
trung tâm. Nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên
môn cao, có khả năng sáng tạo, ý thức thái độ lao động tốt sẽ nâng cao
hiệu quả công việc. Để có đội ngũ như vậy đòi hỏi công tác tuyển dụng
đầu vào phải hết sức nghiêm túc, chặt chẽ, đồng thời trong quá trình công
tác phải không ngừng nâng cao chuyên môn.
Hoạt động ngân hàng có đem lại doanh thu cao hay không chủ yếu
do sản phẩm của ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Khách hàng thường
quan tâm đến danh mục sản phẩm của ngân hàng có đa dạng không, tính
năng tiện ích như thế nào, thái độ phục vụ nhân viên ra sao, công nghệ sử
dụng trong cung ứng sản phẩm dịch vụ có hiện đại hay không … Vì vậy
để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất ngân hàng cần có các chính
sách sản phẩm, xây dựng cơ cấu sản phẩm hợp lý.


doanh theo uỷ quyền của NHNo & PTNT Việt Nam, hoạt động theo điều
lệ của NHNo & PTNT Việt Nam, theo quy chế tổ chức và hoạt động của
chi nhánh NHNo & PTNT Việt Nam ban hành theo quyết định
169/QĐ/HĐQT ngày 7/9/2000 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo &
PTNT Việt Nam.
Ban đầu thành lập biên chế của ngân hàng gồm 36 người, trong đó:
. Từ trụ sở chính chuyển về 22 người
. Từ các ngân hàng địa phương chuyển về 11 người
. Tuyển dụng mới từ bên ngoài 3 người
Về chuyên môn trình độ:
. Đại học và trên đại học : 28 người chiếm 78%
. Cao đẳng , trung cấp : 7 người chiếm 19%
. Chưa qua đào tạo :1 người chiếm 2.7%
NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà Nội thực hiện các chức năng kinh
doanh đa năng, chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ
ngân hàng đối với khách hàng trong và ngoài nước, đầu tư cho dự án phát
triển kinh tế xã hội, uỷ thác tín dụng đầu tư cho Chính phủ, các chủ đầu
tư trong và ngoài nước trong các ngành kinh tế trước hết là trong lĩnh
vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trong kinh tế đối ngoại, NHNo &
PTNT chi nhánh Nam Hà Nội thực hiện các dịch vụ mua bán ngoại tệ,
thanh toán quốc tế, thu đổi ngoại tế, các nghiệp vụ bảo lãnh….
Ngày 8/5/2001 chi nhánh tổ chức khai trương hoạt động ngay tại
tầng 1 trụ sở C3 Phương Liệt. Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là nhanh
chóng ổn định hoạt động của chi nhánh, về con người cũng như trang
thiết bị, cơ sở vật chất, triển khai các hoạt động kinh doanh với phương
châm hành động là “Vì sự thành đạt của khách hàng và ngân hàng”. Tuy
nhiên cho đến nay ngân hàng đã đạt được những thành tựu nhất định:
Tổng nguồn vốn đạt 8320 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt 1938 tỷ đồng. Trong
năm 2007 tổng số cán bộ nhân viên là 131 người đồng thời chi nhánh
cũng thành lập thêm 2 PGD trực thuộc chi nhánh cấp II, chuyển trụ sở

P.KTK
T NỘI
BỘ
P.NV-
KHTH
PHC-NSỰ
P.THẨM
ĐỊNH
P. TÍN
DỤNG
CHI NHÁNH
TÂY ĐÔ

CHI NHÁNH
NAM ĐÔ

CHI NHÁNH
GI
ẢNG V
Õ

PGD
SỐ 1
PGD
SỐ 1
PGD
HVNH
PGD
SỐ 1
PGD

Chênh l
ệch tuyệt đối

T
ỷ lệ tăng(%)

2005 4439 - -
2006 7953 +3414 79.2
2007 8320 +367 4.6
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005-2007
Ở đây chỉ xem xét nguồn vốn trên phương diện là nguồn vốn huy
động từ bên ngoài.
Năm 2006 là năm thắng lợi vượt bậc của NHNo & PTNT Nam Hà
Nội trong công tác nguồn vốn. Tổng nguồn vốn tăng 3514 tỷ đồng so với
năm trước tương ứng với tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 5 năm hoạt
động là 79,2%. Năm 2007 tổng nguồn vốn cũng tăng nhưng với tốc độ
chậm hơn với số tiền là 8320 tỷ đồng tăng 367 tỷ đồng so với năm 2006
tương ứng với tốc độ tăng trưởng 4,6%.
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động nguồn vốn, thì bên cạnh việc
đánh giá quy mô của nguồn vốn, ta cũng phải quan tâm tới cơ cấu của
chúng. Bởi mỗi loại nguồn vốn khác nhau sẽ đem lại cho ngân hàng
những lợi ích khác nhau. Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng được thể hiện
cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng huy động
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
ST TT (%)

ST TT (%)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status