ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THANH TUẤN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
MỘT SỐ CHƯƠNG TRONG PHÂN TÍCH LÍ HOÁ
Chuyên ngành: Hoá phân tích
Mã số: 60 44 29 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HOÁ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG XUÂN THƯ
Thái Nguyên, năm 2008
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
MC LC
7
I.2
Dạy học chú trọng ph-ơng pháp tự học
7
I.2.1
Dạy học chú trọng rèn luyện ph-ơng pháp tự học
8
I.2.2
Học thông qua tổ chức các hoạt động của sinh viên
8
I.2.3
Tăng c-ờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
9
I.3
Xu h-ớng phát triển của bài tập Hoá học hiện nay
9
I.4
Cơ sở phân loại câu hỏi và bài tập căn cứ vào mức
độ nhận thức và t- duy
10
Ch-ơng II
Ph-ơng pháp phân tích quang phổ hấp thụ nguyên
tử
13
II.1
Cơ sở lý thuyết
13
II.1.1
Đặc điểm chung của ph-ơng pháp đo quang phổ hấp
thụ nguyên tử
III.1
Cơ sở lý thuyết
60
III.1.1
c im chung ca phng phỏp quang phổ phát xạ
nguyên tử
60
III.1.2
Sự tạo thành phổ AES
60
III.1.3
Bản chất của ph-ơng pháp phổ phát xạ nguyên tử
61
III.1.4
Sự kích thích, sự phát xạ và c-ờng độ vạch phát xạ
nguyên tử
62
III.2
Câu hỏi tự luận
63
III.3
Bi tp chng III
79
Chng IV
Các ph-ơng pháp tách, chiết và phân chia
97
IV.1
Cơ sở lý thuyết của ph-ơng pháp chiết
97
IV.1.1
Thể tích l-u
104
IV.2.3
Sắc ký khí (GC)
105
IV.2.3.1
Sắc ký khí - rắn (GSC)
105
IV.2.3.2
Sắc ký khí - lỏng (GLC)
105
IV.3
Cơ sở lý thuyết của ph-ơng pháp tách
106
IV.3.1
Tách chất bằng ph-ơng pháp ch-ng cất
106
IV.3.1.1
Cân bằng lỏng hơi của hệ hai hay nhiều cấu tử
106
IV.3.1.2
Xác định số đĩa lý thuyết và tỷ số hồi l-u bằng ph-ơng
pháp MC Cabe Thielo
106
IV.3.1.3
Xác định số đĩa lý thuyết cực tiểu và tỷ số hồi l-u cực
tiểu theo ph-ơng pháp MC Cabe Thielo
107
IV.3.1.4
Xác định đ-ờng kính của cột ch-ng cất và chiều cao
Thầy đã đọc bản thảo nhiều lần, sửa chữa, bổ sung và đóng góp ý kiến quý báu
để tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Đặng Xuân Thư và các
thầy cô khoa Hóa ĐHSP Th¸i Nguyªn, trường ĐHSP Hà Nội, các bạn bè đồng
nghiệp, thư viện trường ĐHSP Th¸i Nguyªn, thư viện trường ĐHSP Hà Nội, th-
viÖn tr-êng §HKHTN Hµ Néi. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Phòng quản lý sau đại
học trường ĐHSP Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Hóa – trường ĐHSP Thái
Nguyên đã tạo các điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian tôi nghiên cứu,
thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 08 năm 2008
Tác giả Nguyễn Thanh TuÊn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I – Lý do chọn đề tài:
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế
nước ta đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
trường có sự quản lí của Nhà nước. Công cuộc đổi mới này đề ra những yêu
cầu mới đối với hệ thống giáo dục. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, thông tin liên lạc trên thế giới rất phát triển kéo theo sự thay đổi vô
cùng to lớn về yếu tố con người trong xã hội. Trong xã hội mới, tri thức là
yếu tố quyết định, con người là yếu tố trung tâm, là chủ thể của toàn xã hội,
do đó giáo dục con người đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất
nước [26].
Để đáp ứng yêu cầu con người - nguồn nhân lực, yếu tố quyết định sự
Từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy học phần “Phân tích lí hóa”
trong các trường ĐHSP, CĐSP và ĐHKHTN, … có sử dụng học phần
phân tích hóa lí. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Ch-¬ng I
TỔNG QUAN
I.1 Ý nghĩa của hệ thống bài tập:
UNESCO đã từng nhấn mạnh rằng: “trái với thông lệ cổ truyền việc
giảng dạy phải thích nghi với người học, chứ không phải buộc người học
tuân theo các quy định sẵn có từ trước trong việc dạy học”. “Người học và
công chúng nói chung cần có tiếng nói nhiều hơn trong việc quyết định các
vấn đề liên quan đến giáo dục”. Từ những năm 1980 trở lại đây, nổi bật lên
một hướng mới: việc giảng dạy phải đảm bảo cho người học trở thành người
công dân có trách nhiệm và hành động hiệu quả. Như vậy mục đích của việc
học tập đã phát triển từ học để hiểu đến học để hành rồi đến học để thành
người - một con người tự chủ, năng động và sáng tạo. Vì thế việc học tập
giải quyết vấn đề trong học tập, trong thực tiễn đòi hỏi con người phải có cả
kiến thức và phương pháp tư duy.[19]
I.1.1 Tổng hợp và ôn luyện kiến thức:
Việc dạy học, đặc biệt dạy học đại học không thể thiếu bài tập, sử
dụng bài tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy
học. Hệ thống câu hỏi và bài tập có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều
mặt:
- Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học, củng cố, đào sâu và mở
rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Khi người học vận
dụng kiến thức vào việc giải bài tập, họ mới nắm kiến thức một cách sâu sắc.
của tư duy.
- Phải cho người học tự mình phát biểu được thành lời nguyên tắc biến
thiên và nêu đặc tính của những dấu hiệu không bản chất. Điều đó cũng
chứng tỏ rằng sinh viên đã nhận thức được dấu hiệu bản chất. Ngoài việc bảo
đảm những điều kiện trên đây, giáo viên cần tập luyện cho người học phát
triển tư duy khái quát bằng những hình thức quen thuộc như lập dàn ý, xây
dựng những kết luận và tóm tắt nội dung các bài, các chương.[26]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
I.1.2 Phân loại bài tập vµ c©u hái hóa học:
Dựa vào nội dung và hình thức thể hiện có thể phân loại bài tập hóa
học thành 2 loại:
- Bài tập định tính.
- Bài tập định lượng.
Câu hỏi có thể phân loại thành:
- Câu hỏi tái hiện kiến thức
- Câu hỏi vận dụng kiến thức
- Câu hỏi suy lí, chứng minh.
* Bài tập định tính: Là các dạng bài tập có liên hệ với sự quan sát để
mô tả, giải thích các hiện tượng hóa học. Các bài tập định tính cũng có rất
nhiều các bài tập thực tiễn giúp học sinh giải quyết các vấn đề thực tiễn sinh
động.
* Bài tập định lượng (bài toán hóa học): Là loại bài tập cần vận dụng
kĩ năng toán học kết hợp với kĩ năng hóa học (định luật, nguyên lí, quy tắc,
…) để giải.
* Câu hỏi tái hiện kiến tức là dạng câu hỏi người học chỉ cần tái hiện
trình bày lại những nội dung mà mình tiếp thu được.
* Câu hỏi vận dụng kiến thức là câu hỏi mà người học cần phải
nghiên cứu kĩ phần kiến thức cơ sở lý thuyết, từ đó vận dụng linh hoạt trong
khi nghiên cứu giải quyết bài toán.
tập. Mặt khác, qua việc giải bài tập rèn luyện cho các em tính chính xác khoa
học và nâng cao hứng thú học bộ môn.
- Các bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên
cứu tài liệu mới, ngoài ra các bài có nội dung thực nghiệm có tác dụng rèn
luyện tính tích cực, tự lực lĩnh hội tri thức và tính cẩn thận, tuân thủ triệt để
quy định khoa học, chống tác phong luộm thuộm, vi phạm những nguyên tắc
khoa học.[25]
I.1.4 Vận dụng kiến thức để giải bài tập:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Để giải bài tập người học phải biết vận dụng lý thuyết đã học ở nội
dung các chương các bài, quá trình này thực chất đòi hỏi người học phải có
một kĩ năng nhận thức và tư duy nhất định. Hoạt động nhận thức và phát
triển tư duy của sinh viên trong quá trình dạy học hóa học.
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người
(nhận thức, tình cảm, lí trí). Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có
mối liên hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tượng tâm lí khác.
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong
hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.
Theo M.N.Sacđacop: “Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật
và hiện tượng trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của
chúng. Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật hiện tượng mới,
riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận
được”.[9]
I.2 Dạy học chú trọng phƣơng pháp tự học:
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội, khác với động vật con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong
thiên nhiên mà chủ động tạo ra cơ sở vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội.
I.2.3 Tăng cƣờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:
Khi trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của sinh viên
không đồng đều một cách tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp dạy học
tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành
nhiệm vụ học tập, nhất là các bài học được thiết kế thành một chuỗi các hoạt
động độc lập. Khi áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ cao thì sự phân
hóa càng lớn. Việc sử dụng các công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp
ứng nhu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi
học sinh, sinh viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập của mỗi cá nhân. Lớp học là
một môi trường giao tiếp thầy - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá
nhân trên con đường chiếm lĩnh những nội dung học tập. Thông qua thảo
luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay
bác bỏ, qua đó người học được nâng mình lên một trình độ mới. Người học
sẽ vận dụng vốn hiểu biết, kinh ngiệm sống của mỗi cá nhân và của cả tập
thể lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của
giáo viên.
Hình thức học tập theo nhóm không làm hạn chế sức mạnh, hứng thú
học tập của mỗi cá nhân mà trái lại tạo đà mạnh mẽ tính tích cực, chủ động
của mỗi cá nhân, giúp họ chuyển từ đối tượng giáo dục thành chủ thể giáo
dục.[25]
I.3. Xu hƣớng phát triển của bài tập hóa học hiện nay:
Bài tập hóa học vừa là mục tiêu, vừa là mục đích, vừa là nội dung vừa
là phương pháp dạy học hữu hiệu do vậy cần được quan tâm, chú trọng trong
các bài học. Nó cung cấp cho học sinh không những kiến thức, niềm say mê
bộ môn mà còn giúp người học con đường giành lấy kiến thức, là bước đệm
cho quá trình nghiên cứu khoa học, hình thành và phát triển có hiệu quả
Năng lực nhận thức
Năng lực tư duy
Kỹ năng
I
Biết (nhớ lại những
kiến thức đã học một
cách máy móc và
nhắc lại)
Tư duy cụ thể
Bắt chước theo mẫu
II
Hiểu (tái hiện kiến
thức, diễn giải kiến
thức, mô tả kiến thức)
Tư duy logic (suy
luận, phân tích,
so sánh, nhận
xét)
Phát huy sáng kiến
(hoàn thành kỹ năng
theo chỉ dẫn, không
còn bắt chước máy
móc)
III
Vận dụng
Tư duy hệ thống
(suy luận tương
tự, tổng hợp, so
sánh, khái quát
hóa)
giáo viên phải biết sử dụng câu hỏi và bài tập có sự phân hóa để phù hợp với
từng đối tượng tức là góp phần rèn luyện và phát triển tư duy cho người học.
Tùy theo mục đích dạy học, tính phức tạp và quy mô của từng loại bài,
giáo viên có thể sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập theo 4 bậc của quá trình
nhận thức và tư duy như trên. [9]
CHƢƠNG II
PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH QUANG PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ
II.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
I.1.1. Đặc diểm chung của phƣơng pháp phân tích quang phổ hấp thụ
nguyên tử (AAS):[7]
- Phương pháp AAS (Atomic Absorption Spectroscopy) dựa trên khả năng
hấp thụ chọn lọc các bức xạ cộng hưởng của nguyên tử ở trạng thái tự do.
áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học.
II.1.2. Điều kiện tạo thành phổ hấp thụ nguyên tử: [11]
II.1.2.1. Quá trình nguyên tử hoá:
- Biến một chất ở trạng thái tập hợp bất kì thành trạng thái nguyên tử tự do
gọi là quá trình nguyên tử hoá.
- Giả thiết kim loại nghiên cứu Me nằm trong dung dịch ở dạng muối MeX.
Dung dịch MeX được phun vào ngọn lửa đèn khí ở dạng aeroson. Trong
ngọn lửa đèn khí sẽ xảy ra quá trình nhiệt phân: MeX Me + X
- Trong ngọn lửa có thể xảy ra quá trình ion hoá nguyên tử tạo thành làm
giảm độ nhạy của phép phân tích. Để hạn chế sự ion hoá này, phải đưa vào
dung dịch phân tích các chất dễ bị ion hoá để tăng “nền electron” trong bầu
khí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
II.1.2.2. Các phương pháp nguyên tử hoá:
* Nguyên tử hoá mẫu bằng ngọn lửa:
- Người ta dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hóa hơi và nguyên
tử hoá mẫu phân tích. Vì thế mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá
mẫu phụ thuộc vào các đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí, nhưng
chủ yếu là nhiệt độ của ngọn lửa. Đó là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên
tử hoá mẫu phân tích và mội yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ của ngọn lửa đèn
khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích.
- Trong phép đo phổ hấp thụ nguyên tử, ngọn lửa là môi trường hấp thụ. Nó
có nhiệm vụ hoá hơi nguyên tử hoá mẫu phân tích, tạo ra đám hơi của các
nguyên tử tự do có khả năng hấp thụ bức xạ đơn sắc để tạo ra phổ hấp thụ
nguyên tử, vì thế ngọn lửa đèn khí được dùng vào mục đích để hoá hơi và
nguyên tử hoá mẫu phân tích thì:
+ Ngọn lửa đèn khí phải làm nóng đều được mẫu phân tích.
+ Ngọn lửa đèn khí phải đủ lớn và ổn định theo thời gian.
+ Ngọn lửa đèn khí phải thuần khiết.
Quá trình này tuân theo định luật Bouguer – Lambert – Beer.
- Trong phổ hấp thụ nguyên tử, chỉ một số nguyên tử có khả năng hấp thụ
bức xạ cộng hưởng thực tế bằng số nguyên tử chung của nguyên tố cần xác
định và ít bị ảnh hưởng của nhiệt độ nguồn nhiệt nên phương pháp này có độ
nhạy cao.
II.1.2.4. Phƣơng pháp phân tích quang phổ hấp thụ nguyên tử:
Hình 2.1: Sơ đồ khối của phổ kế hấp thụ nguyên tử dùng ngọn lửa
1. Nguồn bức xạ (đèn catot) 4. Detector quang
2. Đèn 5. Cấu trúc ghi phổ
3. Máy lọc ánh sáng đơn sắc
- Cấu tạo của đèn catot rỗng:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Hình 2.2: Đèn catot rỗng
1. Bóng thuỷ tinh 2. Anot
3. Catot 4. Cửa sổ thạch anh
Đèn catot rỗng là một bóng thuỷ tinh hình trụ, đường kính 3 - 5cm, có
cửa sổ bằng thuỷ tinh hay thạch anh. Anot được chế tạo từ thanh kim loại.
Cả hai cực được đặt trong bóng thuỷ tinh có chứa khí trơ (agon hay neon)
với áp suất không lớn (0,2 – 2MPa). Đèn catot rỗng được nối với dòng điện
300 – 500V, ổn định và phải có độ ổn định cao. Dòng phóng của đèn thường
là vài miliampe. Khi đèn làm việc, mật độ dòng ở mặt bên trong catot cao
hơn mặt ngoài. Vì vậy tại lỗ mở của catot sẽ phát sáng. Catot của đèn được
chế tạo từ kim loại, hợp kim khó nóng chảy có chứa nguyên tố cần xác định.
- Việc giảm cường độ của bức xạ cộng hưởng do hiện tượng hấp thụ của các
nguyên tử tự do của nguyên tố nghiên cứu tuân theo định luật hấp thụ bức xạ
):
A
= f(C
CT
) và ngoại suy đến
A
=
0.
Nếu dùng một dung dịch chuẩn, đầu tiên đo
X
A
của dung dịch nghiên cứu,
sau đó thêm vào dung dịch nghiên cứu một nồng độ của dung dịch tiêu
chuẩn nguyên tố nghiên cứu, đo mật độ quang của dung dịch đã thêm được
A
X + Ch
.
Từ các kết quả đó ta có:
A
X
=
X
Cl
A
II.2. CÂU HỎI:
Câu 1: Hãy cho biết nguyên tắc của phép đo AAS?
HDTL:
Phương pháp phân tích dựa trên cơ sở đo phổ hấp thụ nguyên tử của
một nguyên tố được gọi là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử (phép đo AAS).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Cơ sở lý thuyết của phép đo này là sự hấp thụ năng lượng (bức xạ đơn sắc)
của nguyên tử tự do ở trạng thái hơi (khí) khi chiếu chùm tia bức xạ qua đám
hơi của nguyên tố ấy trong môi trường hấp thụ. Để thực hiện phép đo AAS
phải thực hiện 3 nguyên tắc sau:
+ Chọn các điều kiện và một loại trang bị phù hợp để chuyển mẫu phân tích
từ trạng thái ban đầu (rắn hay dung dịch) thành trạng thái hơi của các nguyên
tử tự do. Đó là quá trình hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu.
+ Chiếu chùm tia sáng bức xạ đặc trưng của nguyên tố cần phân tích qua
đám hơi nguyên tử vừa điều chế được ở trên. Các nguyên tử của nguyên tố
cần xác định trong đám hơi đó sẽ hấp thụ chọn lọc những bức xạ nhất định
và tạo ra phổ hấp thụ của nó. Ở đây, phần cường độ của chùm tia sáng đã bị
nguyên tử hấp thụ phụ thuộc vào nồng độ của nó trong môi trường hấp thụ.
Nguồn cung cấp chùm tia sáng phát xạ của nguyên tố cần nghiên cứu được
gọi là nguồn phát bức xạ đơn sắc hay bức xạ cộng hưởng.
+ Tiếp đó, nhờ một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm
sáng, phân li và chọn một vạch phổ hấp thụ của nguyên tố cần nghiên cứu để
đo cường độ của nó. Cường độ đó chính là tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp
thụ nguyên tử. Trong một giới hạn nhất định của nồng độ C, giá trị cường độ
này là phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ C của nguyên tố ở trong mẫu phân
tích theo phương trình:
A
vạch phổ hấp thụ hay nồng độ nguyên tố phân tích). Hệ thống này có thể là
các trang bị:
- đơn giản nhất là một điện kế chỉ năng lượng hấp thụ (E) của vạch
phổ.
- một máy tự ghi pic của vạch phổ.
- hoặc bộ hiện số digiltal.
- hay bộ máy in (printer).
- hoặc máy tích phân.
Câu 3: Hãy nêu những ưu, nhược điểm của phép đo AAS?
HDTL:
* Ưu điểm:
- Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn
lọc cao. Gần 60 nguyên tố hoá học có thể được xác định bằng phương pháp
này với độ nhạy từ 1.10
-4
đến 1.10
-5
%. Đặc biệt, nếu sử dụng kỹ thuật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
nguyên tử hoá không ngọn lửa thì có thể đạt đến độ nhạy n.10
-7
%. Chính vì
độ nhạy cao, nên phương pháp phân tích này đã được sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực để xác định lượng vết các kim loại. Đặc biệt là trong phân
tích các nguyên tố vi lượng trong các đối tượng mẫu y học, sinh học, nông
nghiệp, kiểm tra các hoá chất có độ tinh khiết cao.
- Đồng thời cũng do có độ nhạy cao nên trong nhiều
trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định trước khi phân tích.
Do đó tốn ít nguyên liệu mẫu, tốn ít thời gian không cần phải dùng nhiều hóa