Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Dệt May khi Việt Nam là thành viên của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO - Pdf 15



1Luận văn
Đề tài: Nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngành Dệt May khi Việt
Nam là thành viên của tổ chức
Thương Mại Thế Giới WTO 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài 3
2.Mục tiêu nghiên cứu 4
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
CHƯƠNG I: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của một
ngành 5
1.1Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 5
1.1.1Những quan niệm về cạnh tranh 5
1.1.2Quan niệm về năng lực cạnh tranh 7
1.1.2.1Khái niệm về năng lực cạnh tranh 7
1.1.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh củaViệt Nam 8
1.1.2.3 Những việc cần làm để nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế quốc dân 8
1.1.3 Năng lực cạnh tranh của một quốc gia 9
1.2 Mô hình kim cương của Michael Porter 10
1.2.1 Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất 11
1.2.1.1 Nhóm các yếu tố cơ bản 11

chính sách 29
2.1.5.2 Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi
trường vĩ mô ổn định với lạm phát thấp và tăng trưởng ổn định 30
2.1.6 Cơ hội đối với ngành Dệt May Việt Nam khi Việt Nam là
thành viên của WTO 30
2.2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Dệt May Việt
Nam trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO 31
KẾT LUẬN 33 4
LỜI MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Vào lúc 17h (giờ Việt Nam) ngày 7.11.2006 tài trụ sở WTO
ở Thụy Sĩ, 149 thành viên của WTO đã chính thức thông qua quyết
định Việt Nam trở thành viên thứ 150 của tổ chức Thương Mại Thế
Giới (Trích Báo Ngoại Thương/ số32 ngày11-20/11/2006).
Như vậy nước ta đã chính thức là thành viên của tổ chức
Thương Mại Thế Giới WTO, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối
với các ngành kinh tế Việt Nam trong đó có ngành Dệt May.
Ngành Dệt May là ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế
quốc dân, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và
hướng tới xuất khẩu mà còn là ngành có lợi nhuận cao, đóng góp to
lớn vào ngân sách quốc gia. Nhất là khi Việt Nam chính thức là thành
viên của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO – sân chơi chung của
các thành viên của WTO, ở đây ngành Dệt May của chúng ta được đối
xử công bằng theo luật của quốc tế. Bên cạnh đó ngành Dệt May cũng
gặp không ít những khó khăn, đó là sự cạnh tranh công bằng và gay
gắt. Vì thế để đứng vững trên thị trường quốc tế ngành Dệt May của

6
CHƯƠNG I:

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA MỘT NGÀNH

1.1 KHÁI NIỆM CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH.
1.1.1 Những quan niệm cạnh tranh.
Theo báo cáo về sức cạnh tranh (1985) của diễn đàn kinh tế
thế giới (WEF): sức cạnh tranh quốc tế là năng lực và cơ hội trong
hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp
dẫn về giá cả và chất lượng hơn.
Theo báo cáo về sức cạnh tranh (1995) củaWEF lại định
nghĩa: sức cạnh tranh quốc tế là năng lực của một công ty, một nước
trong việc sản xuất ra của cải trên thị trường thế giới nhiều hơn đối thủ
cạnh tranh của nó.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) định nghĩa: cạnh
tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản
xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các
điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Quan niệm này xác
định rõ các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích
của họ là nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị


8
1.1.2 Quan niệm năng lực cạnh tranh.
1.1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh.
Cạnh tranh là một tất yếu khách quan mà bất kỳ một doanh
nghiệp nào tham gia vào thị trường cũng phải chấp nhận nó thì mới có
thể tồn tại và phát triển được. Nhưng để có thể cạnh tranh được thì các
doanh nghiệp phải tự tạo ra năng lực cạnh tranh cho chính mình.
Theo quan điểm tân cổ điển: năng lực cạnh tranh của một
sản phẩm được xem xét thông qua lợi thế chi phí sản xuất và năng
suất. Với cụng một loại sản phẩm có chất lượng mã tương đương
nhau, sản phẩm nào có lợi thế hơn về chi phí sản xuất và năng suất
chắc chắn nó sẽ chiếm ưu thế hơn. Vì nếu chi phí sản xuất rẻ, năng
suất cao, doanh nghiệp có thể hạ giá bán sảm và người tiêu dùng
đương nhiên sẽ chọn sản phẩm có giá rẻ hơn mà chất lượng mẫu mã
không thua kém. Như vậy theo quan điểm này qua lợi thế về chi phí
sản xuất và năng suất của sản phẩm ta cũng có thể khẳng định được
doanh nghiệp nào có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Theo quan điểm tổng hợp của Vanren, E.Martin và R.Westgren:
năng lực cạnh tranh của một ngành, một công ty là khả năng tạo ra và
duy trì lợi nhuận, thị phần trong nước và nước ngoài.
Từ các quan điểm trên ta có thể rút ra khái niệm chung cho
năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh ngành là năng lực mà các
doanh nghiệp trong ngành có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu
dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo một mức lợi nhuận ít nhất là
bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ cho các mục tiêu của doanh nghiệp
đồng thời thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. 9


10

* Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng cho các
doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp trong nước, giảm
bớt các lĩnh vực kinh tế độc quyền, giảm trợ cấp đối với doanh
nghiệp Nhà nước.
* Xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ.
* Cải cách hệ thống tài chính ngân hàng, xây dựng thị trường
vốn mạnh làm tiền đề cho phát triển kinh tế.
* Tập trung nguồn lực cải thiện cơ sở hạ tầng.
* Chống tham nhũng mạnh mẽ.
Những cố gắng của Chính phủ nhằm cải thiện năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế là chưa đủ nếu không có sự nỗ lực từ phía
các doanh nghiệp. Chính doanh nghiệp mới là yếu tố quyết định năng
lực cạnh tranh quốc gia. Do vậy, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng
những chiến lược sản xuất, kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, phù hợp
với chiến lược phát triển chung của nền kinh tế quốc gia nhằm tận
dụng tối đa mọi nguồn lực sẵn có. Việc xây dựng và nâng cao năng
lực cạnh tranh của cả nền kinh tế đòi hỏi Đảng, Chính phủ, các bộ/ngành
và các doanh nghiệp phải đồng lòng và quyết tâm thực hiện mạnh mẽ.
1.1.3 Năng lực cạnh tranh của một quốc gia.
Theo Michael Porter, ông coi khả năng cạnh của một quốc
gia phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của ngành và cụ thể hơn là
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành. Không có một nước nào
lại có khả năng cạnh tranh hơn một nước khác mà chỉ có các doanh
nghiệp nước này có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp nước khác. 11

1.2.1 Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất.
Các yếu tố sản xuất được quan niệm là tất cả những gì
không phải là ‘‘đầu ra’’ cần thiết để cạnh tranh trong một ngành công
nghiệp như lao động, nguồn đất có thể sử dụng, nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng. Các yếu tố đầu vào sản xuất
được chia ra làm hai nhóm là nhóm yếu tố cơ bản (các yếu tố chung)
và nhóm các yếu tố tiên tiến.
1.2.1.1 Nhóm các yếu tố cơ bản.
Các yếu tố cơ bản hay còn gọi là các yếu tố chung bao gồm
có nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, nguồn lao động
chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản đơn và vốn. Đây là nhóm yếu tố
được coi là nền tảng của học thuyết thương mại chuẩn.
Chiến lược, cơ
cấu cạnh tranh
nội bộ ngành
Đi
ều kiện về các
yếu tố đầu vào
sản xuất
Các ngành công
nghiệp hỗ trợ và
có liên quan
Điều kiện
về cầu
Chính
ph



h

nhóm yếu tố này bao gồm cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc viễn thông, 14

kỹ thuật số hiện đại, nguốn nhân lực chất lượng cao như các kỹ thuật
viên được đào tạo đầy đủ, những lập trình viên máy tính hoặc những
nhà nghiên cứu trong những lĩnh vực chuyên môn tinh xảo.
Trong hai nhóm yếu tố trên đây, nhóm các yếu tố tiên tiến
thường được hình thành trên cơ sở nhóm các yếu tố cơ bản. Sự hình
thành nhóm các yếu tố tiên tiến chủ yếu thông qua các hoạt động đào
tạo và cơ chế khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và phát triển.
Trong hai nhóm yếu tố trên thì nhóm yếu tố thứ hai tức
nhóm các yếu tố tiên tiến được Perter chú trọng và đề cao và coi đây
là nhóm yếu tố cốt lõi quyết định đến khả năng cạnh tranh quốc gia.
Mỹ là một cường quốc về phần mềm máy tính với đội ngũ cán bộ lập
trình viên hùng hậu. Nhật Bản là nước có đội ngũ đông đảo các kỹ sư
được đào tạo đầy đủ thay thế cho đội ngũ công nhân lao động giản
đơn Xingapo là một nước có đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kỹ
thuật có trình độ cao trong lĩnh dịch vụ hàng không, sữa chữa tàu biển
và thị trường chứng khoán. Đây là những nước có nên kinh tế có năng
lực cạnh tranh cao.

1.2.2 Điều kiện về cầu.
Điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của
thị trường. Thị trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh
của một quốc gia. Thị trường trong nước có những đòi hỏi cao về sản
phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty thuờng xuyên cải tiến và đổi
mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và phát triển. Cũng
tương tự như vậy, thị trường nước ngoài đặt ra những tiêu chuẩn cao


16

triển có tính chất tự nhiên, khi một ngành công nghiệp nổi lên với khả
năng cạnh tranh hùng mạnh thì sẽ làm xuất hiện một loạt các ngành hỗ
trợ và các ngành có liên quan (các xí nghiệp vệ tinh) đến ngành công
nghiệp nổi lên đó. Hệ thống các ngành này có thể liên kết theo chiều
dọc hoặc liên kết theo chiều ngang tạo thành các cụm công nghiệp có
mối liên hệ ‘‘dây mơ rễ má” với nhau. Các mối liên hệ, tác động lẫn
nhau giữa các ngành giúp cho các ngành phát huy được thế mạnh kết
hợp, tăng được khả năng cạnh tranh của từng ngành trong cụm công
nghiệp đó. Cụ thể là các ngành công nghiệp hỗ trợ có thể giúp các
công ty nhận thức được các phương pháp mới và cơ hội mới để ứng
dụng công nghệ mới.
Quá trình trao đổi thông tin sẽ diễn ra mạnh hơn giữa các
ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan và các hoạt động phối hợp
nghiên cứu và triển khai, phối hợp giải quyết các vấn đề sẽ thúc đẩy
các công ty gia tăng khả năng thích ứng với các cơ hội và vấn đề.
Thực chất đây là quá trình gia tăng năng lực cạnh tranh về lâu dài.
Hơn nữa, các công ty có mối liên hệ với nhau trong một chuỗi giá trị
cho nên tác động hỗ trợ lẫn nhau sẽ rất lớn. Chẳng hạn,ngành công
nghiệp may mặc có thể phát triển khi ngành công nghiệp thời trang
phát triển và ngược lại. Các ngành công nghiệp bán dẫn, phần mềm và
thương mại là những ngành công nghiệp có ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn.
1.2.4 Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành.
Chiến lược của công ty có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng
cạnh tranh của nó trong tương lai bởi vì các mục tiêu, chiến lược và
cách tổ chức các công ty trong các ngành công nghiệp có sự khác nhau

1.2.5 Vai trò của Chính phủ.
Chính phủ thông qua những chính sách (tỉ giá hối đoái, lãi
suất, trợ cấp,thuế và các công cụ khác) để tác động đến các ngành
công nghiệp. Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế sự phát
triển của các ngành công nghiệp trong nước trong những giai đoạn tùy
theo mục tiêu đặt ra của chính phủ trong giai đoạn đó. Chẳng hạn,
Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích suất khẩu thông
qua các biện pháp như thưởng xuất khẩu, giảm giá đồng tiền trong
nước, thành lập các trung tâm xúc tiến thương mại, giảm bớt mức độ
kiểm soát ngoại tệ, tham gia vào Tổ chức Thương Mại Thế Giới,
thành lập các khu chế biến xuất khẩu đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ
hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường
thế giới. Chỉ đối với thị trường liên minh châu Âu trong năm 2001,
các doanh nghiệp ngành giày dép của Trung Quốc đã chiếm tới 33,4%
tổng khối lượng nhập khẩu giày dép của cả Liên.
1.2.6 Cơ hội kinh doanh
Các cơ hội thường tạo ra những thay đổi đột ngột và làm
thay đổi vị thế cạnh tranh. Các cơ hội có thể làm vô hiệu hóa các lợi
thế của các đối thủ cạnh tranh được hình thành từ trước đó và tạo ra
tiềm năng mà các công ty của một quốc gia mới có thể loại bỏ chúng
để đạt được lợi thế cạnh tranh khi có điều kiện mới và khác trước.
Chẳng hạn việc phát minh ra các chùm vi điện tử đã tạo ra điều kiện
cho Nhật Bản đạt được lợi thế cạnh tranh cân bằng với Đức và Mỹ.
Việc gia tăng nhu cầu về tàu thủy đã tạo điều kiện cho Hàn Quốc gia
nhập vào ngành công nghiệp tàu thủy có khả năng cạnh tranh với Nhật. 19


MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM
TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN CỦA WTO

2.1 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH
DỆT MAY VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.
2.1.1 Đầu vào của ngành Dệt May.
2.1.1.1 Thị trường lao động của ngành Dệt May.
Trong ngành Dệt May nói riêng trong các ngành công
nghiệp nói chung đều có nguồn lao động dồi dào và giá nhân công rẻ,
điều này tạo nên lợi thế so sánh trong cạnh tranh của Dệt May Việt
Nam với các nước khác. Nhưng đội ngũ công nhân của nước ta chỉ là
nguồn nhân lực chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản đơn. Và khi tự do
hoá thương mại, nó mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế nhưng
nó lại mang lại áp lực cho thị trường lao động cũng như điều kiện lao
động. Việc loại bỏ hạn ngạch dệt may sẽ mang lại những ảnh hưởng
sâu rộng đến việc làm ở Việt Nam trong thời gian tới. Kinh nghiệm
cho thấy lao động mất việc làm trong ngành dệt may thường có mức
độ đào tạo thấp, kỹ năng làm việc thấp và lao động nữ chiếm tỷ lệ
cao. Những đặc điểm này khiến lao động trong ngành dệt may rất khó
khăn trong việc thay đổi để phù hợp với các điều kiện của thị trường
lao động (thay đổi công nghệ, chuyển dịch sản xuất ). Vì vậy, cần
phải có các chương trình tổng thể nhằm hỗ trợ những lao động có 21

nguy cơ mất việc làm trong ngành dệt may. Để đối phó với tình trạng
mất việc làm, nâng cao chất lượng lao động, Việt Nam cần tăng lượng
đào tạo đối với lực lượng lao động. Cụ thể là tổ chức các khoá đào tạo
theo chuẩn quốc tế. Nắm bắt được nhu cầu về nguồn nhân lực của

công rẻ cũng không thể thay thế công nghệ được, vì thế để có thể
đứng vững trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế,
một điều đặt ra đối với ngành Dệt May Việt Nam là cần phải áp dụng
công nghệ vào sản xuất, không ngừng đổi mới công nghệ.
Hiện nay ở nước ta, công nghệ đã được áp dụng rộng rãi trong
ngành Dệt May, đây là điều đáng mừng đối với Dệt May của chúng ta.
Năm 2004 Bộ công nghiệp, sau khi nghiên cứu nhu cầu thị
trường, khẳng định rằng: mặc dù xơ sợi tổng hợp đang phát triển vượt
bậc về số lượng và chất lượng, nhưng trong lĩnh vực thời trang và may
mặc thế giới vẫn có xu hướng quay về sử dụng các sản phẩm dệt từ xơ
sợi thiên nhiên, trong đó tơ tằm với những tính chất ưu việt của nó
như: nhẹ, mềm mại, thoáng mát, hợp môi sinh, sang trọng vẫn luôn
được ưa chuộng. Bộ công nghiệp quyết định giao cho Phân Viện Kinh
tế Kỹ thuật dệt may Viện Kinh tế Kỹ thuật dệt may Tổng công ty may
Việt Nam nhiệm vụ: "Nghiên cứu công nghệ dệt mặt hàng tơ tằm co
dãn 4 chiều trên máy dệt kiếm". Kết quả nghiên cứu là có thể dệt mặt
hàng tơ tằm co dãn 4 chiều trên máy, loại vải này được dệt bằng sợi tơ
tằm có pha sợi lycra ở cả sợi dọc và sợi ngang. Đây là một bước tiến
của ngành Dệt May nước ta.
23

2.1.1.3 Nhập khẩu sợi nguyên liệu đầu vào của ngành Dệt May Việt Nam.
Tính đến tháng 11/2006 thì 11 tháng đầu năm, nhập khẩu
sợi của Việt Nam đạt 310,6 ngàn tấn, trị giá 496 triệu USD, tăng
61,6% về lượng và 54,5% về trị giá so với cùng kỳ 2005
( Số liệu: trang web www.detmay.com.vn).
Như vậy trong năm 2006 lượng nhập khẩu sợi nguyên liệu

228.945.574
Hàn Quốc Tấn 2.462

4.826.823

26.834

48.322.298

Hồng Kông Tấn 166

420.825

3.507

13.303.989

Indonêsia Tấn 2.069

3.213.191

16.574

27.851.674

Italia Tấn 4

28.582

104

Sigapore Tấn 51

243.046

426

1.140.093
Thái Lan Tấn 3.736

5.600.294

33.171

47.242.049

Trung Quốc Tấn 2.855

5.344.788

30.187

65.814.670
Nguồn: www.detmay.com.vn 24

Từ bảng trên ta thấy Đài Loan là thị trường sợi mà Việt
Nam chủ yếu nhập khẩu chiếm khoảng gần 90% trên tổng lượng sợi
nhập khẩu tháng 11nănm 2006 và chiếm hơn 55% trên tổng lượng

may đạt 4,84 tỷ USD, trong 2 tháng đầu năm 2006, kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may đạt 867 triệu USD, tăng 45,5% so với cùng kỳ năm
2005. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam kỳ vọng đến năm 2010
doanh thu của ngành sẽ tăng lên khoảng từ 9 đến 10 tỷ USD.
Sự ra đời của Hiệp hội Dệt May là một sự cần thiết thiết
yếu. Với hơn 1.200 doanh nghiệp lớn vừa và nhỏ, nhưng các doanh
nghiệp tiến hành sản xuất – kinh doanh mang tính tự phát, hầu như
không có sự liên kết trong sản xuất – kinh doanh, cũng như trong lĩnh
vực đào tạo nguồn nhân lực. Vì thế không tạo được một thế mạnh
tổng thể để ngành có thể phát triển một cách toàn diện, Vì vậy sự ra
đời của Hiệp hội Dệt May là yêu cầu bức thiết.
Hiệp hội Dệt May Việt Nam đã tạo được cầu nối giữa các
doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với Nhà Nước và với thị trường
bằng những chức năng chính như sau:
Một: Nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động và tiềm năng của
ngành Dệt May Việt Nam và thế giới, từ đó tư vấn cho hội
viên trong việc sản xuất – kinh doanh .
Hai: Tư vấn về đầu tư, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, liên
doanh, liên kết trong và ngoài nước; hỗ trợ hoạt động kinh tế
đối ngoại của các hội viên theo phương hướng phát triển
chung của hiệp hội nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của từng hội
viên và toàn ngành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status