MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ..............................................................................................3
1.Lý do chọn đề tài .....................................................................................3
2.Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................4
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................4
CHƯƠNG I: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của một
ngành ...................................................................................5
1.1Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh ........................................5
1.1.1Những quan niệm về cạnh tranh ..............................................5
1.1.2Quan niệm về năng lực cạnh tranh ..........................................7
1.1.2.1Khái niệm về năng lực cạnh tranh ................................7
1.1.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh củaViệt Nam .......8
1.1.2.3 Những việc cần làm để nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế quốc dân .............................8
1.1.3 Năng lực cạnh tranh của một quốc gia ...................................9
1.2 Mô hình kim cương của Michael Porter ...........................................10
1.2.1 Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất ............................11
1.2.1.1 Nhóm các yếu tố cơ bản ............................................11
1.2.1.2 Nhóm các yếu tố tiên tiến ..........................................12
1.2.2 Điều kiện về cầu ....................................................................13
1.2.3 Nhóm các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công
nghiệp có liên quan ..............................................................14
1.2.4 Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành .....15
1.2.5 Vai trò của Chính phủ ...........................................................17
1.2.6 Cơ hội kinh doanh .................................................................17
1
CHƯƠNG II: Năng lực cạnh tranh của ngành dệt May Việt Nam trong bối
cảnh Việt Nam trở thành thành viên của WTO ................19
2.1 Thực trạng ngành Dệt May Việt Nam trong những năm gần đây ...19
2.1.1 Đầu vào của ngành Dệt May ................................................19
2.1.1.1 Thị trường lao động của ngành Dệt May ..................19
Thương Mại Thế Giới WTO, đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối
với các ngành kinh tế Việt Nam trong đó có ngành Dệt May.
Ngành Dệt May là ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế
quốc dân, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và
hướng tới xuất khẩu mà còn là ngành có lợi nhuận cao, đóng góp to
lớn vào ngân sách quốc gia. Nhất là khi Việt Nam chính thức là thành
viên của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO – sân chơi chung của
các thành viên của WTO, ở đây ngành Dệt May của chúng ta được đối
xử công bằng theo luật của quốc tế. Bên cạnh đó ngành Dệt May cũng
gặp không ít những khó khăn, đó là sự cạnh tranh công bằng và gay
gắt. Vì thế để đứng vững trên thị trường quốc tế ngành Dệt May của
Việt Nam phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện để có thể cạnh
tranh thành công trên trường quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với sự tìm hiểu,
thu thập tài liệu của cá nhân em, em lựa chọn đề tài: ‘‘ Nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành Dệt May khi Việt Nam là thành viên của tổ chức
Thương Mại Thế Giới WTO” để viết đề án môn học Kinh tế Thương Mại.
3
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
- Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành Dệt May.
- Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành Dêt May Việt
Nam trên thị trường quốc tế khi Việt Nam là thành viên của WTO.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh
của ngành Dệt May Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam là thành viên
của WTO.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của một
ngành công nghiệp Việt Nam.
-Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
ngành Dệt May trên thị trường quốc tế trong những năm gần đây và
diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường nhằm
mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Đồng thời cũng chỉ ra hai phương thức
cạnh tranh là hạ thấp giá bán và nâng cao chất lượng của sản phẩm.
Theo giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin thì định
nghĩa rằng: cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh giữa các chủ tham
gia sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được
nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích,
lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham
gia cạnh tranh.
Các quan niệm trên đây có sự khác biệt trong diễn đạt và
phạm vi, nhưng có những nét tương đồng về nội dung. Từ đó có thể
đưa ra một khái niệm tổng quát sau đây về cạnh tranh trong nền kinh
tế thị trường: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh
tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tếcủa mình,
thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như
các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của
các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối
với người sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng
là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
6
1.1.2 Quan niệm năng lực cạnh tranh.
1.1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh.
Cạnh tranh là một tất yếu khách quan mà bất kỳ một doanh
nghiệp nào tham gia vào thị trường cũng phải chấp nhận nó thì mới có
thể tồn tại và phát triển được. Nhưng để có thể cạnh tranh được thì các
doanh nghiệp phải tự tạo ra năng lực cạnh tranh cho chính mình.
Theo quan điểm tân cổ điển: năng lực cạnh tranh của một
sản phẩm được xem xét thông qua lợi thế chi phí sản xuất và năng
suất. Với cụng một loại sản phẩm có chất lượng mã tương đương
nhau, sản phẩm nào có lợi thế hơn về chi phí sản xuất và năng suất
liệu, sơ chế (trên 51%), tỷ lệ giá trị gia tăng trong hàng hóa xuất khẩu
còn thấp, chưa có các ngành công nghiệp hỗ trợ.
1.1.2.3 Những việc cần làm để nâng cao năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế quốc dân.
Tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), thực
thi Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ, trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), thách thức cạnh tranh chắc chắn sẽ
ngày càng gay gắt đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam. Thách
thức này đòi hỏi Chính phủ trong thời gian tới triển khai nhiều việc,
trong đó:
* Đẩy mạnh hơn nữa tốc độ cải thiện hệ thống chính sách, pháp luật.
* Nhanh chóng xây dựng và thực thi mạnh mẽ những chính sách
vĩ mô và vi mô theo hướng tạo thuận lợi hơn cho các doanh
nghiệp tiếp cận với các nguồn lực của nền kinh tế ( vốn, công
nghệ, cơ sớ hạ tầng…)
8
* Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng cho các
doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp trong nước, giảm
bớt các lĩnh vực kinh tế độc quyền, giảm trợ cấp đối với doanh
nghiệp Nhà nước.
* Xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ.
* Cải cách hệ thống tài chính ngân hàng, xây dựng thị trường
vốn mạnh làm tiền đề cho phát triển kinh tế.
* Tập trung nguồn lực cải thiện cơ sở hạ tầng.
* Chống tham nhũng mạnh mẽ.
Những cố gắng của Chính phủ nhằm cải thiện năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế là chưa đủ nếu không có sự nỗ lực từ phía
các doanh nghiệp. Chính doanh nghiệp mới là yếu tố quyết định năng
lực cạnh tranh quốc gia. Do vậy, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng
những chiến lược sản xuất, kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, phù hợp
10
Sơ đồ 1:Mô hình kim cương
1.2.1 Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất.
Các yếu tố sản xuất được quan niệm là tất cả những gì
không phải là ‘‘đầu ra’’ cần thiết để cạnh tranh trong một ngành công
nghiệp như lao động, nguồn đất có thể sử dụng, nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng. Các yếu tố đầu vào sản xuất
được chia ra làm hai nhóm là nhóm yếu tố cơ bản (các yếu tố chung)
và nhóm các yếu tố tiên tiến.
1.2.1.1 Nhóm các yếu tố cơ bản.
Các yếu tố cơ bản hay còn gọi là các yếu tố chung bao gồm
có nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, nguồn lao động
chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản đơn và vốn. Đây là nhóm yếu tố
được coi là nền tảng của học thuyết thương mại chuẩn.
Chiến lược, cơ
cấu cạnh tranh
nội bộ ngành
Điều kiện về các
yếu tố đầu vào
sản xuất
Các ngành công
nghiệp hỗ trợ và
có liên quan
Điều kiện
về cầu
Chín
h phủ
Cơ
hội
Trong hai nhóm yếu tố trên đây, nhóm các yếu tố tiên tiến
thường được hình thành trên cơ sở nhóm các yếu tố cơ bản. Sự hình
thành nhóm các yếu tố tiên tiến chủ yếu thông qua các hoạt động đào
tạo và cơ chế khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và phát triển.
Trong hai nhóm yếu tố trên thì nhóm yếu tố thứ hai tức
nhóm các yếu tố tiên tiến được Perter chú trọng và đề cao và coi đây
là nhóm yếu tố cốt lõi quyết định đến khả năng cạnh tranh quốc gia.
Mỹ là một cường quốc về phần mềm máy tính với đội ngũ cán bộ lập
trình viên hùng hậu. Nhật Bản là nước có đội ngũ đông đảo các kỹ sư
được đào tạo đầy đủ thay thế cho đội ngũ công nhân lao động giản
đơn...Xingapo là một nước có đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kỹ
thuật có trình độ cao trong lĩnh dịch vụ hàng không, sữa chữa tàu biển
và thị trường chứng khoán. Đây là những nước có nên kinh tế có năng
lực cạnh tranh cao.
1.2.2 Điều kiện về cầu.
Điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của
thị trường. Thị trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh
của một quốc gia. Thị trường trong nước có những đòi hỏi cao về sản
phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty thuờng xuyên cải tiến và đổi
mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và phát triển. Cũng
tương tự như vậy, thị trường nước ngoài đặt ra những tiêu chuẩn cao
13