i
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
LỜI CẢM ƠN 3
CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGHỀ CÁ CỦA TỈNH KHÁNH HOÀ 4
1.1.1.Giới thiệu chung về Khánh Hoà 4
1.1.2. Đặc điểm hành chính 6
1.1.3. Các cụm dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính của tỉnh 6
1.1.4. Ngư trường hoạt động 7
1.1.5. Năng lực khai thác 8
1.1.6. Tổng quan về lao động 11
1.1.7. Sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm, của tỉnh 12
1.1.8. Chủ trương chính sách,
định hướng phát triển nghề cá của địa phương 13
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15
1.2.1. Về thực trạng điều tra 15
1.2.2. Những vấn đề liên quan 15
1.3. TỔNG QUAN VỀ TÀU THUYỀN TRÊN CÁC TÀU CÁ VIỆT NAM 15
1.3.1. Về tàu thuyền 15
1.3.2. Tình hình máy móc và trang thiết bị 16
1.4. PHÂN TÍCH NHẬN XÉT 21
1.4.1. Tổ chức sản xuất 21
1.4.2. Về trình độ công nghệ 21
ii
CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 23
3.6.2. Tai nạn xảy ra trong quá trình khai thác 56
3.6.3. Đánh giá mức độ nguy hiểm của tai nạn 64
3.7. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG 66
3.7.1. Các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn xảy ra trong sản xuất 66
3.7.2. Đánh giá mức độ nguy hiểm của các nguy cơ 76
3.7.3. Phân tích nhằm làm rõ những vấn đề, đặc điểm trong quá trình
sản xuất chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn tai nạn 78
3.8. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT 82
3.8.1. Đánh giá ưu nhược điểm của tàu điều tra 82
3.8.2. Một số đề xuất 84
3.9. MỘT SỐ VỤ TAI NẠN ĐIỂN HÌNH TRONG NĂM 2007 86
3.9.1. Tàu mang số đăng ký: KH96446TS 86
3.9.2. Tàu mang số đăng ký: KH6328TS 86
3.9.3. Tàu mang số đăng ký: KH6436TS 87
3.9.4. Tàu mang số đăng ký: KH945852TS 87
3.9.5. Tàu mang số đăng ký: KH0279TS 87
3.10. XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT 88
3.10.1 Về tiêu chí 88
3.10.2 Xây dựng mô hình 88
3.10.3. Về quy mô mỗi con tàu 89
3.10.4. Sự khác biệt 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Thể hiện các cụm dân cư tỉnh Khánh Hoà 7
Bảng 1.2 Thể hiện số lượng tàu thuyề theo công suất 9
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Thể hiện khai thác thuỷ sản Khánh Hoà thừ 2002 - 2006 9
Biểu đồ 1.2 Thể hiện số lượng tàu thuyền qua ngành nghề ở Khánh Hoà 10
Biểu đồ 1.3 Thể hiện sản lương qua các năm 2002 - 2006 13
Biểu đồ 3.1 Thể hiện các tai nạn trong chuyến biển điều tra 64
Biểu đồ 3.2 Thể hiện các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn 77
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Dây triên tàu KH 96498TS 31
Hình 3.2 Thẻo câu tàu KH96498TS 32
Hình 3.3 phao vàdây phao tàu KH96498TS 34
Hình 3.4 Máy thu câu tàu KH96498TS 35
Hình 3.5 Máy xay đá trên tàu KH96498TS 37
Hình 3.6 Máy xay đá tàu KH96498TS 38
Hình 3.7 Giỏ đựng câu tàu KH96498TS 39
Hình 3.8 Khấu móc cá tàu KH96498TS 39
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua nhu cầu tiêu thụ cá ngừ trên thế giới ngày càng tăng
làm cho áp lực khai thác nguồn lợi cá ngừ ngày càng lớn, có nhiều địa phương phát
triển mạnh nghề khai thác cá ngừ trong đó phải nói đến tỉnh Khánh Hoà là một
trong những địa phương đi đầu trong việc khai thác cá ngừ. Tuy nhiên đi đôi với sự
phát triển đó là sự gia tăng rủi do về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chính vì
vậy mà an toàn lao động đang là mối quan tâm hàng đầu không chỉ trong ngành
thủy sản mà nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội.
Đi đôi với việc phát triển mạnh của các tàu câu cá ngừ muốn vươn ra khơi xa
để khai thác thì các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn càng nhiều, vì vậy hơn lúc nào hết việc
3
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập ở tỉnh Khánh Hoà tuy thời gian không nhiều nhưng
được sự chỉ dẫn tận tình của thầy cô trong bộ môn hàng hải cùng các ban ngành của
Sở Thuỷ Sản Khánh Hoà, đặc biệt là gia đình chủ tàu ông Trần Hoè đã giúp đỡ tôi
hoàn thành đợt thực tập này. Chính vì vậy tôi dành riêng trang ghi ơn này bày tỏ
lòng biết ơn đến những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian khó khăn vừa qua.
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa hàng hải đặc biệt
là thầy hướng dẫn Phan Trọng Huyến đã tạo điều kiện cho tôi thực tập tốt nghiệp để
điểm cực Bắc: 120
o
52'15'' vĩ độ Bắc. Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực
Nam: 110
o
42' 50'' vĩ độ đông trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, cũng chính
là điểm cực Đông trên đất liền của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
- Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hoà còn có vùng biển, vùng
thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Bên trên phần đất liền và
vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hoà.
b, Địa hình - Diện tích
- Diện tích của tỉnh Khánh Hoà là 5.197 km
2
(kể cả các đảo, quần đảo), đứng
vào loại trung bình so với cả nước. Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền. Bờ biển
dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần
đảo Trường Sa.
- Địa hình, Khánh Hoà nằm sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, diện tính
đồi núi chiếm 70% toàn bộ lãnh thổ, nhìn tổng thể địa hình của tỉnh Khánh Hoà
thấp dần từ phía Tây sang phía Đông, phía Tây là những dãy núi hình cánh cũng
bao bọc lấy đồng bằng nhỏ hẹp, liền kề là nhiều đầm, vịnh và đảo nhỏ nằm rải rác
ven bờ biển.
c, Chế độ gió
- Về mùa Đông hướng gió chủ yếu là hướng Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc. Về
mùa Hè hướng gió chủ yếu là hướng Nam, Đông Nam và Tây Nam. Tốc độ gió
trung bình hàng năm giao động khoảng 2,4 ÷ 2,8m/s và chênh lệch về tốc độ gió
trung bình của các tháng không vượt quá 0,7m/s. Nhìn chung tốc độ gió trung bình
5
của mùa Đông lớn hơn nhiều so với mùa Hạ. Từ tháng11 ÷ 2 năm sau tốc độ gió
e, Chế độ mưa
- Khánh Hoà có vùng nhiệt độ cao lên mưa là nhân tố quan trọng chi phối thời
vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là vùng
núi.
- Lượng mưa Khánh Hoà phân bố không đều và tăng theo địa hình từ Đông
sang Tây và từ Nam sang Bắc. Lượng mưa trung bình hàng năm đo được 1400 ÷
1700mm, và mùa bão gió lượng mưa đo được trong ngày lên đến 240 ÷ 400mm,
trong những năm gần đây thế giới chịu sự tác động của sự nóng lên của Trái Đất
khiến cho tình hình hạn hán gia tăng tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam và Khánh Hoà cũng phải gánh chịu những hậu quả đó và tình hình hạn hán
cũng như cháy rừng ngày càng có nguy cơ cao
f, Gió bão
- Theo thống kê hàng năm Khánh Hoà thường gánh chịu khoảng 10 cơn bão
và trên 1 cơn áp thấp nhiệt đới, sức gió cấp 6 ÷ 7(39 ÷ 61km/h) chiếm 55%, bão cấp
6
8 ÷ 9 (62 ÷ 88km/h), cấp 10 ÷ 12(100 ÷ 120km/h) chiếm khoảng 11%, các loại có
cấp siêu bão chiếm khoảng 1%
- Điều này cho thấy Khánh Hoà nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của bão
gió rất cao, chính vì vậy công tác dự báo báo phải thường xuyên và liên tục nhằm
đưa những thông tin chính xác nhất và hạn chế những hậu quả đáng tiếc có thể xảy
ra không chỉ cho nghề cá nói riêng mà toàn thể các cấp các ngành các phòng ban có
liên quan.
1.1.2. Đặc điểm hành chính
Tỉnh Khánh Hoà bao gồm: 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện cụ thể như sau - Thành phố Nha Trang
- Thị xã Cam Ranh
- Huyện Vạn Ninh
5 Phường Vĩnh Trường Phường Cam Thuận Xã Vạn Thắng Xã Ninh Vân
6 Xã Phước Đồng Xã Cam Phú Thị trấn Vạn Giã Xã Ninh Ích
7 Xã Vĩnh Lương Xã Cam Phúc Bắc Xã Vạn Hưng Xã Ninh Lộc
8 Xã Cam Phúc Nam Xã Vạn Lương Xã Ninh Hà
9 Xã Cam Hải Đông Xã Vạn Thạnh Xã Ninh Phú
10 Xã Cam Thành Bắc
11 Xã Cam Lập
1.1.4. Ngư trường hoạt động
- Nghề câu cá ngừ tập trung chủ yếu ở các xã phường của thành phố Nha
Trang như: Vĩnh Thọ, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Xương Huân, Hòn Rớ, Phước Đồng,
Cam Ranh, Cam Lợi.
- Ngư trường đánh bắt chính là: Đầu năm các tàu hoạt động ở các vĩ độ cao
gần quần đảo Hoàng Sa. Từ 12
0
00N ÷ 17
0
00N và 110
0
00E ÷ 170
0
00E, sau đó
chuyển dần xuống phía Nam. Vào các tháng 7 và tháng 8 hoạt động ở phía Tây
Nam của quần đảo Trường Sa.
- Về mùa vụ khai thác cá ngừ: Chia làm hai vụ là Vụ cá Nam và Vụ cá Bắc
+ Vụ Cá Bắc
8
Bắt đầu từ tháng 12÷ 4 năm sau đây là mùa vụ cho sản lượng cá cao và chất
lượng đạt tiêu chuẩn. Ngư trường đánh bắt chủ yếu từ 12
câu chuyên dụng khai thác được tốt hơn các đội tàu truyền thống của ngư dân
- Cá ngừ vây vàng: thường được khai thác ở tầng mặt đến độ sâu 250m. Cá
ngừ vây vàng được khai thác nhiều ở vùng nước có đường đẳng nhiệt từ 18 – 28
o
c
là nơi hội tụ các dòng chảy, vùng nước trồi, các đảo ngầm và là nơi có các đàn chim
đang ăn. Mùa vụ khai thác tốt nhất vào mùa xuân và mùa hè. Cá ngừ vây vàng đang
được ưa chuộng trên thị trường thì cá phải đạt trên 30kg và cá ngừ vây vàng chỉ
đứng thứ 2 sau cá ngừ mắt to về chất lượng làm Shasimi.
1.1.5. Năng lực khai thác
- Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2002 - 2006
9
Bảng 1.2. Thể hiện số lượng tàu thuyền qua công suất.
TT Nhóm công suất 2002 2003 2004 2005 2006
1 <20CV 2793 2799 2751 2684 2706
2 20 - <50CV 1178 1241 1680 1581 1644
3 50 - <90CV 777 719 683 768 817
4 90 - <150CV 131 158 217 312 326
5 150 - <400CV 20 25 28 54 66
6 400CV Trở lên 02 02 02 03 03
Tổng cộng 4901 4944 5361 5420 5562
Biểu đồ 1.1 Thể hiện khai thác thuỷ sản Khánh Hoà thừ 2002 - 2006
Kéo Vây Rê Câu Nghề khác
1 <20CV 106 260 235 187 1.918
2 20 - <50CV 233 796 175 85 355
3 50 - <90CV 289 270 157 82 19
4 90 - <150CV 88 64 86 60 28
5 150 - <400CV 6 5 22 9 24
6 400CV Trở lên 2 1
Tổng cộng 722 1395 675 425 2345
Biểu đồ 1.2 Thể hiện số lượng tàu thuyền qua ngành nghề ở Khánh Hoà
s ố l ư ợ n g
0
5 0 0
1 0 0 0
1 5 0 0
2 0 0 0
2 5 0 0
k é o vâ y rê c â u n g h ề
k h á c
s ố lư ợ n g11
Nhận xét:
Qua biểu đồ ta thấy được số lượng các tàu thuyền theo nghề trong tổng số
lượng các tàu thuyền khai thác thì nghề câu chiếm một tỷ lệ nhỏ nhất với 425 chiếc
chiếm 7,7% tổng lượng tàu thuyền trong toàn tỉnh có nhiều nguyên do nhưng chủ
yếu là do chi phí đóng một con tàu câu cá ngừ đại dương là rất lớn, và chỉ có những
gia đình có tiềm năng về mặt kinh tế mới có khả năng đóng tàu. Nhưng hiệu quả
của nghề câu cá ngừ mang lại là không nhỏ qua điều tra của sở thuỷ sản tỉnh Khánh
chưa đi sâu vào người dân đặc biệt là lượng lao động làm việc trực tiếp trên tàu cá.
- Về khả năng sử dụng máy móc, trang thiết bị trên tàu. Với thực trạng như
thế số lao động nghề cá có trình độ học vấn không cao, khả năng sử dụng máy móc
trang thiết bị trên tàu chưa đạt hiệu quả, chưa khai thác được hết những tiện tích của
máy móc, đa số chỉ là những thao tác cơ bản, chỉ có một số ít là sử dụng thành thạo
mà số người này thường là chủ tàu, thuyền trưởng hoặc máy trưởng vì do lực lượng
này tiếp xúc với trang thiết bị thường xuyên hơn trong thực tế sản xuất.
1.1.7. Sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm, của tỉnh
Bảng 1.4 Thống kê sản lượng khai thác theo nghề, tàu, năm của tỉnh
Năm
Số lượng
thuyền máy
(chiếc)
Tổngcông suất
(CV)
Tổng sản lượng
(tấn)
Năng suất trung bình
(tấn/CV/năm)
2002 4901 123.900 60.972 0.49
2003 4944 122.602 61.735 0.5
2004 5361 127.260 59.702 0.467
2005 5120 158.260 63.118 0.398
2006 5562 195.498 65.000 0.33 13
14
- Tuyên truyền phổ biến các kiến thức nhằm nâng cao nhận thức và tầm quan
trọng trong giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đồng thời
xác định rõ vai trò trách nhiệm của cộng đồng nười dân trong việc tham gia bảo vệ
nguồn tài nguyên thủy sản
- Tăng cường quản lý nhà nước của ngành thuỷ sản Khánh Hoà của các cơ
quan chức năng và chính quyền các cấp trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn
lợi thuỷ sản ở Khánh Hoà
b, Định hướng phát triển khai thác thủy sản đến 2020
- Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề cấm mang tính huỷ
diệt nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản trên vùng biển Khánh Hoà
hình thành và quản lý có hiệu quả hệ thống các khu vực cấm khai thác, hạn chế khai
thác, khu bảo tồn biển nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên vùng biển
Khánh Hoà
- Xây dựng quy hoạch, chương trình khai thác hải sản phù hợp với quy hoặch
phát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá. Hợp tác du nhập các công
nghệ và trang bị kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới tiến tới tổ chức được
các đội tàu đủ mạnh có thể tiến hành hợp tác đánh cá viễn dương
- Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá loaị nhỏ, tiến tới cấm đóng mới các loại
tàu khai thác thuỷ sản có công suất < 90 CV vào năm 2020, khuyến khích đầu tư
đóng mới tàu vỏ thép, vỏ composic, loaị tàu có công suất > 150 CV cùng với việc
đầu tư đồng bộ cho nghề khai thác hải sản xa bờ
- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển
thuỷ sản, tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái bổ sung, tái tạo nguồn
giống hải sản “Nhân tạo” cho vùng biển, kể cả đối với các loài bản địa, đối tượng
khai thác từ bao đời của người dân ven biển
- Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều
có ý thức chấp hành tốt luật Thuỷ sản, luật Biển và các công ước quốc tế cũng như
luật pháp Việt Nam.
năng chịu đựng sóng gió thấp, phạm vi hoạt động khai thác hẹp số lượng đội tàu
16
của ngư dân vào thời điểm hiện nay ước tính khoảng 1500 tàu, trong đó các tỉnh
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà có hơn 400 chiếc.
- Bên cạnh đội tàu của ngư dân thì các tàu của các đội tàu của các doanh
nghiệp cũng phát triển khá mạnh, tàu của các đội tàu có khả năng hoạt động khai
thác trong điều kiện sóng gió cấp 10, 11 và thời gian chuyến biển kéo dài 30 - 40
ngày, ở nước ta hiện nay thì các tàu có công suất từ 200 - 800CV có hơn 40 chiếc.
1.3.2. Tình hình máy móc và trang thiết bị
- Máy chính
Hầu hết các tàu đã và đang hoạt động nghề câu cá ngừ ở Việt Nam đều trang
bị các hãng máy của Nhật như.YANMAR, MITSUBISHI, HINO, ISUZU. Máy
chính các tàu câu cá ngừ đại dương chủ yếu là mua lại các máy cũ của nước ngoài
đã qua sử dụng, và chất lượng còn khoảng 80%, khi mua về chủ tàu tân trang lại
nhằm nâng cao chất lượng của máy lên rồi mới lắp xuống tàu, và nếu trong số các
máy này không được kiểm tra thường xuyên như là các công tác tra dầu mỡ bôi
trơn làm mát máy, để máy làm việc quá tải thì rất dễ xảy ra tai nạn bất ngờ khi tàu
hoạt đang hoạt động trên biển, máy chính trang bị đảm nhận nhiều chức năng trên
tàu như trích lực cho máy bơm, máy thu câu, máy tời và các hệ thống điện trên tàu,
cụ thể trong chuyến đi khảo sát một chuyến biển trên tàu câu cá ngừ thì có tàu
KH98578TS của chủ tàu ông Văn Báu đã bị hỏng máy khi vừa đi đến ngư trường,
nguyên nhân là do máy cũ không được bổ tu kịp thời đã bị hư hỏng nặng và đã
được đưa ngay về để sửa chữa.
- Máy phụ
Hầu hết các tàu ở Việt Nam là chủ yếu trang bị máy chính có rất ít các tàu
trang bị máy phụ. Máy phụ khi trang bị chủ yếu là để phát điện cho hệ thống đèn và
các máy hàng hải trên tàu hoạt động và có tác dụng khi máy chính gặp sự cố bị
hỏng, một điều rất đáng tiếc là tàu không trang bị máy phụ thì khi máy chính hỏng
khi đang hoạt động thì lại phải nhờ tàu khác kéo về làm tổn hao chi phí cho chủ tàu
phao cứu sinh”. Ngoài ra một số còn cho rằng trang bị phao cứu sinh là dấu hiệu
của tai nạn đây là quan điểm mê tín không thể chấp nhận được nhưng nó là nề nối
18
tập tục của ngư dân. Qua đây ta thấy rất rõ được sự chủ quan với công tác này và
khi sự cố xảy ra thì rất có thể thiệt hại về người, lúc đó không ai khác ngoài những
ngư dân ấy phải gánh chịu đây là vấn đề rất phổ biến trong hoạt động nghề cá đã
đến lúc các cấp lãnh đạo phải và cuộc để ngăn chặn tối thiểu các rủi do xảy ra mục
đích an toàn tính mạng của ngư dân.
- Phao tròn. Các tàu câu cá ngừ thường không trang bị tròn mà theo quy định
của tàu cá hoạt động xa bờ thì mỗi tàu phải trang bị tối thiểu 2 chiếc phao tròn.
Phao tròn dùng để cứu người khi có sự cố người rơi xuống biển hoặc dùng phải làm
việc dưới nước thì phao tròn đảm bảo an toàn cho người lao động.
- Can nhựa. Trên thực tế các tàu cá ngừ đai dương có rất nhiều tác dụng trong
đó nổi bật nhất là dùng để chứa nước ngọt sinh hoạt và khi hết nước thì đây chính là
phương tiên cứu sinh của ngư dân thay thế cho phao áo và phao tròn trên các tàu
câu thì ngư dân còn kết can nhựa thành từng bè lớn và để trên nóc ca bin mục đích
phòng ngừa sự cố xảy ra.
- Trang bị cứu hoả
+ Bơm 1 ÷ 3 chiếc tuỳ mức độ tàu lớn hay nhỏ, lưu lượng 2m
3
/h/chiếc, bơm
trang bị trên tàu dùng cứu hoả, cứu thủng, vệ sinh trên tàu và rửa sạch tàu sau khi
đánh lưới chuồn và sau khi giết mổ cá
+ Bình bọt 1 ÷ 3 chiếc đối với loại trang bị này thì các đội tàu câu cá ngừ đại
dương hầu như trang bị đầy đủ nhưng về chất lượng thì chưa đảm bảo. Một số tàu
thì bình bọt đã quá lâu trong lượng bình giảm, bình bị hỏng không còn sử dụng
được mà vẫn được để trên tàu mà không thay thế. Và khi xảy ra sự cố cháy trên tàu
thì tàu không cần dùng đến loại bình này mà ngư dân thường dùng bơm để đập,
trong thực tế thì có rất nhiều loại lửa như loại lửa B (cháy do xăng dầu) mà dùng
ICOM, Phổ biến là M-718, M-710, M-700 của Nhật, việc truyền số liệu GPS về
đất liền qua song ngắn của máy thu- phát vô tuyến ICOM.
+ Radar cần thiết cho cho đảm bảo hàng hải và để đánh dấu vàng câu, tuy
nhiên 100% tàu của ngư dân trên địa bàn Khánh Hoà không lắp đặt lý do giá cả khá
cao vả lại việc coi vàng câu thì ngư dân cho tàu neo gần vị trí thả câu xong và phân
công nhau trông coi vàng câu bằng 1 cây cờ đèn tín hiệu
20
+ Máy đo sâu dò cá, Máy lái tự động, Máy plotter màu, Máy fax thời tiết,
Máy dò phao. Hầu hết các tàu không được trang bị loại máy này
+ Máy thông tin liên lạc. Chủ yếu là máy đàm thoại của các hiệu máy
ICOM,Galaxy, Sea Eagle mỗi tàu tran bị 01 bộ gồm máy đàm thoại tầm xa và máy
đàm thoại tàm gần, dùng để thông tin liên lạc với bờ và với các tàu khác, máy đàm
thoại tầm xa trên các tàu câu cá ngừ chủ yếu hiệu máy ICOM, máy đàm thoại tầm
gần có hiệu máy Galaxy hoặc SeaEagle.
- Thiết bị hằng hải dò cá
+ La bàn lái, hải đồ, dùng để xác định hướng đi của tàu và vị trí ngư trường
khai thác. Các thiết bị này hầu hết các tàu được trang bị đầy đủ.
+ Ống nhòm 100% các tàu câu cá ngừ đại dương của Khánh Hoà được trang
bị ống nhòm do Liên Xô, Việt Nam và Trung Quốc sản xuất
+ Máy đo sâu dò cá. Hầu hết các tàu không trang bị, một số tàu do bộ thuỷ
sản đăng ký và tàu có công suất lớn mới trang bi loại máy này. Máy đo sâu dò cá
dùng để đo sâu, xác định chất đáy và dò tìm đàn cá tại ngư trường khai thác
- Đèn hiệu
+ Đèn hành trình, đèn lái, đèn mạn, đèn pha, đèn nháy được trang bị đầy đủ
để hành trình trong đêm tối và thông báo cho các tàu khác biết tình trạng của tàu
mình
+ Vật hiệu hình cầu, quốc kỳ Việt Nam, có đuôi nheo báo bão được trang bị
đầy đủ dùng để báo hiệu ban ngày nhằm thông báo cho các tàu khác biết tình trạng
của tàu mình