tiểu luận sản xuất giá trị thặng dư - Pdf 15

L i núi u
Trớc khi đa ra một nền sản xuất nào đó ngời sản xuất phải nghiên cứu sản xuất
ra hàng hoá đó có giá trị, bên cạnh đó là có gía trị thặng d. Vì sản xuất giá trị
thặng d là quy luật biểu hiện bản chất của phơng thức sản xuất, phản ánh mục
đích và phơng hớng phát triển của nền sản xuất. Bất kỳ một nền sản xuất nào
muốn phát triển đợc, muốn đáp ứng nhu cầu của con ngời về điều kiện sống đều
phải tái sản xuất mở rộng và phải tạo ra đợc nhiều sản phẩm thặng d. Trong
mọi xã hội, sản phẩm thặng d bán trên thị trờng đều có giá trị nhng chỉ có ở nền
sản xuất t bản chủ nghĩa thì giá trị của sản phẩm thặng d mới là giá trị thặng d.
Do đó, sản xuất giá trị thặng d là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản.
Cho nên để nghiên cứu giá trị thặng d ta chỉ nghiên cứu nền sản xuất t bản chủ
nghĩa C.Mác đã nghiên cứu khái quát đa ra cơ sở giá trị thặng d. Ông là ngời
đầu tiên phát hiện tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và nghiên cứu
sự phát triển của các hình thái giá trị. Đó là cơ sở,là chìa khoá để xây dựng và
hoàn chỉnh lý luận về hàng hoá, giá trị và tiền tệ, giải thích một cách khoa học,
triệt để để xây dựng lý luận về hàng hoá sức lao động. Đây là cơ sở để xây dựng
học thuyết giá trị thặng d, là thàmh tựu vĩ đại của kinh tế học mác xít. Trên cơ
sở đó, ông phát hiện toàn diện hệ thống phạm trù quy luật của phơng thức sản
xuất t bản chủ nghĩa và các mâu thuẫn nội tại của nó. Ông hoàn chỉnh lý luận
về tái sản xuất t bản xã hội (chia tổng sản phẩm xã hội thành ba phần t bản bất
biến, t bản khả biến, giá trị thặng d, chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực:
sản xuất t liệu sản xuất và sản xuất vật phẩm tiêu dùng, mối liên hệ trao đổi
giữa hai khu vực về giá trị và hiện vật) và nhiều vấn đề khác. Nhờ đó mà C.Mác
đã đa kinh tế chính trị tới đỉnh cao khoa học.
1
I. MY MểC VI LAO NG
1. Máy móc đối với nền sản xuất t bản chủ nghĩa
Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng d?. C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị của
hàng hoá trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những t liệu sản
xuất đã đợc tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lợng giá trị mới do lao
động sống thêm vào trong đó để bù lại t bản khả biến đã đợc dùng để mua sức

Lợng giá trị của hàng hoá đợc xác định nh thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao
động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lợng giá trị của hàng hoá là số lợng lao
động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật
hoá thể hiện ở t liệu sản xuất)
Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có
ích dới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi
lao động cụ thể có một mục đích riêng, phơng pháp hoạt động riêng, công cụ lao
động riêng, đối tợng lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của
ngời thợ xây, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động
cụ thể là tạo ra một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng
hoá.
Lao động trừu tợng: là lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá không kể đến
hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau là
sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động
trừu tợng, nó tạo ra giá trị của hàng hoá.
Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao
động của ngời sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất
hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động t nhân và lao động xã hội
của những ngời sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất
hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu
hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tợng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng
hoá.
3
Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động
có mục đích của con ngời, đối tợng lao động, t liệu lao động (quan trọng hơn cả
là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc
càng hiện đại thì sức sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử
dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian.
Nhng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia

trị và gía trị thặng d đã đợc tạp ra trong lĩnh vực sản xuất.
Nếu thiếu sức trừu tợng hóa, chỉ quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi
sâu vào bản chất của hiện tợng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng d với
việc sản xuất ra giá trị thặng d. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là
nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là điều
kiện để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh.
Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trớc trong việc
ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ
đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá
trị thị trờng sẽ hạ xuống, hàng hoá rẻ đi, những ngời tiêu dùng đợc hởng lợi và
không có ngời sản xuất nào thu đợc lợi nhuận siêu ngạch nữa.
Nhng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng dụng công
nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật
tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh dới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất
yếu dẫn đén phân hoá giàu nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà n-
ớc phải thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân c và
hỗ trợ những ngời nghèo.
Cũng cần lu ý rằng máy móc là phơng tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của ngời
lao động, tiết kiệm lao động sống nhng không phải bao giờ máy móc cũng là
điều kiện để thu đợc nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói
về giới hạn sử dụng máy móc trong chủ nghĩa t bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà t
bản không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử
dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị
của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công
thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn không phải
từ việc giảm bớt lao động đợc trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện ngời Mỹ chế tạo
ra máy đập đá, nhng ngời Anh không sử dụng máy móc đó vì sử dụng kẻ khốn
khó làm công việc ấy sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận hơn.
Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ
khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc

nớc và từng thời kỳ mà giá trị sức lao động có thể cao hay thấp khác nhau.
6
b. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: là ở chỗ nó thoả mãn nhu cầu nào
đó cuat ngời mua. Nhng khác với hàng hoá thông thờng khác, hàng hoá sức lao
động có một giá trị sử dụng đặc biệt là khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một giá trị
lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng d mà
nhà t bản chiếm đoạt.
Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong lĩnh vực
sản xuất. Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra những giá trị sử
dụng thì giá trị và giá trị thặng d cũng đợc tạo ra.
3. Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực
Có ngời cho rằng C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng thời với C.Mác
trong thời đại máy hơi nớc, máy dệt. . . đều quan niệm của cải đợc lao động sáng
tạo ra là của cải dạng vật thế. Từ đó quy công trực tiếp tạo ra gía trị cho lao động
thực thể và chính C.Mác đã nhấn mạnh của cải vật thể và lao động thực thể
đồng thời đã có nêu luận điểm về của cải tinh thần và lao động khoa học. Sự kế
tục, sáng tạo phải nối tiếp những gợi ý.
Luận điểm trên hoàn toàn sai lầm, do không nắm đợc phơng pháp trình bày của
C.Mác. Khi nói giá trị hàng hoá đợc đo bắng thời gian lao động trung bình cần
thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Tức là thời gian đòi hỏi để sản xuất
ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thờng của xã
hội với một trình độ thành thạo trung bình và một cờng độ lao động trung bình
trong xã hội đó. C.Mác đồng thời cũng đề cập đến lao động phức tạp coi lao
động phức tạp là bội số của lao động giản đơn. Nói đúng hơn là lao động giản
đơn nhân bội lên , thành thử một lao động phức tạp nhỏ hơn thì tơng đơng với
một lợng lao động giản đơn lớn hơn.
Nhng do áp dụng phơng pháp trừu tợng hoá khoa học, C.Mác đã giả định từ
nay về sau, để cho sự trình bày đợc đơn giản, chúng tôi sẽ trực tiếp coi mọi loại
sức lao động nh là một sức lao động giản đơn. Điều đó, sẽ tránh cho chúng ta
khỏi phải quy lao động phức tạp ra lao động giản đơn trong từng trờng hợp một.

Đến đây, nếu ngời công nhân đợc nghỉ thì anh ta không bị bóc lột. Nhng nh
vậy thì nhà t bản sẽ không đạt đợc mục đích của sản xuất. Nhà t bản chi ra 23
đồng không phải để thu về 23 đồng,mà để thu một số tiền lớn hơn. Vả lại, nhà t
bản mua sức lao động của công nhân cốt để dùng trong 10 giờ, chứ không phải
8
để dùng trong 5 giờ.Về mặt pháp lý mà nói, điều này đã có sự thoả thuận trớc
giữa kẻ mua và ngời bán dới áp lực của quy luật cung cầu ở thị trờng lao động.
Nh vậy, ngời công nhân bắt buộc phải lao động thêm 5 giờ nữa. Lần này, nhà
t bản chỉ cần chi ra một số t liệu sản xuất có giá trị là 20 đồng, chứ không phải
chi thêm tiền mua sức lao động. Sau 5 giờ lao động,đồng thới với việc chuyển số
t liệu sản xuất có giá trị 20 đồng thành sản phẩm mới, ngời công nhân vẫn sáng
tạo ra một lợng giá trị mới là 3 đồng.
Tổng cộng trong 10 giờ sản xuất, nhà t bản chi 43 đồng (gồm 40 đồng về t
liệu sản xuất và 3 đồng mua sức lao động), nhng lại thu về một số sản phẩm mới
có giá trị là 46 đồng. Số tiền thu về lớn hơn số vốn ứng trớc là 3 đồng. Hắn bỏ túi
3 đồng dôi ra đó mà không phải trả một vật ngang giá nào. Ba đồng đó là giá trị
thặng d.
Nh vậy là trong 10 giờ lao động, ngời công nhân chỉ dùng một phần thời
gian để bù đắp lại giá trị sức lao động, còn một phần là thời gian lao động không
còn cho nhà t bản. Phần thời gian để ngời công nhân tái sản xuất giá trị sức lao
động, tức là giá trị những t liệu cần thiết cho ngời công nhân, là thời gian lao
động cần thiết , còn phầnn thời gian dùng để sản xuất giá tri cho nhà t bản,là thời
gian lao động thặng d. Trong ví dụ nói trên, ngoài 5 giờ lao động cần thiết để sản
xuất một lợng giá trị ngang bằng giá trị sức lao động của mình (3 đồng), ngời
công nhân còn phải thêm vào đó 5 giờ lao động thặng d để sản xuất giá trị thặng
d cho nhà t bản (3 đồng ). Nh vậy, giá trị thặng d là giá trị do lao động của công
nhânlàm thuê sáng tạo ra thêm ngoài giá trị sức lao động của họ và bị nhà t bản
chiếm không, là kết quả của lao động không công của ngời công nhân .
Từ đó, chúng ta thấy rằng t bản không phải là một số tiền, cũng không phải là
t liệu sản xuất mà là quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội nhất định trong lịch sử. Nó

công nhân làm việc suốt 24 giờ một ngày.Nhng trong thực tế có những yếu tố
khách quan ngăn chặn tham vọng đó của nhà t bản. Ngày lao động có giới hạn
về mặt sinh lý và tinh thần của ngời công nhân không thể kéo dài bao nhiêu cũng
đợc. Mặt khác, giai cấp công nhân luôn luôn đấu tranh đòi rút ngắn ngày lao
10
động. Tuy nhiên, ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời
gian lao động cần thiết, vì nh vậy không còn cơ sở cho chủ nghĩa t bản tồn tại.
Nhà t bản mua sức lao động và cho rằng có quyền sử dụng nó theo ý muốn, có
quyền kéo dài ngày lao động đến mức có thể kéo dài đợc. Còn ngời công nhân
thì dựa trên nguyên tắc trao đổi hàng hoá, cho rằng mình có quyền đòi hạn chế
ngày lao động ở mức bình thờng. Nh vậy là ở đây có mâu thuẫn, quyền đối lập
với quyền mà cả hai quyền đó đều đợc quy luật hàng hoá phê chuẩn một các nh
nhau. Giữa hai quyền ngang nhau thì cái quyền quyết định là sức mạnh.
Trong thời kỳ đầu, kỹ thuật sản xuất còn kém, năng suất lao động còn thấp,
nhà t bản chủ yếu là dựa vàoviệc kéo dài ngày lao động để tăng mức độ bóc lột.
Mặt khác, sức đấu tranh của công nhân còn yếu, ngày lao động kéo dài đến 17,
18 giờ. Về sau, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi rút ngắn ngày lao
động ngày càng trở nên quyết liệt, giai cấp t sản không thể tự ý kéo dài ngày lao
động bao nhiêu cũng đợc, chúng buộc phảI rút ngắn ngày lao động.
Bị buộc phải rút ngắn ngày lao động, nhà t bản lại tìm cách khác để tăng cờng
bóc lột công nhân. Đó là tăng cờng độ lao động, nghĩa là bắt công nhân phải làm
việc căng thẳng hơn, hao phí nhiều sức lực hơn. Do đó, tạo ra đợc giá trị và giá
trị thặng d nhiều hơn. Tăng cờng độ lao động cũng có tác dụng nh kéo dài ngày
lao động. Tuy nhiên, nhà t bản cũng không thể tăng cờng độ lao động lên vô hạn,
họ tìm ra một phơng pháp bóc lột khác tinh vi hơn là bóc lột giá trị thặng d tơng
đối.
2. Phơng pháp sản xuất giá trị thặng d tơng đối
là giá trị thặng d thu đợc do rút ngắn thời gian lao động cần thiết, nhng không
thay đổi ngày lao động. Do đó, thời gian lao động thặng d tăng lên một cách t-
ơng ứng. Ví dụ:

xuất để tăng năng suất lao động. Việc chạy đua giành giá trị thặng d siêu ngạch
dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lợng sản xuất
phát triển.
12
Sản xuất giá trị thặng d tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng d tơng đối là hai ph-
ơng pháp cơ bản để nhà t bản nâng cao mức độ bóc lột giai cấp công nhân. Cả
hai phơng pháp đều đợc áp dụng song song trong suốt quá trình lịch sử phát triển
của chủ nghĩa t bản, nhng nhìn chung càng về sau, kỹ thuật càng phát triển thì sự
bóc lột giá trị thặng d tơng đối chiếm u thế.
IV. NI DUNG VAI TRề CA SN XUT GI TR THNG D
Sản xuất giá trị thặng d là quy luật biểu hiện bản chất của phơng thức sản
xuất, phản ánh mục đích và phơng hớng của nền sản xuất t bản chủ nghĩa. Sản
xuất giá trị thặng d là mục đích của nền sản xuất t bản chủ nghĩa. Vì mục đích
này, các nhà t bản sản xuất bất kỳ hàng hoá gì để thu đợc nhiều giá trị thặng d.
Phơng tiện để đạt mục đích là tăng cờng phát triển kỹ thuật, tăng năng suất lao
động, tăng cờng độ lao động, kéo dài ngày lao động và bóc lột sức lao động của
công nhân. Giá trị thặng d xét về mặt bản chất chứ không xét về mặt lợng sản
phẩm thặng d là một phạm trù riêng của chủ nghĩa t bản. Trong mọi xã hội, sản
phẩm thặng d bán trên thị trờng đều có giá trị, nhng chỉ ở chủ nghĩa t bản thì giá
trị của sản phẩm thặng d mới là giá trị thặng d. Do đó, sản xuất giá trị thặng d là
quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản.
Nội dung của quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng d cho nhà t bản
bằng cách tăng cờng các phơng tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng
nhiều lao động làm thuê. Quy luật giá trị thặng d có tác động mạnh mẽ trong đời
sống xã hội t bản. Một mặt, nó thúc đẩy kỹ thuật, phân công lao động xã hội
phát triển làm cho lực lợng sản xuất, năng suất lao động tăng lên nhanh chóng và
nền sản xuất đợc xã hội hoá cao. Mặt khác, nó làm cho các mâu thuẫn vốn có
của chủ nghĩa t bản trớc hết là mâu thuẫn cơ bản của nó - mâu thuẫn giữa tính
chất xã hội của sản xuất với sự chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa ngày càng gay
gắt. Quy định xu hớng lịch sử tất yếu của chủ nghĩa t bản sẽ phải nhờng chỗ cho

luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả
hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận
và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ
bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội
thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một
mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối
thông qua Nhà nước và bằng các "kênh" phân phối lại và điều tiết thu nhập xã
hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh
được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như
việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản
xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền
kinh tế quốc tế.
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người
lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể
mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích
trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy
như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp
thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những
14
quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên
trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan
hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản
nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
* GS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1993, t 23, tr 347
(2) C. Mác va Ph. Ăng-ghen: Sđd, t26, phần II, tr 804


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status