ĐỀ TÀI
Giá trị thặng dư vận dụng vào sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa
ở nước ta
Giáo viên hướng dẫn :
Họ tên sinh viên :
MỤC LỤC(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)
1
1. L I M U. Ờ Ở ĐẦ 3
2. N I DUNG.Ộ 4
2.1.C s lý lu n c a giá tr th ng d , ph ng pháp s n xu t giá tr ơ ở ậ ủ ị ặ ư ươ ả ấ ị
th ng d tuy t i v giá tr th ng d t ng i, m i quan h gi a hai ặ ư ệ đố à ị ặ ư ươ đố ố ệ ữ
ph ng pháp n y.ươ à 4
2.2. Ý ngh a c a vi c nghiên c u các ph ng pháp s n xu t giá tr th ng ĩ ủ ệ ứ ươ ả ấ ị ặ
d : ư 12
2.3. Ph ng pháp s n xu t giá tr th ng d tuy t i v t ng i ươ ả ấ ị ặ ư ệ đố à ươ đố
c v n d ng v o trong công cu c công nghi p hoá hi n i hoá c a đượ ậ ụ à ộ ệ ệ đạ ủ
n c ta hi n nay.ướ ệ 13
3. K T LU N.Ế Ậ 23
2
1. LỜI MỞ ĐẦU.
Lấy cơ sở nghiên cứu là trường phái kinh tế chính trị cổ điển, mà đại
biểu chính là David Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trường
phái kinh tế chính trị Macxít và sau này được lênin củng cố thành kinh tế
chính trị Mac - Lênin. Kinh tế chính trị Mac - Lênin đã đưa ra những luận
chứng có tính chất quá độ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và tất yếu của cách
mạng xã hội chủ nghĩa và hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Quyển I của bộ tư
bản có tựa đề là “Về tư bản” được K.Marx cho xuất bản năm 1867, trong tác
phẩm này K.Marx đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh
tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được, nó được đánh giá
như “tiếng sét nổ giữa bầu trời quang đãng của chủ nghĩa tư bản”, một trong
dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối, mối quan hệ giữa hai
phương pháp này.
Đã có nhiều người đưa ra các phạm trù giá trị thặng dư, nhưng họ không
chỉ ra được sự đúng đắn của phạm trù này, K.Marx là người đầu tiên xây
dựng hoàn chỉnh học thuyết giá trị thặng dư.Và theo K.Marx thì “giá trị thặng
dư là giá trị do sức lao động của công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động và
bị nhà tư bản chiếm đoạt”, nó là kêt quả lao động không công của người công
nhân làm thuê. Khi nói đến tư bản người ta thường liên tưởng đến tiền, đến tư
liệu sản xuất, nhưng không phải như vậy, mà tư bản là quan hệ sản xuất hàng
hoá, là mối quan hệ sản xuất giữa giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân
làm thuê, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động
không công của công nhân làm thuê. Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi mục đích của
giai cấp tư sản là giá trị thặng dư. Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư, trước
4
hết nhà tư bản phải sản xuất ra hàng hoá có giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng
là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư. Đây
cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu sản
xuất để sản xuất giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được
kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá trình sản
xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân lao động làm
thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng
lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động,
phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư. Ví dụ sau sẽ minh hoạ rõ về giá trị thặng
dư:
Giả sử để chế tạo 1kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 20.000 đơn vị tiền
tệ mua 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức
lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 10 giờ. Tổng cộng số tiền
ứng ra là 28.000 đơn vị tiền tệ. Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể
công nhân sử dụng máy móc để chuyển 1kg bông thành 1kg sợi, Theo đó giá
trị của bông và hao mòn của máy móc được chuyển vào sợi, bằng lao động
quát theo công thức sau:
c + v + m
Trong đó:
c: giá trị tư liệu sản xuất
v: giá trị của sức lao động
m: giá trị thặng dư
Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử
dụng vào những mục đich khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tư
liệu sản xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dư
hơn.
6
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng
hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt
đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối. Mỗi phương pháp đại diện cho
một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử
khác nhau của xã hội.
Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu
của chủ nghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao
động thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường
thủ công. Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị
thặng dư. Bởi phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu
được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi
năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu là không
thay đổi. Có nghĩa là khi nhà tư bản muốn tăng giá trị thặng dư, thì nhà tư bản
sẽ mua thêm máy móc mua, thêm tư liệu sản xuât, thuê thêm công nhân để
sản xuất ra hàng hóa; nhưng móc, chỉ mua thêm nguyên liệu sản xuất, và bắt
công nhân hiện có phải cung cấp thêm một lượng lao động, đồng thời tận
dụng triệt để công suất của máy móc hiện có. Cái lợi ở đây là nhà tư bản
không cần ứng thêm tư bản, thuê thêm công nhân, mua thêm máy móc thiết
bị, đồng thời máy móc sẽ được khấu hao nhanh hơn, hao mòn và chi phí bảo
họ phải tập trung làm việc hơn, các thao tác làm việc phải nhanh hơn… những
việc đó sẽ tốn nhiều sức lao động hơn so với bình thường, và cũng tạo ra
nhiều sản phẩm hơn. Nhưng việc tăng cường độ lao động khó hơn việc tăng
thời gian lao động của người công nhân. vì việc này muốn thực hiện đựoc thì
nhà tư bản phải thay đổi máy móc.
8
Việc áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối ngoài việc
gặp khó khăn như ở trên đã đề cập, theo D.Ricardo “với sự tăng thêm của một
nhân tố sản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố sản xuất khác là không
thay đổi, năng suất của của nhân tố tăng thêm sẽ giảm đi”. Bởi vậy, việc gia
tăng các nguyên liệu sản xuất trong khi các điều kiện sản xuất khác không
đổi, là việc làm không hiệu quả khi mà nhà tư bản muốn tăng thu thêm giá trị
thặng dư.
Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối
gặp phải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
tương đối vào sản xuất. Phương pháp này có tiến bộ vượt bậc so với phương
pháp giá trị thặng dư tuyệt đối, thể hiện trình độ sản xuất cũng như trình độ xã
hội đã được nâng lên một tầm cao hơn. Phương pháp giá trị thặng dư tương
đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng
cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên
ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ. Vì giá trị sức lao động
được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất
sức lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các
tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động. Điều đó chỉ được
thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư
liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu
sinh hoạt và dịch vụ. VD: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ
là thời gian lao động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi này tỷ
suất thăng dư là 100%.Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động
không thay đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là
10
từ từ những thiết bị tin học hiện đại làm cho người lao động bị hao phí rất
nhiều sức lực, phát sinh nhiều bệnh nghề nghiệp, các bệnh này có thể phát
sinh ngay trong quá trình còn đang lao động của người công nhân nhưng cũng
có thể để lại di chứng sau một thời gian dài mới biều hiện bệnh.
Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch,
đây là cái đích hướng tới của các nhà tư bản. Giá trị thặng dư siêu ngạch là
giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt
của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của nó. Xét trong từng trường hợp giá trị
thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó
đã được phổ biến rrộng dãi, nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một
hiện tượng thường xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng
của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ
thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất xã hội
tăng lên nhanh chóng. Bởi vậy K.Marx gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là biến
tướng của giá trị thặng dư tương đối.
Thực ra, hai phương pháp giá trị thặng dư đó không hề bị tách dời nhau,
mà chỉ trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiều hay
ít mà thôi, trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp giá trị
thặng dư tuyệt đối được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp giá trị thặng
dư tương đối, còn trong thời kì sau của chủ nghĩa tư bản thì ngược lại. Trong
xã hội hiện đại ngày nay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư đã tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản,
bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày
càng nhiều sức lao động làm thuê. Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao
động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ
lao động của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không
đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục
11
buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cường độ
không tồn tại, mà giá trị thặng dư được sử dụng vào mục đích khác không
giống như giai cấp tư sản, đó là giá trị thặng dư thu được là cơ sở, tiền đề để
xây dựng đất nước, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vì mục đích
phát triển xã hội chủ nghĩa, vì con người. Không tác ra khỏi xu hướng của xã
hội, Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào trong
công cuộc xây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình
phát triển kinh tế mỗi quốc gia.
Khi tách riêng hai thuật ngữ công nghiệp hoá và hiện đại hoá ra làm hai,
thấy công nghiệp hoá là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân một nước từ
trình độ phát triển thấp sang một trình độ phát triển cao hơn nhiều dựa trên cơ
sở các ngành kinh tế có trình độ khoa học công nghệ hiện đại, với năng suất
chất lượng hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn, còn hiện đại hoá là việc xây dựng và
phát triển đất nước đạt trình độ của những nước phát triển nhất của thời đại
mà mấu chốt là đạt trình độ hiện đại hoá của nền sản xuất xã hội. Chính bởi
vậy mà công nghiệp hoá phải luôn đi đôi với hiện đại hoá, tạo thành khái
niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,
dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang
sử dụng một cách phổ biến lao động với công nghệ, phương tiện tiên tiến,
13
hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Thực chất công nghiệp hoá, hiện
đại hoá: là quá trình tạo ra những tiền đề về vật chất, kỹ thuật, về con người,
công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng sản
xuất cho chủ nghĩa xã hội. Nội dung cốt lõi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
là cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sủ dụng kỹ thuật tiên tiến
hiện đại đạt tới năng suất lao động xã hội cao, tạo ra sự đổi mới trong tất cả
các ngành nghề, lĩnh vực.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải được tiến hành từng bước,
phải có sự đồng bộ trong giữa các bước, tránh nóng vội chủ quan sẽ đem lại
dân. Đảng ta đã lấy mục tiêu phát triển của đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa nên một làm cần thiết là chúng ta phải tuyên truyền rộng khắp tư
tưởng của chủ nghĩa xã hội làm cho nhân dân hiểu, tin tưởng vào chế độ mà
đảng đã lựa chọn, yên tâm tham gia sản xuất phát triển xã hội.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cuộc cải biến cách mạng từ xã hội
nông nghiệp trở thành xã hội công nghiệp, đó là cuộc cải biến trên mọi lĩnh
vực, làm được điều đó cần có nhiều điều kiện về kinh tế, văn hoá xã hội. Một
tiền đề quan trọng là việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Trong tình
hình hội nhập kinh tế thé giới sôi động ngày nay thì mỗi quốc gia đều phát
triển dựa trên hai nguồn vốn chính là vốn trong nước và vốn ngoài nước,
nhưng mỗi nước có quan điểm khác nhau trong việc coi trọng nguồn vốn
trong nước hay nước ngoài hơn. Quan điểm của nước ta là dựa vào vốn trong
nước là chính, vốn nước ngoài là quan trọng. Chúng ta phải tận dụng hết mọi
nguồn vốn trong nước để tạo ra sự phát triển bền vững, cân đối, nhưng nguồn
vốn nước ngoài là chất xúc tác quan trọng đưa nền kinh tế phát triển vượt bậc.
Việc tích luỹ nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân được thực hiện trên cơ
15
sở hiệu quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động
thuộc tất cả các thành phần kinh tế. Con đường cơ bản để giải quyết vấn đề
tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng
tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, mặt khác chúng ta phải
khai thác và sử dụng tốt quỹ lao động. tập trung sức phát triển nông nghiệp,
công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, chỉ như thế chúng ta mới tận
dụng được hết các nguồn lực sẵn có, tận dụng được lợi thế tương đối của
nước ta. Chúng ta tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia tham
gia vào đầu tư tại nước ta, giúp nguồn vốn đầu tư được bổ sung, đó là các
nguồn vốn như FDI, ODA, nguồn vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế
như: IMF, ADB, WB… Khi các nguồn vốn này được đưa vào trong nước thì
sẽ cải thiện rất nhiều cho tình hình kinh tế Việt Nam, như một luồng gió mới,
chất xúc tác không thể thiếu đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên. Công nghiệp
2002 2003 2004
Phần Lan 1 1 1
Mỹ 2 2 2
Đài Loan 6 5 4
Đan mạch 4 4 5
Singapore 7 6 7
Malaysia 30 29 31
Thái Lan 37 32 34
Inđônêxia 69 72 69
Trung Quốc 38 44 46
Phi-líp- pin 63 66 76
Việt Nam 62 60 77
Thấy rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam là thấp so với khu vực và
thế giới, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của nước ta chậm hơn so với
các nước trên thế giới, điều đó có nghĩa là mức độ đóng góp của khoa học
công nghệ vào tăng trưởng kinh tế còn hạn chế. Với tình hình đó thì việc thay
đổi khoa học công nghệ là một việc làm tất yếu của nước ta thì mới mong có
sự thay đổi trong nền kinh tế. Để thay đổi công nghệ trong sản xuất là một
17
điều không phải dễ đối với tất cả các nền kinh tế đặc biệt khi nước ta là một
nước nông nghiệp đi lên, nhưng khi chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại thì điều đó trở nên dễ dàng hơn. Quan hệ kinh tế đối ngoại càng rộng
rãi và có hiệu quả bao nhiêu thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước càng thuận lợi, nhanh chóng bấy nhiêu. Thực chất của việc mở rộng
quan hệ đối ngoại là việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, là tiếp thu nhiều kỹ
thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi được kinh nghiệm điều hành, quản lý
hiện đại để áp dụng vào tình hình thực tế nước ta, đồng thời cũng dễ dàng cho
việc mở rộng thị trường, giúp cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá được tiến
hành nhanh hơn. Một trong những điều kiện không thể thiếu trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự lãnh đạo đảng và sự quản lý của nhà
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng
một nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước, đa phương hoá và đa dạng hoá
quan hệ đối ngoại; kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh, gắn tăng trưởng
kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi
trường.
- Kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập
khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so
sánh của đất nước trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh
trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế.
- Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương
hướng phát triển, lựa chọn các dự án đầu tư công nghệ.
- Khai thác nhanh thế mạnh của cả nước, của mỗi vùng, mỗi ngành, tập
trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm sớm đưa lại
hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời quan tâm những nhu cầu thiết yếu, có chính
sách, cơ chế giải pháp thiết thực đối với những khó khăn, đẩy mạnh hợp tác
19
phát triển, bảo vệ cho các vùng và các thành phần dân cư đều có lợi ích và
được hưởng thành quả của sự tăng trưởng.
- Chú trọng quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư ít, thu hồi nhanh, theo
phương trâm lấy ngắn nuôi dài; xây dựng một số công trình có quy mô lớn và
hiệu quả.
- Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất và công nghệ
hiện có, tập trung vào những khâu quyết định khả năng cạnh tranh của sản
phẩm. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, bảo đảm tính
tiên tiến của thiết bị và công nghệ nhập khẩu, ưu tiên cho loại công nghệ tốn ít
vốn, tạo nhiều việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân. Đó là một
cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều trí tuệ, sức người sức của. Chỉ có huy động
sức mạnh và khả năng sáng tạo to lớn của toàn dân dưới sự lãnh đạo đúng đắn
22
3. KẾT LUẬN.
Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đã giúp cho
chúng ta thấy rằng: Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo ra tiềm lực
to lớn, đủ khả năng xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của toàn
dân, và thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, bảo vệ
vững chắc nền độc lập của tổ quốc. Đó là quá trình phấn đấu lâu dài, gian
khổ, đòi hỏi mọi người phải có hoài bão lớn, quyết tâm cao, chấp nhận những
khó khăn thử tháchvà hy sinh cần thiết để vĩnh viễn đưa dân tộc ta thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu. Đó là điều mà toàn thể nhân dân Việt Nam mong đợi và
đang cố gắng. Với vị trí là người làm chủ tương lai của đất nước tôi thấy rằng
chúng ta cần cố gắng hết khả năng của mình để xây dựng đất nước ngày càng
giàu đẹp hơn, có thể “sánh vai cúng với cường quốc năm châu” như Bác Hồ
đã từng nói.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
1. GS, PTS Trần Ngọc Hiên: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB
chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
2. GS, TS Chu Văn Cấp: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin về phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, NXB chính trị quóc gia, Hà Nội 2001.
3. Khoa khoa học quản lý: Giáo trình quản lý học kinh tế quốc dân, NXB
khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 2001.
4. Khoa kinh tế quốc tế: Giáo trình kinh tế quốc tế
5. TS Nguyễn Mạnh Hùng: Kinh tế - xã hội việt nam hướng tới chất lượng,
tăng trưởng hội nhập, phát triển bền vững. Năm 2004.
6. Đỗ Hoài Nam và Vừ Đại Lược: Một số vấn đề phỏt triển của kinh tế việt
nam hiện nay, NXB thế giới năm 2005.
7. Niên giám thống kê năm 2004.
8 Khoa kinh tế đầu tư: Giáo trình kinh tế đầu tư, NXB giáo dục, năm 1998.