tiểu luận nội dung và giá trị di chúc của hồ chí minh - Pdf 15



Tiểu luận Nội
dung và giá trị
Di chúc của Hồ
Chí Minh
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 1

I - MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.

Bốn mốt năm trước, ngày 2 tháng 9 năm 1969, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, Bác Hồ kính yêu của dân tộc đã ra đi
vĩnh viễn. Trong thời khắc đau buồn của lịch sử dân tộc, khi mà “người tuôn nước mắt,
trời tuôn mưa” ấy, hàng chục vạn đồng bào tụ họp trên Quảng trường Ba Đình lịch sử,
cùng hàng chục triệu người Việt Nam từ mọi phương trời, miền Bắc và miền Nam, trong
và ngoài nước, khóc lặng, thành kính đón nhận từng dòng, từng chữ trong Di Chúc Người
gửi lại.
"Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể
bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.
Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên,
nhi đồng quốc tế.
Điều mong muốn cuối cùng của tôi là : Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây
dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
Đó là những lời cuối cùng trong bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Di

đoạn văn được viết ra đều là kết quả của sự suy ngẫm, chắt lọc sâu sắc tư tưởng, tình cảm
và trí tuệ của Người, là một chương trình hành động trong đấu tranh giải phóng dân tộc
và xây dựng lại đất nước sau khi nước nhà thống nhất.

3. Ý nghĩa của đề tài

Di chúc thiêng liêng của Người trở thành nguồn động viên, cổ vũ to lớn, là sự chỉ dẫn
quan trọng, để quân và dân Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại trong sự
nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và
vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
Cho đến ngày nay, bản Di chúc vẫn được coi là một văn kiện có giá trị lịch sử quan trọng
mà trong đó, sự kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học và tính thực tiễn trên nền tảng chủ
nghĩa nhân văn cao đẹp đã làm nên giá trị chân chính và bền vững của Di chúc Bác Hồ.
Di chúc kết tinh những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp, những nội dung cơ bản,
những quan điểm cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng phát triển
cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong tương lai.
Những lời căn dặn, những điều mong muốn của Bác luôn hiện diện và là kim chỉ nam
trên mỗi chặng đường phát triển của dân tộc. Bản di chúc đó mãi mãi vẫn là tấm gương
chiếu rọi cho các lớp hậu thế trên mỗi đoạn thác ghềnh của lịch sử.
ta
sâu sắc hơn , những phẩm chất cao quý
của Người. M lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, cùng chung
tay xây , văn minh, ấm no và .

4. Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 3 phần : phần mởi đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội
dung bao gồm gồm 2 chương :
Chương I : Nội dung của Di chúc
Chương II : Giá trị của Di chúc

kiến của đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy
giờ.
Năm 1968 Người viết bổ sung thêm một số đoạn gồm 6 trang viết tay. Ngày 10-5-
1969 Người viết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc gồm một trang viết tay (những năm
1966, 1967 không có bản viết riêng).
Bản Di chúc công bố năm 1969 chủ yếu dựa vào bản Người viết năm 1965 (trong đó
đoạn mở đầu là bản viết năm 1969, đoạn về việc riêng là phần đầu bản viết năm 1968).
Đến năm 1989, Bộ Chính trị cho phép công bố các Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Căn cứ theo tài liệu công bố của Bộ Chính trị (trong tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập –
Tập 12) các Bản thảo Di chúc được sắp xếp theo thứ tự thời gian Người viết, các bản bút
tích được in trước, sau đó các bản đánh máy và bản in được in tiếp sau đó. Cuối cùng là
bản Di chúc công bố chính thức năm 1969.

2. Hoàn cảnh ra đời

Lịch sự đã có sự trùng hợp thiêng liêng và kỳ diệu.
Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên
ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngày 2-9-1969, Bác Hồ ra đi
từ khu vực nhà sàn đơn sơ cũng thuộc Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Hai sự kiện diễn ra vào hai thời điểm khác nhau của đất nước nhưng lại gắn bó chặt
chẽ như một tất yếu lịch sử.
Bác Hồ chuẩn bị cho việc ra đi của mình thật là ung dung và thanh thản, ''để sẵn mấy
lời'' cho đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bè bạn khắp nơi khỏi thấy đột ngột.
Những điều dặn lại đã dẫn dắt toàn dân tộc bước tiếp trên con đường cách mạng đã được
chính Bác Hồ vạch ra từ năm 1930, với bản Chính cương vắn tắt mà cho đến nay vẫn còn
giữ nguyên giá trị, khẳng định tầm nhìn xa, trông rộng của thiên tài Hồ Chí Minh.
Từ năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự cảm nhận được sức khỏe của Người giảm
sút so với những năm trước đó. Người cho rằng, ở tuổi 75 Người thuộc lớp người “xưa
nay hiếm”. Tuy cảm thấy “tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh”, nhưng

* *
Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu
rằng "Nhân sinh thất thập cổ lai hy", nghĩa là "Người thọ 70, xưa nay hiếm".
Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người "xưa nay hiếm" nhưng tinh thần, đầu óc
vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài
70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.
Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân
dân được bao lâu nữa?
Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và
các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn
khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.
Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai
cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 5

đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng
chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn
con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê
bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của
Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn
Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân.
Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong,
không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết
lại.
*
* *
Về việc riêng - Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách
mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối
hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.
Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì
giờ và tiền bạc của nhân dân.
*
* *
Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn
thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.
Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh
niên, nhi đồng quốc tế.
Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu,
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969
Hồ Chí Minh
4. Nội dung cơ bản của Di chúc

Phần đầu: Về sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định giải phóng miền
Nam và qua đó, giải phóng hoàn toàn và thống nhất đất nước như một tất yếu, dù phải
kéo dài, đặc biệt ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Người đã nói: "Thắng
giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay". Sự thật đã diễn ra như Người đoán. Bác
mất năm 1969, sáu năm sau, dân tộc Việt Nam giành đại thắng tháng 4/1975.
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 7


Chương II : GIÁ TRỊ CỦA DI CHÚC

1. Tổng kết những giá trị bao trùm trong Di chúc của Người

Di chúc của Bác cũng như tất cả các tác phẩm, lời nói, bài viết của Bác bao giờ cũng
giản dị dễ hiểu đối với nhân dân, trước hết đối với công - nông là bộ phận lớn nhất trong
nhân dân. Song nó luôn luôn hàm chứa những tư tưởng lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trích nguyên văn trong “ Đề cương tuyên truyền 40 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch
Hồ Chí Minh (2/9/1969 – 2/9/2009) ” :
a. Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

Di chúc thể hiện sự tự nhận thức sâu sắc về bản thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người đón nhận quy luật cuộc sống bằng phong thái ung dung, tự tại, chuẩn bị việc ra đi
của mình bằng những lời tâm huyết dặn lại. Tâm nguyện của Người: “Suốt đời tôi hết
lòng phụng vụ Tổ quốc, phụng vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 8

giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phụng vụ lâu
hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với
nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng
còn dang dở. Di chúc là tâm sự của một người đã hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng
trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân; là tấm lòng chung thuỷ với “các nước anh em”
và “bầu bạn khắp năm châu”.

b. Di chúc là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền.

- Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là một Đảng cầm

chăm lo chu đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể
của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

- Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về
sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về đào tạo nguồn nhân
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 9

lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; phát triển kinh tế và văn hoá, nâng cao đời
sống nhân dân.

- Di chúc có giá trị văn hoá rất lớn. Đó là tinh thần nhân văn sâu sắc thể hiện trong
ứng xử với nhân dân, đồng chí, bè bạn. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm,
không lãng phí.

2. Tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích các giá trị nội dung cơ bản của Di chúc

Tư tưởng đoàn kết

Theo số liệu thống kê, trong 1.921 bài viết của Bác có tới 839 bài Bác đề cập đến vấn
đề đoàn kết thống nhất và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”. Trong
bản Di chúc, chỉ có chưa đầy 20 dòng nói về Đảng nhưng đã có đến 5 lần Chủ tịch Hồ
Chí Minh nhắc đến đoàn kết.
Suốt cuộc đời mình, mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là vấn đề đoàn kết
nhằm tập hợp lực lượng, phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc
tế, vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng trên được thể hiện
rõ nét qua Di chúc của Người. Ba mươi năm đã qua, kể từ khi Hồ Chí Minh viết những
dòng cuối cùng của bản Di chúc lịch sử. Đây là thời gian thích hợp nhất để toàn Đảng,
toàn dân và mỗi người chúng ta suy ngẫm về tư tưởng đoàn kết trong di sản cuối cùng mà

dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết chặt chẽ mà mới tròn một tuổi, Đảng
đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên cao trào cách mạng 1930-1931; 15 tuổi, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhờ đoàn kết, thống nhất mà Đảng đã tập hợp được
lực lượng, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc và thời đại vào cuộc kháng chiến
trường kỳ suốt 30 năm, đánh thắng hai đế quốc là Pháp và Mỹ, hoàn thành thắng lợi sự
nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Cũng chính nhờ sự đoàn
kết, thống nhất ấy mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi sự nghiệp Đổi
mới.
Đã 41 năm Bác Hồ không cùng cả nước vui ngày Quốc khánh. Nhớ Người, chúng ta
càng thấm thía: Hạnh phúc của Đảng ta là có người Chủ tịch Đảng nghiêm khắc với bản
thân, mà hết sức bao dung, nhân ái vì sự đoàn kết trong Đảng vì thắng lợi cuối cùng của
cách mạng.

b. Về đoàn hết toàn dân

Theo Hồ Chí Minh ''…chỉ đoàn kết trong Đảng cách mạng cũng không thành công
được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thấy một
trong những truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam là đoàn kết. Trên cơ sở
khối đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng mà Hồ Chí Minh tin tưởng chắc chắn
rằng mọi ý đồ xâm lược, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc sẽ bị đánh bại: ''Tổ quốc ta nhất
định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà''. Khi đất nước
bước vào thời kỳ xây dựng, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: dựa vào lực lượng vĩ đại
của khối đoàn kết dân tộc, chúng ta sẽ giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ,
cuộc chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn đất nước
Việt Nam.

Sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam không chỉ là phép tính giản đơn của sự đoàn
kết trong Đảng cộng với khối đoàn kết của những người ngoài Đảng, mà chính là sức


Sự nghiệp xây dựng đất nước cần có khối đoàn kết đông đảo rộng rãi, mạnh mẽ và
chắc chắn. Khối đoàn kết đó không chỉ gồm toàn bộ những người từ phía ''bên này'' mà
có cả người của phía “bên kia”. Người cho rằng sự nghiệp xây dựng đất nước cần đến lực
lượng của tất cả mọi người ''không để sót một người nào''. Hồ Chí Minh viết trong Di
chúc: ''Đối với những nạn nhân của chế độ cũ, thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa
phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện''.
Đây không chỉ là quan điểm tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi mà còn thể hiện sâu sắc tư
tưởng bao dung, nhân ái Hồ Chí Minh.

c. Về đoàn kết quốc tế

Theo Hồ Chí Minh, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều do Đảng Cộng sản
lãnh đạo với sự đoàn kết, thống nhất về đường lối đúng đắn, sáng tạo; toàn dân đoàn kết
trong Mặt trận dân tộc thống nhất; nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ, giúp đỡ cách mạng
Việt Nam. Người kết luận: ''Đó là ba bài học lớn mà mỗi cán bộ và đảng viên ta cần ghi
sâu vào lòng và phát huy thêm mãi''.
Đoàn kết quốc tế là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được Người đề
cập khá đậm nét trong Di chúc.
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của nhân dân Việt Nam không thể tách rời sự đoàn kết, sự ủng hộ, giúp đỡ tận tình
của các nước xã hội chủ nghĩa và bầu bạn khắp năm châu. Vì vậy, một trong những dự
kiến đầu tiên, ngay sau khi chiến tranh kết thúc của Hồ Chí Minh là thay mặt nhân dân ta,
Người sẽ đi thăm, cảm ơn và mở rộng hơn nữa khối đoàn kết quốc tế đối với Việt Nam.
Trước khi qua đời, điều Hồ Chí Minh băn khoăn, day dứt nhất là sự bất hoà trong
phong trào cộng sản quốc tế. Thực tế cho thấy, với uy tín nhiệt tình cách mạng và chủ
nghĩa quốc tế trong sáng, ngay từ những năm 1920, Hồ Chí Minh đã có những đóng góp
quan trọng vào sự đoàn kết, thống nhất giữa các lực lượng cách mạng trên thế giới. Khi đi
vào cõi vĩnh hằng, chắc Hồ Chí Minh cũng thấy yên lòng, bởi vì, tuân theo Di chúc của
Người. ''trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình'',

triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong những điều kiện cụ thể của cách mạng Việt
Nam.
Thực hiện Di chúc của Người, Đảng ta luôn khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là nền
tảng tư tưởng chính trị của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ một Đảng Cộng sản cầm quyền, sau Lênin, đã nhấn
mạnh việc Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền cùng những lo lắng, răn đe. Không
phải chỉ trong Di chúc, mà hầu hết những tác phẩm của Hồ Chí Minh từ năm 1945, khi
Đảng Cộng sản bắt đầu cầm quyền sau Cách mạng tháng Tám, ngay sự cầm quyền ấy
chưa hoàn toàn trong phạm vi cả nước, vừa xây dựng chính quyền vừa kháng chiến,
Người đã luôn luôn nhắc đến việc chính quyền do Đảng Cộng sản phải là chính quyền vì
dân, do dân, gắn bó với dân, trung thành với dân, người đầy tớ trung thành của dân. Bức
thư đầu tiên Người gửi các đồng chí Bắc Bộ năm 1947, khi kháng chiến chống Pháp mới
bắt đầu vài tháng và khi mà các quốc gia xã hội chủ nghĩa chưa ai cảnh giác con đường
hiểm nguy của Đảng Cộng sản cầm quyền mà thoát ly nguyên lý cộng sản cơ bản - tức
phục vụ dân, lấy dân làm gốc - thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo động với ý thức và lời lẽ
vừa thiết tha vừa nghiêm khắc, lấy sự việc ngay trong đời sống hằng ngày. Cho nên, bài
học lớn nhất mà chúng ta rút ra từ Di chúc của Người chính là phần cốt lõi này.
Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, đoàn kết, gắn bó với nhân dân, đại diện
cho quyền lợi của giai cấp và của dân tộc, được nhân dân tin yêu, đùm bọc, ủng hộ, giúp
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 13

đỡ. Muốn có được sự đoàn kết nhất trí đó, như Bác đã nói là ngay trong Đảng cần phải
thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Là
một người theo chủ nghĩa cộng sản, là người phương Đông đồng thời cũng là người con
của đất Việt, lịch sử hàng ngàn năm đã đặt cho trí tuệ của Người sự suy nghĩ có chiều
sâu, bao quát bởi bao nhiêu triều đại ngả nghiêng khi không hiểu lời của Nguyễn Trãi:
Dân nâng thuyền và dân có thể lật thuyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần lời dạy của
người xưa: Tu thân, tề gia, trị quốc. Đảng Cộng sản cầm quyền mà không coi trọng tu
thân thì khó tề gia, càng khó trị quốc. Đảng lãnh đạo gồm năng lực tiên phong và đạo đức

phải làm mực thước cho người ta bắt chước”, “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm
khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng trong sạch thì mới
bảo người ta trong sạch, siêng năng được” Bác Hồ có nhắc nhở rằng trong học tập, lao
động, công tác cũng như trong cuộc sống đời thường của từng người ở xã hội ta vào thời
kỳ cách mạng nào cũng thế, nếu sự bất liêm, bất chính, lãng phí, tham ô, lười biếng, vô
trách nhiệm, thu vén cá nhân, ích kỷ vì lợi ta hại người… còn lẩn khuất đâu đó bằng sự
dối trá với chính mình, với tập thể và cộng đồng thì đó là “kẻ thù nội xâm” nguy hiểm
khôn lường.
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 14

Như Bác đã dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến,
kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình
phải làm gương. Làm gương về cả ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là
khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được ta phải:
quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy
lên, tất cả các đồng chí phải thành công”.
Mục đích xây dựng một xã hội đạo đức, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bộ là lý
tưởng sống của Hồ Chí Minh. Người lo sợ về một xã hội vô đạo đức, lo sợ cho một đội
ngũ cán bộ vô đạo đức, thoái hóa, biến chất, vì vộ đạo đức sẽ đẻ ra biết bao tai họa mà
chính Người đã được chứng kiến nhiều nơi trên thế giới. Vì vậy, vấn đề đạo đức xã hội,
đạo đức con người là một vấn đề mà Người suốt đời quan tâm.

Xây dựng chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

“Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong,
không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng
cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”,
vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.”

này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ ra khả năng cách mạng to lớn của tuổi trẻ
trong cách mạng mà Người còn chỉ ra tiềm năng to lớn của tuổi trẻ trong công cuộc kiến
thiết xây dựng nước nhà. Trong Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên
của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945, Người gửi gắm niềm tin tưởng của
mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt
Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay
không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Năm 1947, Ngư khẳng
định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay
suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên”.
Hồ Chí Minh xem xét thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò của thanh
niên: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là
người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”, vì vậy, Người yêu cầu, đòi hỏi thanh
niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, xung phong gương mẫu trong công
việc. Gắn yêu cầu đặt ra đối với thanh niên, hiểu rõ vị trí, vai trò to lớn của thanh niên,
Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục cho thanh niên và chỉ ra tầm quan trọng của
việc giáo dục, bồi dưỡng, phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong mọi thời kỳ cách mạng.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cho Đảng đối với công tác giáo dục
thanh niên và xem đây là trách nhiệm của Đảng, các cơ quan giáo dục, đến các đoàn thể
quần chúng: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành
những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Theo Người, cách mạng là sự nghiệp lâu dài khó khăn và là trách nhiệm của nhiều thế
hệ. Vì vậy, việc bàn giao thế hệ không chỉ là trao lại những gì đã có mà điều quan trọng
và khó khăn hơn nhiều là chuẩn bị và trang bị cho thế hệ sau những điều cần thiết, định
hướng cho thanh niên những công việc phải làm để họ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục
tiêu của cách mạng. Chính vì vậy, vấn đề quan tâm, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ chính là
thực hiện theo quy luật khách quan nhằm đưa sự nghiệp cách mạng của đất nước không
ngừng phát triển.
Vấn đề quan tâm hàng đầu của bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là chăm lo

lắng hơn số phận của công cuộc kháng chiến cứu nước lúc bấy giờ khi không còn Bác
trực tiếp dẫn dắt. Chính vì vậy không phải bắt đầu bằng cách nói triết lý về cái sống cái
chết, bằng việc riêng hay bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, đành rằng những vấn đề đó đều
là đặc sắc của bản Di chúc, mà Bác Hồ đã mở đầu Di chúc bằng cách căn dặn: ''Cuộc
chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa,
song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó 1à một điều chắc chắn''.
Nói ngay về công cuộc chống Mỹ cứu nước là nói trúng vào tâm lý người Việt Nam
yêu nước bấy giờ. Đấy là một mẫu mực về nghệ thuật tuyên truyền, nghệ thuật công tác
tư tưởng, nghệ thuật của người lãnh đạo, quản lý. Làm đúng những quy luật của tâm lý
học không chỉ cần đối với nghề dạy học, mà thật vô cùng cần thiết đối với người cán bộ
tuyên huấn, cán bộ dân vận và mọi cán bộ lãnh đạo.
Sự nghiệp kháng chiến cứu nước của chúng ta không phải nhờ vào may rủi, mà thắng
lợi của nó là kết quả của sự vận động của quy luật khách quan, là sự kết hợp hài hòa của
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Đó là thắng lợi của sự nghiệp chính nghĩa, phù
hợp với sự tiến bộ của xã hội, được nhân dân thế giới nhiệt liệt đồng tình và ủng hộ, kết
hợp được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, là thắng lợi của sức mạnh thần kỳ của
chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng vô cùng sáng suốt. Hơn nữa, lời căn dặn
của Bác về thắng lợi cuối cùng thuộc về nhân dân ta còn xuất phát từ thực tiễn sống động
mà nhân dân ta đã chiến đấu anh hùng dưới ngọn cờ của Đảng, của Bác, nhất là từ năm
1965, ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, địch càng đánh càng suy yếu, càng
đánh càng thua. Càng thể hiện tư tưởng lý luận và thực tiễn, khi trong lời căn dặn của Bác
hàm chứa rất sâu sắc phép biện chứng duy vật, thế giới quan cách mạng. Nhân dân ta còn
phải kinh qua gia khổ, hy sinh nhiền hơn nữa, song nhất định thắng, chúng ta nhất định
thắng song còn phải hy sinh, gian khổ nhiều hơn nữa.
Thực tiễn đã diễn ra đúng như lời Bác dạy. Năm 1972, đế quốc Mỹ đã leo thang chiến
tranh đến đỉnh điểm, nhân dân ta đã trải qua gian khổ, hy sinh vô cùng to lớn và chiến
đấu quả cảm vô song. Năm 1973 mở ra cuộc đấu tranh trên cả ba mặt: chính trị, quân sự,
ngoại giao. Binh lính Mỹ đã phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Rồi chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử đã đưa đến Đại thắng mùa xuân năm 1975.


Người còn là “những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc,
buôn lậu, v.v., thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo
họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện".
Đối với các liệt sĩ, Người căn dặn phải làm những việc cần thiết nhất để “ghi sự hy
sinh anh dũng của các liệt sĩ”, đồng thời “để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho
nhân dân ta”. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động
và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp
tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị
đói, bị rét.
Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình trong sự
nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, Người căn dặn: chúng ta phải tìm mọi
cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, phải mở những lớp dạy nghề thích hợp cho họ,
để họ có được hành trang cần thiết bước vào cuộc sống tự lập, tự lực cánh sinh.
Đối với những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên
xung phong đã được rèn luyện trong chiến đấu Người yêu cầu "Đảng và Chính phủ cần
chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo
thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng
vững chắc", làm cho họ trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
Để xây dựng một nước Việt nam xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh và văn minh trong suốt
quá trình lãnh đạo cách mạng, Người thường nhắc nhở chúng ta: “Muốn xây dựng chủ
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 18

nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Do đó Đảng và Chính
phủ phải luôn chăm lo công tác giáo dục, đào tạo, rèn luyện cho lớp người trẻ tuổi để kế
tục sự nghiệp cách mạng, trước lúc đi xa, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Người chỉ rõ cần phải sửa đổi chế
độ giáo dục cho phù hợp với hoàn cảnh mới, đặc biệt là chăm lo giáo dục đạo đức cách
mạng, giáo dục tinh thần yêu nước cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ trở thành


Đây thực sự là nét độc đáo trong tư tưởng nhân văn của Người. Tháng 5/1968, khi
soạn thảo Di chúc, Người viết: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại
Đảng”. Quan tâm đến Đảng đầu tiên, hướng đến việc hoàn thiện công việc lãnh đạo của
Đảng, Người đặc biệt nêu lên ý nghĩa nhân văn trong việc Đảng vừa là người lãnh đạo,
vừa là người đầy tớ trung thành với nhân dân.
Xã hội mới theo hướng lấy con người làm trung tâm ở nước ta trong tư tưởng nhân
văn Hồ Chí Minh phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Lý tưởng của Đảng Cộng sản là
chống áp bức, bóc lột, mang những giá trị chân chính của con người trả lại cho con
người. Bản chất của xã hội lấy con người làm trung tâm hoà quyện và thống nhất với mục
Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 19

đích lý tưởng của Đảng. Với lý tưởng tiền tiến và đạo đức cao đẹp, nhân cách người cộng
sản phải trở thành biểu tượng trung tâm của xã hội mới. Đó là những con người biết đặt
lợi ích của Đảng của nhân dân lên trên hết và trước hết.
Trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, xã hội lấy con người làm trung tâm đòi hỏi
trước hết: “Mỗi đảng viên là cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”. Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng là những người có
văn hoá; phải xung phong gương mẫu làm trước thiên hạ và phải hưởng bổng lộc sau
thiên hạ; cái gì lợi cho Đảng, cho dân thì khó mấy cũng làm, cái gì hại đến Đảng, đến dân
thì kiên quyết chống lại.
Là người đầy tớ trung thành của nhân dân trong một xã hội nhân đạo thì những người
lãnh đạo phải thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động của mình. Trước đây, Chủ tịch Hồ
Chí Minh nói rằng: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ
trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho nhân dân,
chứ không phải làm quan cách mạng”.

3. Thực hiện di chúc của Người : Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương
Bác Hồ vĩ đại


Khi vĩnh biệt Người, chúng ta đã nguyện “Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân
tộc, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
thống nhất đất nước, để thoả lòng mong ước ngủa Người”. Và lời thề ấy của chúng ta
được thực hiện trọn vẹn vào ngày 30-4-1975. “Toàn dân ta đoàn kế nhất trí, bền bỉ đấu
tranh thì chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định
sẽ sum họp một nhà”.
Cả nước đồng lòng đã thề với Người: “Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện
lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai
cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng
bào”(4). Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, cả dân tộc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội,
để “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, đó là “ham muốn tột
bậc” của Bác Hồ và cũng là lòng trung thành của các thế hệ người Việt Nam đối với Bác,
đối với con đường Người đã chọn. Trong thời điểm cam go của lịch sử những năm đầu
của thập kỷ chín mươi, của thế kỷ XX, khi CNXH thế giới lâm vào thoái trào, trước thế
nước có những thử thách hiểm nghèo, nhưng Đảng ta đã làm tốt sứ mệnh đảm nhận trọng
trách với lịch sử, lãnh đạo nhân dân bước vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước tiếp tục đi
lên. Những thành tựu của công cuộc đổi mới được thế giới đánh giá “Đó chính là sự mở
ra cho thế kỷ mới. Vì chính sách đổi mới thật sự vì dân giàu nước mạnh”; “Là tiền đề để
Việt Nam phát triển mạnh trong thế kỷ XXI”.
“Vĩnh biệt Người chúng ta thề:
Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người; bồi dưỡng phẩm chất cách mạng,
không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành
với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chí Minh”
Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII, lần II, 2-1999) đã ra Nghị quyết “Về một số vấn đề
cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng”, nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để
Đảng đủ phẩm chất, năng lực đối với vận mệnh của Đảng phải tiếp tục tự chỉnh đốn, nâng
cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của mình, khắc phục cho được các khuyết điểm,
các biểu hiện tiêu cực và yếu kém. Với Nghị quyết này, Đảng ta thực hiện lời căn dặn của
Bác trong Di chúc “Việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng”(6). Đây là vấn đề sống

đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới
Trước khi vĩnh biệt, Bác Hồ gửi lại điều ước mong “Điều mong muốn cuối cùng của
tôi là, toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách
mạng thế giới”. Đảng của Người, nhân dân của Người, đất nước của Người báo cáo với
Bác rằng đã, đang và sẽ đưa điều mong muốn đó của Người thành hiện thực.

3.2. Liên hệ bản thân : Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chúng ta, những thanh niên sinh viên Việt Nam cần cố gắng nhiều hơn nữa, nỗ lực
hơn nữa để xứng đáng với niềm tin yêu của Bác. Và học tập, làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh cũng là cách giúp chúng ta hoàn thiện bản thân mình. Có nhiều cách để học
tập, làm theo tấm gương của Bác, nhưng nên chăng trước hết chúng ta thực hiện chính
những lời dạy của Bác về thanh niên, rèn luyện những phẩm chất đạo đức mà Bác đòi hỏi
ở thế hệ tương lai của nước nhà.
Một là, phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng”; không sợ gian khổ, hi sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến
đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp cách mạng.
Hai là, tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân; tăng cường
đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau; nâng cao ý thức tổ chức và kỉ luật; kiên quyết chống chủ
nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.
Ba là, luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị; chống kiêu căng,
tự mãn; chống lãng phí, xa hoa; thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp
nhau cùng tiến bộ mãi.
Bốn là, ra sức nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kĩ thuật và quân sự để
cống hiến ngày càng nhiều hơn cho Tổ quốc, cho nhân dân.
Năm là, luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về
mọi mặt cho đàn em noi theo.
Nếu thực hiện được những lời căn dặn trên đây của Bác, là chúng ta đang giáo dục bản

hiền nhân đối với con người, với thiên nhiên, với quê hương đất nước, phản ánh tư tưởng,
tình cảm, đạo đức và tâm hồn một người con ưu tú của dân tộc Việt; hiện thân tinh thần,
tài năng và tâm hồn của người dân Việt; hiện thân của tinh thần yêu tự do tha thiết, bình
dị mà vĩ đại, dân tộc mà thời đại. Đó là di sản bất hủ, đậm đà bản sắc dân tộc và thời đại,
“là sự thức tỉnh của nhân tâm, của trí tuệ, của dũng khí” Hồ Chí Minh gửi lại cho các thế
hệ mai sau. Cuộc đời Người, với những gì Người đã đi, đã đến và chiến thắng; với tất cả
những gì Người đã làm, đã nêu gương và để lại, có lý và có tình, sẽ sống mãi qua các thời
đại.
Dù Người đã đi xa, song trên các trang của lịch sử, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và
tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn sẽ vinh quang chói lọi như sao Bắc đẩu. Mưu
cầu hạnh phúc cho hết thảy mọi con người, hướng dẫn loài người đi đến một tương lai tốt
đẹp hơn, Người và bản Di chúc gửi lại “tiếp tục là nguồn cảm hứng” cho hậu thế, “để
không yếu đuối trong đấu tranh giành lấy tương lai, để không dừng lại ở điều đạt được
mà luôn luôn tiến lên phía trước”.
Có thể nói, Di chúc của Bác Hồ là lời hịch vang dậy núi sông, là Cương lĩnh hành
động trước mắt và lâu dài của Đảng và nhân dân ta. Nó hàm chứa những lý luận cách
mạng rất sâu sắc mà trên đây mới chỉ nói đến một cách cơ bản. Chúng ta còn phải thường
xuyên, liên tục nghiên cứu, thấm sâu hơn nữa, biến thành hành động thực tế, thực hiện
nghiêm chỉnh Di chúc của Người. Chúng ta thấm sâu hơn nữa, thực hiện đầy đủ hơn nữa,
tốt hơn nữa lời thề vĩnh biệt Bác, đặc biệt phấn đấu theo mong muốn cuối cùng của Bác:
''Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới''. Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh ĐHBKHN
[email protected] Page 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status