THUỐC CHỐNG LÃO
HÓA DA
Theo quy luật tự nhiên, đời sống của một người sẽ trải qua các giai
đoạn sinh, lão, bệnh, tử. Cùng với các cơ quan nội tạng, da cũng sẽ lão
hóa theo tuổi tác.
Da là cơ quan bao bọc cơ thể, giúp cơ thể chống chọi lại các tác nhân bên
ngoài như ánh sáng mặt trời, nhiệt độ nóng, lạnh v.v Theo thời gian, da sẽ
bị nhiều nếp nhăn, khô, teo mỏng, rối loạn sắc tố Lão hóa da gồm có 2
hiện tượng chính, đó là lão hóa da nội tại và lão hóa da do môi trường.
Với mong muốn có một làn da tươi đẹp, con người đã luôn cố gắng tìm kiếm
và cho ra đời những loại thuốc chống lão hóa da.
1. Lão hóa da nội tại
Ðây là một sự thay đổi toàn thể, không thể tránh khỏi bởi thời gian. Quá
trình này được điều khiển bởi các gen chống lão hóa. Các gen này có nhiệm
vụ tạo nên sự quân bình giữa quá trình thoái biến với quá trình sửa chữa và
tồn tại. Khi không còn sự quân bình này thì quá trình lão hóa sẽ bắt đầu.
2. Lão hóa do môi trường (ánh sáng mặt trời, rượu, thuốc lá, khói )
Quá trình trên làm cho da người cao tuổi trở nên khô và mỏng, nhất là ở chi
dưới; Số lượng các tế bào melanin giảm 10-20% mỗi 10 năm làm da giảm
tính bảo vệ cơ thể chống tia tử ngoại, từ đó gây ra những bất thường về màu
sắc như xuất hiện tàn nhang, nốt ruồi, da lan trắng đen Ðể ngăn ngừa tình
trạng lão hóa da sớm, điều quan trọng đầu tiên là phải giảm thiểu sự phơi da
lâu dưới ánh nắng mặt trời. Ði nắng, lao động ngoài trời phải đội mũ, mặc áo
bảo hộ, đeo kính râm. Ðặc biệt cần chú ý bảo vệ da thật nghiêm túc ngay từ
khi còn trẻ (thậm chí từ lúc còn là trẻ con). Không để da bị tàn phá bởi các
hóa chất độc hại, không hút thuốc, uống nhiều rượu.
Các thuốc dùng điều trị lão hóa da
1. Ðiều trị tại chỗ:
a. Retinoide: Gồm acid retinoique tout trans (Tretinoine), thoa lâu dài có thể
làm giảm phần lớn các dấu hiệu của lão hóa da do ánh nắng. Thời gian điều
trị kéo dài ít nhất là 10 tháng; Có thể kết hợp kèm với kem chống nắng và
a. Vitamin C (acid ascorbique)
Vitamin C ngăn chặn quá trình sản xuất các gốc tự do, bảo vệ acid béo
không no của màng tế bào, đồng thời giúp tái sử dụng vitamin E (chất chống
oxy hóa chính của màng tế bào). Liều dùng 500-700mg/ngày. Nếu dùng quá
liều sẽ gây tiêu chảy, còn dùng liều cao thì khó hấp thu hết. Ðể tăng số
lượng hấp thu, cần chia nhỏ liều và dùng nhiều lần vào cuối bữa ăn. Trong
một dạ dày rỗng, vitamin C hấp thu rất nhanh và được thải ra theo phân.
Vitamin C không gây tăng bài tiết Oxalate cho người lành, chỉ cần thận
trọng với người có sỏi thận (sỏi oxalate calci). Có thể dùng Magne để ngăn
chặn quá trình tạo thành các tinh thể calci. Khi uống vitamin C kết hợp với
sắt hay đồng, vitamin C có thể trở thành chất tiền oxy hóa thay vì là chất
chống oxy hóa, do đó chúng ta nên tránh dùng các phức hợp muối khoáng và
vitamin. Cũng vì lý do này nên những người bị thừa sắt nếu uống nhiều
vitamin C thì có thể sẽ làm nó trở thành độc tố.
b. Vitamin A hay retinol
Vitamin A tồn tại dưới 2 dạng:
Retinol và beta - carotene.
Các tiền vitamin A để chỉ một số carotenoide mà đứng đầu là beta-carotene.
Sau khi biến đổi trong cơ thể, chúng có hoạt tính sinh học giống vitamin A,
nhưng quan trọng nhất là beta-carotene có những đặc tính chống oxy hóa mà
vitamin A không có. Beta-carotene có khả năng trung hòa các gốc tự do, vì
vậy tốt nhất nên bổ sung beta-carotene thay vì vitamin A.
Beta-carotene hoàn toàn không độc, nếu dùng quá liều chỉ gây vàng da.
c. Vitamin E có vai trò chống oxy hóa bằng cách ngăn ngừa hay làm gián
đoạn những phản ứng tạo ra các gốc tự do.
Ở người trưởng thành, tình trạng thiếu vitamin E có thể kéo dài âm ỉ hàng
chục năm. Do đó, vitamin E không đủ lượng cần thiết để bảo vệ cơ thể nên
người bệnh có thể bị đột ngột xuất hiện bệnh tim mạch hoặc một số bệnh
ung thư.
d. Selenium: Có tác dụng chống lại tình trạng oxy hóa của acid béo để thiết