TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
69
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
SẢN XUẤT NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VÙNG TÂY NGUYÊN
THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT DIRECTION FOR THE EXPORTING
AGRICULTURAL PRODUCTS IN WESTERN HIGHLANDS
Nguyễn Hồng Cử
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Tây Nguyên là vùng chuyên canh sản xuất và xuất khẩu cây công nghiệp lớn của nước
ta với các sản phẩm điển hình là cà phê, cao su, hồ tiêu…Lĩnh vực sản xuất nông sản xuất
khẩu (SXNSXK) có vai trò to lớn, quyết định sự phát triển của vùng. Mặc dù tiềm năng to lớn
nhưng sự phát triển của SXNSXK hiện nay lại hết sức bấp bênh và thiếu bền vững. Bài viết
phân tích thực trạng và nguyên nhân củ
a tình trạng phát triển thiếu bền vững từ đó đề xuất
phương hướng phát triển theo hướng bền vững của sản xuất nông sản xuất khẩu vùng Tây
Nguyên.
ABSTRACT
The Central Highlands is known as a major industrial crop growing and exporting area
in our country with such typical products as coffee, rubber, pepper… Producing agricultural
products for export plays a decisive role in the develoment of this area. In spite of its great
potential, the Central Highlands’ situation of producing agricultural products for export still
remains unstable and unsustainable. This article aims to analyze the reality and the causes of
this lack of sustainability. The results of the analysis serves as a basis for putting forward
suitable directions for the sustainable development of the production of agricultural produce for
export in the Central Highlands.
1. Đặt vấn đề
là cà phê chiếm 90,55%, hồ tiêu 33,95%. Loại ít nhất (chè) cũng chiếm xấp xỉ ¼ diện
tích canh tác của cả nước. Như vậy, Tây Nguyên hiện là vùng chuyên canh lớn nhất
các loại cây công nghiệp xuất khẩu của cả nước. SXNSXK trở thành hoạt động kinh
tế trọng tâm của vùng, có vai trò quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của vùng
nói chung.
Bảng 1. Diện tích, sản lượng cây CN lâu năm của Tây Nguyên và cả nước.
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Cả nước
Tây
Nguyên Tỷ lệ (%) Cả nước
Tây
Nguyên
Tỷ lệ
(%)
Chè
129300 25391 19.63 760500 184393 24.24
Cà phê
530900 480774 90.55 1055800 990924 93.85
Cao su
631500 147025 23.28 659600 259960 39.41
Hồ tiêu
50000 16975 33.95 98300 41844 42.56
Điều
402700 86541 21.49 308500 48083 15.58
Tổng số
1744400 756706 43.30 2882700 1525204 52.90
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam và các tỉnh Tây Nguyên 2008
Xét về cơ cấu thì diện tích canh tác cà phê, cao su, hạt điều chiếm tỷ trọng cao
thị trường, mở cửa kinh tế và hiệu quả thiết thực về kinh tế của nông sản xuất khẩu so với
các loại cây trồng khác đã thúc đẩy mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng nhanh chóng.
Bảng 3. Sản lượng 5 loại nông sản của Tây Nguyên từ 1996-2008
ĐVT: tấn
Năm Chè Cà phê Cao su Hồ tiêu Điều
1996 77280 266229 29082 1413 4194
1998 81731 402891 43681 2795 7869
2000 128628 635038 61542 6490 5426
2002 138504 628638 77168 13019 10457
2004 155776 805237 147518 21681 19271
2006 175574 928111 219507 31537 31464
2008 184393 990924 259960 41844 48083
Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên từ 1996-2008
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
72
Trong gần 15 năm qua, sản lượng NSXK tăng khá nhanh, trong đó: chè tăng
2,38 lần; cà phê tăng 3,72 lần; cao su 8,93 lần; hồ tiêu 29,61 lần; điều 11,46 lần.
Từ 2001 đến 2008, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng nhanh song
không đều đặn. Giai đoạn từ 2001 đến 2004 là thời kỳ tăng đột biến của tất cả các loại
NSXK, trong đó sản lượng chè tăng 1,67 lần; cà phê giảm chút ít; cao su tăng 0,9 lần;
hồ tiêu tăng 6,4 lần; hạt điều tăng 38,7 lần. Trong hai năm 2005 và 2006, giá cả giảm
đồng loạt nên sản lượng xuất khẩu giảm, nhất là chè, cà phê. Từ 2006, sản lượng xuất
khẩu của hầu hết mặt hàng có xu hướng ổn định dần nhưng sự bùng nổ diện tích canh
tác cuối năm 2008 lại báo hiệu một thời kỳ tăng đột biến mới vào các năm kế tiếp.
Đi liền với tăng trưởng về sản lượng nông sản xuất khẩu là sự tăng trưởng về
kim ngạch NSXK. Giai đoạn từ 2001 đến 2004 kim ngạch XKNS tăng 1,9 lần; từ 2004
đến 2008 tăng 2,8 lần. Bình quân mỗi năm tăng 50%. Từ năm 2007, chỉ riêng Tây
Nguyên, kim ngạch xuất khẩu 5 loại nông sản chính đã mang về vượt ngưỡng 1 tỷ USD.
Đó là một thành tựu không thể phủ nhận.
73
Một là, sự phát triển của SXNSXK còn mang nặng tính tự phát, làm cho quy
hoạch sản xuất bị phá vỡ và tình trạng cây trồng lấn rừng là không thể tránh khỏi. Sự
tăng trưởng ồ ạt này giống như một sự bùng nổ và đang tạo sức ép lớn lên tài nguyên,
đất đai, nguồn nước, gây ra sự quá tải so với cơ sở hạ tầng vốn thấp kém, đồng thời tạo
ra sự chênh lệch giữa sự tăng trưởng của sản xuất với sự phát triển của hệ thống chế
biến và dịch vụ.
Hai là, mô hình SXNSXK tiêu biểu ở Tây Nguyên là hộ kinh doanh cá thể,
chiếm 85 - 95% giá trị sản xuất, dưới hình thức phổ biến là kinh tế hộ và trang trại, hầu
hết đều có quy mô nhỏ, diện tích canh tác bình quân chỉ khoảng 0,5-1,5 ha. Tập quán
sản xuất lạc hậu, mang nặng tính tự nhiên. Nguồn vốn đầu tư của các trang trại, hộ cá
thể chủ yếu là vốn tự có, nguồn vốn tín dụng chỉ chiếm khoảng 20-25%, trong đó trên
70% là tín dụng ngắn hạn, khả năng tích lũy, đầu tư thâm canh rất hạn chế.
Ba là, trình độ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong SXNSXK còn rất hạn
chế, phương pháp canh tác chủ yếu dựa trên kỹ thuật thủ công. Tỷ lệ cơ giới hóa rất
thấp. Trong SXNSXK bước đầu đã áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ,
nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất. Nhiều giống mới được đưa vào canh tác song
nhiều diện tích hiện nay vẫn tồn tại các giống cũ, năng suất và chất lượng thấp. Nhiều
giống cây trồng đã già cỗi, thoái hóa, cho năng suất thấp. Điển hình là ở Lâm Đồng,
diện tích giống chè cũ, chè kém chất lượng vẫn còn chiếm một tỉ lệ khá lớn - gần 70%
trong tổng diện tích. Kỹ thuật thu hoạch và sơ chế và bảo quản nông sản cũng còn nhiều
hạn chế. Tập quán thu hoạch một lượt cả sản phẩm xanh, kỹ thuật sơ chế và chế biến lạc
hậu; hệ thống sân phơi, kho chứa không đảm bảo làm cho chất lượng sản phẩm suy
giảm và không đồng đều. Tổn thất này ở Đăk Lăk khoảng 680 tỷ đồng mỗi năm, xấp xỉ
bằng với ngân sách trung ương cấp cho địa phương. Chỉ tính riêng cà phê, tổn thất toàn
vùng ước tính mỗi năm gần 4000 tỷ đồng, đó là chưa kể nếu đảm bảo được chất lượng
cà phê tốt hơn để có thể tăng thêm 10% giá bán thì với gần 500000 tấn cà phê xuất khẩu
hàng năm, Tây Nguyên còn có thể thu thêm được khoảng 1650 tỷ đồng.
Bốn là, hiệu quả sản xuất còn thấp kém. Trong hơn 10 năm qua, năng suất chè
tăng 1,68 lần, cà phê tăng 2,26 lần, cao su tăng 3,6 lần, hồ tiêu tăng 2 lần và hạt điều
chuyển sang thực hiện ngày càng nhiều các biện pháp phi thuế như quy định phẩm cấp
hàng hóa, yêu cầu chất lượng…của các nước nhập khẩu gây rất nhiều khó khăn cho
SXNSXK của các nước xuất khẩu nông sản.
- Các hãng kinh doanh và chế biến nông sản lớn trên thế giới với ưu thế về năng
lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm kinh doanh ngày càng vươn tầm ảnh hưởng ra
thế giới, thực thi các chính sách o ép các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, tranh chiếm
vị thế có lợi nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu của hàng NSXK.
Nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân chủ quan của phát triển thiếu bền vững của lĩnh vực NSXK của
vùng trước hết là do sự yếu kém của nguồn lao động. Sự hạn chế về trình độ dân trí, tập
quán sản xuất lạc hậu, lao động hầu hết chưa được đào tạo, không có thói quen tích lũy,
thiếu sự hiểu biết về kiến thức và kỹ năng kinh doanh… là rào cản cho sự phát triển của
lĩnh vực NSXK hiện nay.
- Nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực NSXK còn hạn chế. Do quy mô sản xuất nhỏ
bé, lợi nhuận thấp, khả năng tái đầu tư thấp trong khi đó khả năng tiếp cận nguồn vốn
tín dụng khó khăn, đầu tư nhà nước chưa đủ mức…hạn chế khả năng ứng dụng khoa
học công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến để nâng cao năng suất và hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
- Khoa học công nghệ chậm phát triển, việc triển khai các thành tựu của khoa
học công nghệ vào sản xuất thiếu đồng bộ và kém hiệu quả. Thiếu sự liên kết giữa các
cơ quan nghiên cứu khoa học với các chủ thể sản xuất kinh doanh, đầu tư cho nghiên
cứu và ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế.
- Cơ sở hạ tầng của sản xuất và chế biến NSXK còn lạc hậu, hệ thống dịch vụ tài
chính, thương mại, thông tin phục vụ lĩnh vực NSXK, sơ chế, chế biến, tồn trữ nông sản
chưa đáp ứng được yêu cầu.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
75
- Công nghiệp chế biến chậm phát triển, chủ yếu là sơ chế. Sản xuất và chế biến
còn có sự tách rời. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, chất lượng thấp và
mô hình sản xuất tiên tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học
công nghệ vào sản xuất. Thúc đẩy tích tụ và tập trung sản xuất để từng bước tiến lên sản
xuất lớn hiện đại.
Thứ năm, mở rộng và đa dạng hóa thị trường, cải thiện khả năng xâm nhập trực
tiếp vào thị trường nước ngoài. Tạo lập chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới.
Tích cực tham gia hợp tác khu vực và toàn cầu trong phát triển NSXK.
Thứ sáu, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết hợp lý vấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
76
đề sở hữu kinh tế; tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực mà trọng tâm là đào tạo
nghề cho nguồn nhân lực nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; kết hợp giữa tăng thu
nhập nhờ tăng hiệu quả sản xuất và các chính sách ưu đãi của nhà nước để ổn định và
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
Thứ bảy, quản lý chặt chẽ đất đai; đổi mới chính sách hạn điền; sử dụng đất đai
hợp lý nhằm bảo vệ đất, bảo vệ rừng và đa dạng sinh học của vùng. Giải quyết dứt điểm
tình trạng phá rừng để làm nương rẫy. Coi bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học là vấn
đề không thể tách rời trong phát triển bền vững NSXK.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cục thống kê Đăk Lăk, Niên giám thống kê tỉnh Đăk Lăk từ 1995 – 2008.
[2] Cục thống kê Đăk Nông, Niên giám thống kê tỉnh Đăk Nông từ 2005-2008
[3] Cục thống kê Gia Lai, Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai 1995-2008
[4] Cục thống kê Kon Tum, Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum từ 1996-2008
[5] Cục thống kê Lâm Đồng, Niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng từ 1995-2008
[6] Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Kon Tum, Báo cáo kết quả sản xuất ngành nông
nghiệp các năm 2005,2006,2007,2008.
[7] Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Gia Lai, Báo cáo kết quả sản xuất ngành nông
nghiệp các năm 2005,2006,2007,2008.